VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ TUYẾT NHUNG
VAI TRÒ CỦA KHOA HOC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ TUYẾT NHUNG
VAI TRÒ CỦA KHOA HOC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & DVLS
Mã số
: 9229002
CAD
Công nghệ kết nối với máy tính
KH&CN
Khoa học và công nghệ
LLSX
Lực lượng sản xuất
ODA
Viện trợ phát triển chính thức
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
WHO
Tổ chức y tế thế giới
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI.................7
1.1. Những công trình bàn về thực trạng và vấn đề đặt ra trong quá trình phát huy
động,trong quá trình ứng dụng các thành tựu KH&CN vào phát triển lực lượng sản
xuất hiện nay...................................................................................................................................... 148
4.4.Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, tham gia quá trình toàn cầu hóa nhằm thu
hút, chuyển giao KH&CN hiện đại, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển..........152
KẾT LUẬN..........................................................................................................162
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ.................................................................. 165
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................166
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khoa học và công nghệ (KH&CN) có vai trò quyết định đối với phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, là phương tiện, mục tiêu và động lực
thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất (LLSX). KH&CN hiện đại làm cho
nǎng suất lao động nâng cao, cơ cấu kinh tế chuyển biến mạnh mẽ, và thay
đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người.
Trong những năm gần đây KH&CN phát triển như vũ bão, đặc biệt sự ra
đời cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với tốc độ rất nhanh, quy mô rất
lớn, tạo ra những thay đổi sâu rộng trong mọi lĩnh vực từ nền sản xuất xã hội
đến cơ cấu lao động và thị trường lao động. Đây là cuộc cách mạng mà máy
móc sẽ thay thế vai trò, vị trí người lao động ở nhiều khâu trong quá trình sản
xuất. Việc ứng dụng những thành tựu KH&CN làm cho trình độ của LLSX
ngày càng cao; người lao động trình độ cao sẽ dần thay thế người lao động
trình độ giản đơn; tư liệu sản xuất hiện đại, thông minh sẽ thay thế cho các tư
liệu sản xuất truyền thống. KH&CN có vai trò đi trước, mở đường, tạo động
lực mạnh mẽ cho sự phát triển của tất cả các yếu tố cấu thành LLSX.
Cuộc cách mạng KH&CN hiện nay - cách mạng công nghiệp lần thứ tư,
là biểu hiện mới về trình độ của LLSX; mặt khác, với tư cách là cuộc cách
người lao động - yếu tố đóng vai trò quyết định trong LLSX ở Việt Nam chưa
đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Biểu hiện ở chất
lượng lao động chưa cao, người lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp;
thiếu các chuyên gia và nhà quản lý giỏi, thiếu đội ngũ công nhân có tay nghề
cao, cơ cấu lao động còn bất hợp lý,... Trong khi đó tư liệu sản xuất Việt Nam
lạc hậu, hàm lượng khoa học chưa cao, việc khai thác và sử dụng còn bất hợp
lý. Sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất nhiều điểm chưa phù
hợp. Những hạn chế trong việc phát huy vai trò của KH&CN đối với phát
triển LLSX khiến cho trình độ của LLSX ở Việt Nam chậm cải thiện, năng
suất lao động ở Việt Nam thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
3
Như vậy, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, KH&CN
có vai trò to lớn đối với sự phát triển của LLSX; việc phát huy vai trò của
KH&CN đối với sự phát triển của LLSX ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề
cấp bách cần giải quyết. Xuất phát từ tình hình đó, chúng tôi quyết định lựa
chọn vấn đề “Vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX ở Việt Nam
hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò
của KH&CN đối với sự phát triển LLSX ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó
đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của KH&CN đối với sự phát
triển LLSX ở Việt Nam trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã đề ra, luận án tập trung thực hiện những nhiệm
vụ sau:
Hệ thống hoá, làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của KH&CN với sự
Về không gian: Nghiên cứu, vận dụng những quan điểm của Đảng về phát
huy vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX trên lãnh thổ Việt
Nam hiện nay.
-
Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu, khảo sát vai trò của KH&CN đối
với phát triển LLSX ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2018.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ trương, đường
lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về KH&CN, về LLSX, vai trò của KH&CN
đối với sự phát triển của LLSX và những vấn đề có liên quan.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, đề tài luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp
cụ thể sau:
Phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp: được sử dụng để thu
thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu của Đảng, Nhà nước ở Trung ương
và các địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của
chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX.
Phương pháp hệ thống: KHCN và LLSX là tập hợp các yếu tố, giữa
chúng có sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau và với môi trường bên ngoài,
tạo nên tính chỉnh thể của hệ thống, đó là những thuộc tính tổng hợp, đặc
trưng cho hệ thống, là phương thức tồn tại của hệ thống.
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: trên cơ sở nghiên cứu các công trình
khoa học trong và ngoài nước liên quan đến vai trò của KH&CN đối với sự
phát triển của LLSX; đề tài luận giải, phân tích, làm rõ những nội dung mà
các công trình khoa học trong, ngoài nước đã đề cập. Từ đó, rút ra những vấn
KH&CN đối với phát triển của LLSX ở Việt Nam trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận, kết quả của Luận án góp phần làm rõ một số vấn đề lý
luận về vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX.
Về mặt thực tiễn, đề tài góp phần làm rõ vai trò của KH&CN đối với
phát triển LLSX ở Việt Nam hiện nay; cung cấp luận cứ khoa học nhằm phát
huy vai trò của KH&CN đối với phát triển của LLSX ở Việt Nam trong thời
gian tới.
6
Kết quả nghiên cứu đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề có liên quan.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương 13 tiết.
7
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Vai trò của KH&CN đối với sự phát triển LLSX ở Việt Nam là một vấn
đề lớn và có tính cấp thiết, vì vậy đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vấn
đề này với quy mô, phạm vi và mức độ khác nhau, tiêu biểu là các tác giả với
những công trình dưới đây.
1.1. Những công trình nghiên cứu lý luận về KH&CN, LLSX và vai
trò của KH&CN đối với sự phát triển LLSX
1.1.1. Những công trình nghiên cứu lý luận về KH&CN
hiện của khoa học dưới dạng máy móc, công cụ, quy trình sản xuất hiện đại.
Tác giả HelgaNowotnty, Peter Scott và Michael Gibbos trong công trình
“Tư duy lại khoa học - Tri thức và công chúng trong thế kỷ bất định” (Nxb
trẻ, Hà Nội, 2009) [62] đặt vấn đề tư duy lại khoa học như nội dung của bản
thân khoa học trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN hiện
nay. Theo các tác giả, những thành tựu khoa học hiện nay cho thấy khoảng
cách giữa khoa học và sản xuất dường như đã bị xóa nhòa; bản thân khoa học
có thể dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong đời sống xã hội và đôi khi chúng
ta cũng không thể lường hết được tương lai của loài người trước sự phát triển
của khoa học.
Công trình “Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Trần Hồng Lưu [88]
không chỉ đề cập đến khoa học với tư cách là kết quả của quá trình nhận thức,
tồn tại dưới dạng lý luận, học thuyết khoa học, mà tác giả còn bàn đến quá
trình vật chất hóa khoa học, tức kỹ thuật - công nghệ và nguồn nhân lực khoa
học - công nghệ.
Công trình “Luận điểm “khoa học trở thành LLSX trực tiếp” của Mác
và sự vận dụng ở nước ta hiện nay” (2011) của Trần Khắc Hiếu [64]. Trong
9
công trình này tác giả nhấn mạnh đến tính đúng đắn của Mác khi Mác nhận
định khoa học trở thành LLSX trực tiếp. Theo tác giả, cuộc cách mạng
KH&CN hiện nay đang chứng minh cho tính đúng đắn nhận định của Mác.
Kế thừa và phát triển những thành tựu mà các nhà nghiên cứu đã đạt
được, Luật KH&CN (2013) [87] đã khái quát: khoa học là một hệ thống tri
thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên,
xã hội và tư duy; công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm
theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực
tuệ nhân tạo, robot, internet kết nối vạn vật, xe tự hành, in 3D, công nghệ
nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu mới. Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là trong lĩnh
vực sản xuất vật chất, đặc biệt là LLSX, làm cho LLSX mang những diện
mạo mới với những công nghệ vượt trội, tạo ra năng suất lao động cao, giải
phóng người lao động khỏi công việc nặng nhọc.
Công trình “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - cuộc cách mạng của
sự hội tụ và tiết kiệm” của tác giả Phan Xuân Dũng (2018) [38] đã khái quát
các cuộc cách mạng công nghiệp mà nhân loại đã trải qua. Theo tác giả cách
mạng KH&CN là khái niệm về một giai đoạn phát sinh nhiều ý tưởng mới
trong các ngành khoa học như vật lý, thiên văn, sinh học, giải phẫu học con
người, hóa học,... dẫn tới sự loại bỏ các học thuyết đã được đưa ra trước đó và
đặt nền móng cho sự ra đời một nền khoa học hiện đại hơn. Cách mạng
KH&CN là giai đoạn mà khi khoảng cách giữa khoa học, kỹ thuật và áp dụng
kết quả của nó vào cuộc sống đã được rút ngắn đáng kể. Theo đó kỹ thuật
biến thành công nghệ. Vì thế, khái niệm cách mạng KH&CN xuất hiện muộn
hơn khái niệm cách mạng khoa học và kỹ thuật. Cách mạng KH&CN mới chỉ
xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (tr.13-14). Theo tác giả, hiện nay
nhân loại đang bước vào cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những công
nghệ nền tảng và công nghệ ứng dụng là: Dữ liệu lớn, điện toán đám mây, các
11
robot có kết nối, internet kết nối vạn vật, công nghệ in 3D, máy móc tự động
hóa, trí tuệ nhân tạo,... Những công nghệ này, một mặt là biểu hiện sự phát
triển của LLSX, mặt khác nó là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của
LLSX và mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Tóm lại, những công trình trên đã làm rõ nhiều vấn đề mang tính lý luận
về chung về KH&CN như: Khái niệm khoa học, khái niệm công nghệ, mối
với nhau.
Công trình “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam”của
Nguyễn Hữu Dũng (2003) [36] đã khái quát một số vấn đề lý luận, thực tiễn
có liên quan đến phát triển và sử dụng nguồn lực lao động, nhân tố quan trọng
nhất cấu thành LLSX. Đồng thời, tác giả giới thiệu kinh nghiệm của Mỹ, Nhật
Bản và Trung Quốc về vấn đề sử dụng nguồn lực con người, từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm phát huy và sử dụng nguồn lực con người với mục đích phát
triển LLSX.
Tác giả Hồ Bá Thâm (2004) trong công trình “Động lực và tạo động lực
phát triển xã hội” [119] đã phân tích nhân tố con người trong LLSX; khẳng
định việc phát huy nhân tố con người với tính cách là yếu tố cấu thành LLSX
bao gồm cả đạo đức, sức khỏe, lợi ích, sức lao động, tri thức, tay nghề và kinh
nghiệm. Người lao động tác động vào tự nhiên và xã hội bằng sức mạnh vật
chất có ý thức, nhưng động lực chi phối bắt nguồn từ các yếu tố cấu thành, vì
vậy phát huy vai trò người lao động trong LLSX cần quan tâm đến các nhân
tố từ thể lực đến trí lực và tâm lực.
Công trình “Về khái niệm LLSX và trình độ của LLSX”, Nguyễn Đức
Luận (2011), [83, 61-68]. Trong công trình này, tác giả đã sử dụng nguồn tư
liệu rất phong phú để phân tích, rút ra khái niệm LLSX và các biểu hiện về
trình độ của LLSX. Theo tác giả, LLSX là khái niệm của chủ nghĩa duy vật
lịch sử dùng để biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất, được tạo thành từ sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu
13
sản xuất trong quá trình chinh phục, cải tạo tự nhiên, thực hiện việc sản xuất
xã hội. Bằng những lập luận thuyết phục, tác giả chỉ ra rằng, trình độ của
LLSX biểu hiện qua các yếu tố cấu thành nó; biểu hiện qua tính chất của nó;
biểu hiện qua sự phân công lao động xã hội và biểu hiện qua việc ứng dụng
-
Nguyễn Tĩnh Gia (1987): Biểu hiện đặc thù của quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam [53] .
-
Hoàng Bình - Lê Văn Dương - Nguyễn Đình Hòa - Trần Ngọc Linh -
Nguyễn Văn Thức (1990): Thực trạng quan hệ sản xuất và LLSX ở Việt Nam
hiện nay [12].
- Trương Hữu Hoàn (1995): Quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với LLSX
và vấn đề nhận thức, vận dụng quy luật này ở một số nước xã hội chủ nghĩa [66].
-
Nguyễn Trọng Tuấn (1996): Nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ phát triển của LLSX trong nông nghiệp ở nước ta
thời kỳ đổi mới [147].
-
Trần Thanh Đức (2002): Nhân tố con người trong LLSX với vấn đề đào tạo
người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
hiện nay (từ thực tiễn đồng bằng sông Cửu long) [51].
-
Chu Tiến Quang (2010):“Về thực hiện mối quan hệ giữa LLSX và quan
hệ sản xuất trong nông nghiệp ở Việt Nam” [104 tr.7 -13].
nhiên, hậu quả tiêu cực ấy xảy ra hay không xảy ra? Đến mức nào? Tùy thuộc
vào ý chí, khả năng con người biết hướng phát triển khoa học, và tiến triển
của đời sống vật chất, tinh thần theo hướng lành mạnh, hợp lý, hợp quy luật tự
nhiên. Tác giả kêu gọi ý thức tự giác của những người làm công tác KH&CN,
nâng cao tinh thần trách nhiệm trước xã hội và đồng loại. Bên cạnh đó nâng
cao ý thức, trình độ hiểu biết của con người, góp phần phát triển KH&CN vì
mục đích chung là phục vụ con người.
Công trình “Quan hệ giữa phát triển KH&CN với phát triển kinh tế xã
hội trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam” của Viện nghiên cứu
chiến lược chính sách KH&CN (1999) [150] đã giải quyết nhiều vấn đề lý
luận về vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX. Theo các tác giả
16
của công trình này, từ nửa sau thế kỷ XX cách mạng khoa học - kỹ thuật bắt
đầu có những điểm mới. Đó là, một cuộc cách mạng chủ yếu về công nghệ,
với sự ra đời của máy tính điện tử thế hệ mới được sử dụng trong mọi lĩnh
vực. Việc áp dụng những công nghệ mới tạo điều kiện phát triển theo chiều
sâu, giảm hẳn tiêu hao năng lượng và nguyên liệu, thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất
phát triển. Cách mạng khoa học - kỹ thuật thế kỷ XX, đột phá vào thế giới vi
mô của vật chất, và vật liệu sống đã mở ra khả năng mới đi vào khai thác các
quy luật vận động của thế giới vi mô. Ngày nay, sản xuất chịu ảnh hưởng của
nhiều ngành khoa học kể cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học
xã hội.
Công trình“Khoa học cơ bản thế kỷ XX đối với một số vấn đề lớn của
triết học” (2000) của Lê Văn Giạng [54], nêu vai trò của khoa học thế kỷ XX
là làm thay đổi hẳn bộ mặt đời sống xã hội, từ ăn, ở, đi lại, đến lao động và
giải trí... đồng thời chỉ ra chính khoa học cũng tạo ra mối đe doạ về môi
trường, về đạo đức và sự tồn tại của con người, khi các thành tựu khoa học bị
tổng hợp cho KH&CN phát triển. KH&CN yếu tố then chốt, quyết định sự
phát triển của LLSX. KH&CN là công cụ đắc lực nhất thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, chỗ dựa cơ bản cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cơ sở
quan trọng để củng cố và hiện đại hóa về an ninh, quốc phòng của quốc gia.
Công trình “KH&CN thế giới thách thức và vận hội mới” do tác giả Tạ
Bá Hưng chủ biên (2005) [74], phân tích vai trò của KH&CN là làm thay đổi
tận gốc LLSX, bắt đầu từ người lao động đến tư liệu sản xuất, và sự thay đổi
nhanh chóng của công cụ lao động góp phần làm nền kinh tế thế giới phát
triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bên cạnh đó, công trình nêu một số thành
tựu KH&CN của các nước trên thế giới như Mỹ, Canađa, Liên minh châu Âu
và Nga,...
Tác giả Nguyễn Kiều Liên trong công trình “Khoa học - kỹ thuật thế kỷ
XX” (2005) [81] hệ thống những thành tựu kỳ diệu mà khoa học kỹ - thuật đạt
được trong thế kỷ XX. Đó là, những thành tựu rực rỡ ở các lĩnh vực như: vật
lý, hóa học, sinh học, y học, CNTT, hàng không, vũ trụ và năng lượng,…
18
Những thành tựu này làm thay đổi cuộc sống vật chất, tinh thần của con
người và mở ra tương lai mới trong lịch sử phát triển của nhân loại.
Công trình “LLSX mới và kinh tế tri thức” của các tác giả Vũ Đình Cự và
Trần Xuân Sầm (2005) [29], đã làm rõ một số xu hướng phát triển của
KH&CN. Công nghệ cao sẽ tạo đột phá như: CNTT - truyền thông, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ năng lượng mới,… nhanh
chóng trở thành cốt lõi của LLSX mới, trong nền sản xuất hiện đại, là bước
biến đổi về chất đối với sự phát triển của thế giới. Trong LLSX, khoa học trở
thành LLSX trực tiếp, lấy tri thức là yếu tố quyết định, lấy con người làm vốn
quan trọng. LLSX mới có tính chất toàn cầu và tính phát triển bền vững, thân
thiện với môi trường.
Nam hiện nay
1.2.1. Những công trình bàn về thực trạng vai trò của KH&CN đối
với sự phát triển của LLSX ở Việt Nam hiện nay
Nhận thức rõ vai trò to lớn của KH&CN đối với sự phát triển của LLSX
ở
Việt Nam, đặc biệt là trong những năm đất nước ta thực hiện đường lối đổi
mới, chính vì vậy có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vấn đề này với
nhiều công trình khác nhau.
Công trình “KH&CN với sự phát triển kinh tế - xã hội” (1989) [72] tác
giả Đặng Hữu đã phân tích tác động của khoa học - kỹ thuật đối với đời sống
xã hội Việt Nam nói chung, LLSX riêng. Theo tác giả, Việt Nam là nước mà
nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển; chúng ta chưa thực sự
phát huy được vai trò to lớn của KH&CN trong quá trình phát triển LLSX và
các lĩnh vực của đời sống xã hội; sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng
KH&CN đang mở ra cơ hội rất lớn để chúng ta khắc phục được tình trạng
nghèo nàn, lạc hậu.
Công trình “Quan hệ giữa phát triển KH&CN với phát triển kinh tế - xã
hội trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam” của Viện nghiên cứu
20
chiến lược chính sách KH&CN (1999) [150] chỉ ra rằng, từ nửa sau thế kỷ
AX cách
mạng khoa học - kỹ thuật bắt đầu có những điểm mới. Đó là, một cuộc
cách mạng chủ yếu về công nghệ, với sự ra đời của máy tính điện tử thế hệ
mới được sử dụng trong mọi lĩnh vực. Việc áp dụng những công nghệ mới ở