TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
--------------------------
LÊ THỊ THÚY
VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC NHẰM THÚC ĐẨY
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ HỒNG LOAN
HÀ NỘI - 2013
Lê Thị Thúy
K35 - Giáo dục công dân
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của khóa luận, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo - TS. Trần Thị Hồng Loan - Người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như trong quá trình
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban
chủ nhiệm khoa và các thầy, cô trong khoa Giáo dục chính trị - Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt bài khóa
luận này.
Lê Thị Thúy
K35 - Giáo dục công dân
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
LLSX
: Lực lượng sản xuất
NNL
: Nguồn nhân lực
Lê Thị Thúy
K35 - Giáo dục công dân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT .......................................................................... 6
1.1. Một số khái niệm cơ bản...................................................................... 6
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ, các thành tựu của nó ngày càng đóng vai trò to
lớn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khoa học và công nghệ có mặt ở
hầu hết các quy trình, công đoạn, các bộ phận của quá trình sản xuất và thực
sự đã làm lực lượng sản xuất có sự thay đổi lớn về chất. Chính các thành tựu
của khoa học và công nghệ đã làm thay đổi các yếu tố cấu thành của lực
lượng sản xuất, làm thay đổi vị trí, vai trò của người lao động trong lực lượng
sản xuất.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại đòi hỏi người lao động phải
không ngừng trang bị những tri thức khoa học mới, những kỹ năng nghề
nghiệp cao hơn để làm chủ được các phương tiện máy móc và trang bị của
quá trình sản xuất.
Thực tế ở Việt Nam cũng như ở các nước khác, muốn phát triển kinh tế xã hội đạt được sự tăng trưởng nhanh và bền vững thì trước hết phải có chiến
lược phát triển nguồn nhân lực.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra một loạt các chính
sách phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là vấn đề nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, và đã thu được nhiều thành công đáng khích lệ như về công tác
nâng cao sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người
lao động - bộ phận nòng cốt sản xuất ra giá trị cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, Việt Nam chúng ta thoát khỏi chế độ phong kiến nửa thuộc
địa, lại bị kìm hãm bởi hơn 30 năm chiến tranh nên hiện nay ở nước ta thực
trạng nguồn nhân lực vẫn còn tồn tại nhiều bất cập về số lượng, về chất
lượng,… như trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tới 70% lao động sản xuất xã
Lê Thị Thúy
1
K35 - Giáo dục công dân
2
K35 - Giáo dục công dân
TS. Nguyễn Thế Nghĩa, Đoàn Văn Khái đã có những nghiên cứu về yếu
tố con người trong lực lượng sản xuất và việc phát huy nó ở Việt Nam hiện
nay; tác động của yếu tố thời đại đến sự phát triển của lực lượng sản xuất
“Nguồn nhân lực - Động lực của CNH, HĐH” của tác giả Nguyễn Thế Nghĩa,
Tạp chí triết học, số 1, tháng 2 - 1996; Nguồn lực con người - yếu tố quyết
định sự nghiệp CNH, HĐH đất nước của Đoàn Văn Khái, Nxb Lý luận chính
trị, 1995).
Một số ẩn phẩm dưới dạng sách tham khảo như: Vấn đề con người trong
sự nghiệp CNH, HĐH của Phạm Minh Hạc (Chủ biên), NXb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996. Đây là một công trình lớn về vấn đề con người và phát triển
con người ở nước ta. Tập thể tác giả đã đề cập một cách khái quát, phân tích lý
giải một cách khá sâu sắc vấn đề con người với sự nghiệp CNH, HĐH dưới góc
độ xã hội học. Công trình Về động lực phát triển kinh tế - xã hội của GS.TS. Lê
Hữu Tầng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 đã đưa ra và lý giải các tác
động của sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn
nhân lực với tư cách là động lực của sự phát triển.
Ngoài ra, còn có những ấn phẩm đề cập đến kinh nghiệm về quản lý và
phát triển nguồn nhân lực của một số nước có ý nghĩa tham khảo đối với Việt
Nam như: Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước
ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 của Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm;
Chiến lược con người trong thần kỳ Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1996 của Lưu Ngọc Trinh.
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ cả về
lý luận và thực tiễn như: Vai trò của nguồn nhân lực trong LLSX, nhất là
Chí Minh về con người; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát
triển nguồn nhân lực.
* Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp: Phân tích và tổng hợp, logic và
lịch sử, khái quát hóa và trừu tượng hóa,… trên cơ sở phương pháp luận biện
chứng duy vật.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Lê Thị Thúy
4
K35 - Giáo dục công dân
Nghiên cứu nguồn nhân lực trong mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau với
lực lượng sản xuất.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiến hành khảo sát từ những năm cuối
thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa của đề tài của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài, trước hết có ý nghĩa thiết thực đối với bản thân
tác giả trong việc củng cố kiến thức, tiếp cận vấn đề con người dưới góc độ
triết học, làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
Khóa luận đã làm rõ được vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng
sản xuất, nêu được thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện
nay. Qua đó, đề ra được một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của khóa luận
nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực
tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.
Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể
lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,…) mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn lực con
người được coi như là một nguồn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài
nguyên thiên nhiên,…
Ở trong nước cũng có nhiều nhà khoa học định nghĩa về nguồn nhân lực
như: GS. Nguyễn Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm
Lê Thị Thúy
6
K35 - Giáo dục công dân
năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động
được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia vào một công
việc lao động nào đó” [11, tr.269]. TS. Nguyễn Thanh xác định: “Nguồn
nhân lực đó là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể
hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải
tạo xã hội” [28, tr.70].
Nói đến nguồn nhân lực (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên người),
tức là nói đến con người - chủ thể đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định: “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của phát triển xã hội,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững,… Con người và nguồn nhân lực là
nhân tố quyết định phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa,…” [8, tr.112].
Như vậy, về khái niệm nguồn nhân lực ta có thể hiểu ở hai phương
diện sau:
người đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển
và tiến bộ xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân
lực, với tư cách vừa là khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt
động kinh tế và các quan hệ xã hội. “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm
tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong
cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực” [25, tr.16]. Nói cách
khác, nó là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ
thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội,… của nguồn nhân lực. Trong
đó trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá,
phân loại chất lượng nguồn nhân lực.
+ Trí lực là toàn bộ năng lực của trí tuệ, tinh thần, quyết định phần lớn
khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan
trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi “tất cả những gì thúc đẩy con
người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ”. Khai thác và phát
huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy
Lê Thị Thúy
8
K35 - Giáo dục công dân
nguồn lực con người. Trí lực quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con
người, là yếu tố ngày càng có vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn
nhân lực, đặc biệt là trong thời đại khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại
do chính bàn tay, khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang
chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình.
nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức
năng xã hội, nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn xã
hội. Do vậy, phát triển chất lượng nguồn nhân lực, ngoài việc quan tâm nâng
cao mặt bằng và đỉnh cao dân trí, tới việc bồi dưỡng và nâng cao sức khoẻ
cho mỗi con người, cho cộng đồng xã hội, chúng ta phải đặc biệt coi trọng
việc xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho con người.
Như vậy, cấu thành chất lượng nguồn nhân lực xét từ phương diện cá
thể, đó là tổng hợp các năng lực và giá trị về trí lực, thể lực và những phẩm
chất tinh thần. Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trước hết
phải phát triển cá nhân con người, tức là phải đầu tư chăm lo cho sự phát triển
về trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, tinh thần của từng con người, từng thế hệ.
1.1.1.3. Kết cấu của nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực bao gồm lao động đang tham gia hoạt động kinh tế và
nguồn nhân lực dự trữ:
*Lao động đang tham gia hoạt động kinh tế
Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế (hay còn gọi là dân số hoạt
động kinh tế) là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có
công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội.
* Nguồn nhân lực dự trữ
Nguồn nhân lực dự trữ là những người nằm trong độ tuổi lao động
nhưng vì lý do nào đó chưa tham gia hoạt động kinh tế. Số người này đóng
vai trò của một nguồn dự trữ về nhân lực cho xã hội. Bao gồm:
- Những người làm công việc nội trợ gia đình.
- Những người đang tham gia học tập bao gồm những người trong độ
tuổi lao động nhưng đang trong thời gian học tập tại các trường phổ thông,
Đại học, Cao đẳng, các trường Trung học chuyên nghiệp và những người
đang trong thời gian tham gia học nghề.
Lê Thị Thúy
dân
lượng nguồn nhân lực, nhân tố quyết định tới quá trình sản xuất xã hội.
Tuy nhiên, các biến đổi xã hội cũng có nhiều mặt tiêu cực của nó, những
biến đổi không có lợi đến môi trường sống, môi trường tự nhiên gây ô nhiễm,
Lê Thị Thúy
dân
11
K35 - Giáo dục công
làm tăng bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động cũng như chất
lượng cuộc sống người lao động.
* Thứ hai, tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho con người
của xã hội
Như chúng ta đã biết, sức khỏe là vốn quý của mỗi con người. Tình trạng
sức khỏe có liên quan trực tiếp tới khả năng lao động cũng như năng suất của
người lao động. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của con người;
trong đó, chế độ dinh dưỡng cũng như sự phát triển của các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe cho người dân giữ vị trí quan trọng. Ngoài thể trạng từ lúc được sinh
ra là nền móng ban đầu thì chế độ dinh dưỡng trong suốt quãng đời là nhân tố
quyết định đến thể lực. Ăn uống hợp lý, đầy đủ không chỉ giúp con người ta
có sức khỏe tốt mà khả năng phòng ngừa bệnh tật cũng được nâng lên. Bên
cạnh đó, dinh dưỡng đảm bảm là điều kiện không thể thiếu để phát triển trí
não, thuận lợi cho học tập cũng như cho công việc. Qua đây, ta cũng có thể
thấy được chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng nguồn nhân
lực. Và thực tế trên thế giới hiện nay, với bất cứ quốc gia nào đều quan tâm
tới vấn đề dinh dưỡng và xem như là chiến lược trọng điểm của các quốc gia.
Đi đôi với chế độ dinh dưỡng, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người dân
nói chung và người lao động nói riêng cũng đóng vai trò không kém phần
được tỷ suất lợi nhuận hoàn trả của giáo dục sau đầu tư, giáo dục góp phần
vào tăng trưởng kinh tế thông qua cả tăng năng suất lao động của mỗi cá nhân
nhờ nâng cao trình độ và quan điểm của họ lẫn tích luỹ kiến thức. Vai trò của
giáo dục có thể được đánh giá qua tác động của nó đối với năng suất lao động
được tính toán bằng so sánh sự khác biệt giữa sản phẩm của một cá nhân làm
ra trong cùng một đơn vị thời gian trước và sau khi cá nhân đó được học một
khoá đào tạo với chi phí cho khoá đào tạo đó. Kết quả này được gọi là tỷ suất
lợi nhuận xã hội khi đầu tư vào giáo dục. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh
tỷ suất lợi nhuận của giáo dục rất cao ở những nước có thu nhập vừa và thấp.
Mối liên hệ giữa nguồn vốn nhân lực với các nguồn vốn vật chất được
thể hiện qua các thuyết tăng trưởng kinh tế; theo đó, ta có trữ lượng vốn
nhân lực tăng lên làm tăng giá trị lợi tức của máy móc, trữ lượng vốn vật
chất tăng lại làm hiệu quả đầu tư vào giáo dục tăng và đầu tư chung nếu
Lê Thị Thúy
dân
13
K35 - Giáo dục công
không có sự hỗ trợ của giáo dục chỉ đóng vai trò không lớn đối với tăng
trưởng kinh tế.
Không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến việc nâng cao trình độ văn hóa,
trình độ chuyên môn kỹ thuật,… của người lao động mà việc phát triển giáo
dục còn có tác động lan tỏa sang các yếu tố khác nằm trong phạm vi các yếu
tố có tác động đến chất lượng nguồn nhân lực.
Phát triển giáo dục và đào tạo có tác động tích cực tới chất lượng dinh
dưỡng và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhờ có hiểu biết và trình độ mà người
lao động biết để tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe của bản thân, bảo vệ mình
nguồn nhân lực chúng ta phải xét đến vai trò ảnh hưởng của thị trường lao
động cũng giống như là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp.
* Thứ năm, các chính sách của Nhà nước về nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực
Bên cạnh những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực như
chúng ta đã phân tích ở trên thì các chính sách của Đảng và Nhà nước cũng có
tác động đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trước yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì mỗi quốc gia phải xây dựng cho
mình những chiến lược hợp lý nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Việc đề ra các chính sách để cụ thể hóa mục tiêu của chiến lược quyết định
đến việc có thực hiện được mục tiêu đó hay không? Bởi thế chất lượng nguồn
nhân lực phụ thuộc nhiều vào các chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực. Nhà nước hoạch định các chính sách tạo môi trường pháp lý cho phát
triển hệ thống giáo dục, đào tạo cả chiều rộng và chiều sâu. Hệ thống các
chính sách xã hội đúng đắn vì mục tiêu của con người sẽ là động lực to lớn
phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội. Cơ chế, chính sách phải nhằm phát huy nhân tố con người
trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân;
kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và
tinh thần. Cơ chế, chính sách phải theo hướng tạo mở, thúc đẩy và kích thích
người lao động, doanh nghiệp, Nhà nước và toàn xã hội chăm lo đến chất
lượng nguồn nhân lực. Có như vậy, người lao động mới phát huy được khả
năng trí tuệ của bản thân để đóng góp cho xã hội và qua đó, chất lượng nguồn
Lê Thị Thúy
dân
15
K35 - Giáo dục công
dân
16
K35 - Giáo dục công
vật, hiện tượng, đồng thời cải biến những công cụ, phương tiện tác động vào
tự nhiên. Nhờ đó, con người không ngừng tạo ra các lực lượng sản xuất ngày
càng lớn mạnh.
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, Mác viết:
“Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ
nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ
sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định
của các lực lượng sản xuất vật chất của họ,… Phương thức sản xuất đời sống
vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói
chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại,
tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [23, tr.14-15].
Đồng thời trong quá trình luận giải những vấn đề nêu trên, Mác là người
đầu tiên có công xây dựng nội dung khoa học của khái niệm lực lượng sản xuất.
Theo Mác, lực lượng sản xuất là: “Biểu hiện mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất. Lực lượng sản xuất thể
hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật
chất” [7, tr.351].
1.1.2.2. Kết cấu của lực lượng sản xuất
* Người lao động
Nhân tố đầu tiên của LLSX chính là người lao động - yếu tố giữ vị trí
hàng đầu, chủ yếu của LLSX. Nói đến người lao động trong lực lượng sản
xuất không phải chỉ nói đến kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm mà còn phải nói
đến đó là người lao động có thể lực cường tráng, khỏe mạnh, có năng lực lao
công bằng đá, bằng đồng, bằng sắt, con người tiến tới chế tạo máy móc với kĩ
thuật mới, công nghệ mới. Trên cơ sở vận dụng những thành tựu mới nhất của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, ngày nay con người bước những bước
kỳ diệu trong việc chinh phục tự nhiên. Cũng chính sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật sản xuất đòi hỏi lao động của con người trở thành lao động có trí tuệ
và lao động trí tuệ. Mà trí tuệ con người không phải là cái gì siêu nhiên, nó là
sản phẩm tự nhiên của lao động. Trí tuệ hình thành và phát triển cùng với lao
động làm cho sản phẩm của lao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao. Do
đó, người lao động cần phải được tăng cường tri thức trên mọi lĩnh vực.
Lê Thị Thúy
dân
18
K35 - Giáo dục công
* Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là tất cả những điều kiện vật chất cần thiết cho con
người khi sản xuất.
Theo Mác, tư liệu sản xuất được chia thành: Đối tượng lao động và tư
liệu lao động:
- Đối tượng lao động là “những sản phẩm có sẵn của giới tự nhiên như
đất đai, sông ngòi, biển, khoáng sản, hải sản,… mà con người tác động vào”,
“là những sản phẩm có nguồn gốc trong tự nhiên được con người chế tạo như
sợi tổng hợp, hóa chất, chất hợp kim, các loại nguyên liệu, vật liệu và cây,
con mới” [22, tr.28]. Những loại sản phẩm này không thể chuyển hóa từ cái tự
nó thành cái cho con người và vì con người nếu không có sự tác động và vai
trò sáng tạo của con người. Chính bằng lao động sáng tạo của mình, con
người đã khai thác, sử dụng có hiệu quả những sản phẩm có sẵn trong tự
nhiên, đồng thời tạo ra những đối tượng mới có nguồn gốc trong tự nhiên.
đánh dấu bằng những mốc quan trọng trong sự phát triển của LLSX, trước hết
là công cụ lao động. Thời trung cổ, công cụ lao động giản đơn, thô sơ lạc hậu.
Ngày nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều
công cụ lao động phát triển thành hệ thống thiết bị tự động và ngày càng phát
triển. Người lao động dần tách khỏi quá trình sản xuất trực tiếp, đóng vai trò
kiểm tra, điều hành sự vận động của hệ thống tự động.
Về các phương tiện sản xuất, kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống dịch vụ,
đường sá, cầu cống, bến bãi, nhà kho, thông tin,… Những yếu tố này không
trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng nó có ảnh hưởng lớn tới giá trị sản phẩm, đến
sản xuất, nó là yếu tố nội sinh của quá trình sản xuất góp phần tạo ra giá trị
mới. Sản phẩm làm ra chính nhờ các phương tiện sản xuất, kết cấu hạ tầng
như trên mà có thể tăng hoặc giảm giá trị sản phẩm, lưu thông, tiêu thụ,…
Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay thì
LLSX không chỉ bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất mà còn có cả
yếu tố khoa học và công nghệ hiện đại.
* Khoa học và công nghệ
Lực lượng sản xuất không phải là số cộng giản đơn của yếu tố người và
yếu tố vật mà chính là phương thức tác động, kết hợp giữa các yếu tố tạo
thành lực lượng sản xuất. Khoa học không phải là một yếu tố riêng biệt trong
Lê Thị Thúy
dân
20
K35 - Giáo dục công