ĐẶT VẤN ĐỀ
Thành quả phát triển kinh tế- xã hội của các nước trên thế giới (kể cả
các nước tiên tiến hay đang phát triển) đều phản ánh rõ vai trò to lớn của khoa
học công nghệ khi nó được đặt vào vị trí trung tâm của sự quan tâm trong
chiến lược phát triển kinh tế. Tiến bộ khoa học của nhân loại đang ngày càng
thúc đẩy lực lượng sản xuất ngày một lớn mạnh và nguồn của cải vật chất,
tinh thần của nhân loại ngày thêm phong phú, sung túc.
Nước ta, một nước đi ra từ cuộc chiến tranh khốc liệt, tiềm lực kinh tế
mỏng manh nghèo nàn lạc hậu, trình độ khoa học kỹ thuật chậm phát triển thì
con đường đi đến sự phồn vinh của dân tộc không có con đường nào khác là
con đường công nghiệp hóa- hiện đại hoá đất nước. Vì vậy trong chiến lược
phát triển đất nước Đảng ta, Nhà nước ta đã và đang quan tâm sâu sắc đến sự
phát triển khoa học, coi sự phát triển khoa học và công nghệ là một trong hai
quốc sách hàng đầu ( giáo dục- đào tạo và khoa học- công nghệ) và khoa học
và công nghệ được coi là nền tảng, động lực của con đường công nghiệp hóahiện đại hoá đất nước. Chủ trương đó được thể hiện qua nhiều quyết sách của
các kỳ đại hội Đảng và được thể hiện rõ nhất trong chiến lược phát triển khoa
học và công nghệ đến năm 2010- 2020. Trước khi đi vào nội dung của các chủ
trương chính sách của Đẩng chúng ta xem xét vai trò của khoa học và công
nghệ trong phát triển kinh tế- xã hội nói chung.
I. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
I.1 Tác động của khoa học và công nghệ đến sự phát triển kinh tếxã hội
Từ rất xưa sự phát triển tăng trưởng kinh tế của xã hội chủ yếu dựa vào
nguồn lợi tự nhiên như tài nguyên, sức lao động của con người. Sự tăng
trưởng kinh tế thường được nhận thức dựa vào các yếu tố là đất đai, lao động
15
và vốn. Dần dần về sau này trong sự tăng trưởng kinh tế có sự đóng góp của
các thành tựu tiến bộ công nghệ và yếu tố công nghệ cũng từ đó được tách
4
nghệ
68
Đức
32
10
68
Nhật
40
5
55
Anh
32
5
63
tranh. Tiến bộ khoa học và công nghệ được coi là chìa khoá, là vũ khí để
chiến thắng mọi cạnh tranh và các bí quyết công nghệ, các chuyên gia khoa
học và công nghệ giỏi được các hãng sản xuất bảo vệ, giữ gìn như bảo vệ con
ngươi của mắt mình. Trong số các tiêu chí thể hiện sức mạnh, trình độ phát
triển cũng như tính bền vững của sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia
đã có mặt tiêu chí về tiềm lực khoa học công nghệ như số lượng, cơ cấu, trình
độ của đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trên một vạn dân.
15
Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay
sự xuất hiện một số sản phẩm mới, một ngành công nghiệp mới bao giờ cũng
gắn liền với các nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ; bất cứ sự tăng
trưởng kinh tế nào cũng phải gắn liền với sự đổi mới phát triển công nghệ.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu mà mọi quốc gia đều phải
trải qua để phát triển khoa học và công nghệ và chính nó sẽ quyết định lợi thế
cạnh tranh của các quốc gia. Chính vì vậy mà khi đặt mục tiêu phát triển kinh
tế câu hỏi đi liền với nó là bằng phương tiện gì để đạt được mục tiêu?. Câu trả
lời là đổi mới và phát triển khoa học công nghệ. Đây là phương thức nhanh
nhất để đạt được mục tiêu đề ra. Mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội càng cao
thì nhu cầu về công nghệ càng lớn. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng một mặt
phát triển công nghệ sản xuất ra sản phẩm dịch vụ có trình độ chế biến cao và
do vậy có giá trị cao nhưng mặt khác việc áp dụng công nghệ trong sản xuất,
khai thác, chế biến có thể gây tổn hại tới môi trường sinh thái (ô nhiễm môi
trường, sự cố môi trường), đe doạ chính sự phát triển lâu dài của các hoạt
động kinh tế và đời sống xã hội như nhiều nước trên thế giới đang mắc phải.
15
15
vững. Những biến động xấu của kinh tế , ví dụ, của một loạt nước trong khối
Asian trong mấy năm vừa qua đã được lý giải khác nhau trong đó có cả cách
lý giải do thiếu nền tảng công nghệ vững chắc cho sự phát triển.
Do vậy có thể nói, trình độ phát triển khoa học công nghệ của một quốc
gia là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, là lực lượng sản
xuất và động lực phát triển của xã hội đó. Tuy nhiên khoa học công nghệ
không nên nhìn nhận như là “đầu vào” (imput) dưới dạng máy móc, thiết bị,
tri thức, bí quyết… như trước đây mà phải hiểu nó như một nội dung chủ yếu
của quá trình tái sản xuất biểu hiện như là lực lượng sản xuất trực tiếp. Trung
Quốc đã coi khoa học công nghệ là lực lượng sản xuất hàng đầu, là lực lượng
sản xuất chủ yếu trong mọi lĩnh vực. Nước ta cũng xác định khoa học và công
nghệ là động lực của quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đây
chính là sự thay đổi cốt lõi của mối quan hệ khoa học và công nghệ với phát
triển kinh tế- xã hội. Khoa học và công nghệ từ chỗ được nhìn nhận như là
yếu tố bên ngoài, là đầu vào cho hoạt động kinh tế thì nay được xác định là
yếu tố bên trong, là lực lượng sản xuất quan trọng cấu thành nên nền sản xuất
xã hội- nền kinh tế của một quốc gia.
I.2. Cơ chế tác động của khoa học và công nghệ tới sự phát triển
kinh tế- xã hội
Người ta đã tổng kết và khái
quát
tác động
của hoạt động khoa học
Năng
lựchóa
Sự tác động kinh tế- xã hội, về phần mình, lại tạo ra những nhu cầu về
Năng lực cạnh tranh
phát triển khoa học và công nghệ, tác động lôi kéo các hoạt động khoa học
công nghệ vận động theo nguyên lý, quy luật của cơ chế thị trường. Ở phương
Cơ cấu lại kinh tế
diện tác động này người ta nói rằng đó là tác động lôi kéo của nhu cầu thị
trường đối với hoạt động công nghệ. Sơ đồ nêu trên có thể được mở rộng có
cao năng
tính đến cả tác động thúc đẩy và lôi Năng
kéo tương
tác lẫn nhau cũng như những
suất, hiệu quả nền
Hoạt
Phát triển KH
tác nhân
tácđộng
động từ nền kinh tế thế giớikinh
và khu
tế vực (cơ hội và thách thức)
KHCN
- XH
như sơ đồ sau:
Đảm bảo tăng
trưởng kinh tế
15
Đặc trưng của hình thức tiến hoá tiến bộ KHKT là trong các giai đoạn
lịch sử khác nhau tuy có cùng sử dụng một nguyên tắc KH- KT nhưng ở giai
đoạn sau thì sự phát triển của nó sâu sắc hơn so với giai đoạn trước. Khi
nguyên tắc đó đã được khai thác triệt để thì phải chuyển sang nguyên tắc khác
tiến bộ hơn. Quá trình chuyển đổi như vậy được gọi là hình thức cách mạng
trong KH- KT. Ví dụ về hình thức cách mạng đó có thể là cuộc cách mạng
công nghiệp xảy ra vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khi thành tựu khám phá
của khoa học tự nhiên đã dẫn đến một cuộc cách mạng trong công nghệ mang
lại những ứng dụng to lớn trong sản xuất, kinh doanh; làm thay đổi mang tính
cách mạng đời sống kinh tế và đời sống xã hội. Đó là sự khám phá cấu trúc
bên trong của vật chất và tổng thể vũ trụ. Khoa học vật lý đã đi sâu vào tầng
thứ 5 của vật chất: phân tử, nguyên tử, hạt nhân và điện tử, proton và neutron,
hạt quark và hạt perton. Những thành tựu này được áp dụng trong phát triển
công nghệ tạo ra công nghiệp bán dẫn, đồng vị phóng xạ, laze…, hiện đang
được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế, hay đó là
những khám phá mới về trạng thái sống trong các bộ môn khoa học: tế bào, di
truyền học, sinh hoá học, vi sinh học, vi rút học dẫn đến sự ra đời của kỹ thuật
mới: kỹ thuật tạo gien, nuôi cấy tế bào, nuôi cấy mô đang làm thay đổi ghê
gớm quá trình công nghệ sản xuất trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
và y học…. Hai hình thức tiến bộ đó của khoa học có sự gắn bó hữu cơ với
nhau trong hoạt động kinh tế.
Mối liên hệ đó cho phép rút ra kết luận rằng, để tăng cường kinh tế một
cách bền vững và có hiệu quả, các quốc gia đều cần tới ít ra 3 loại hình hoạt
động khoa học và công nghệ:
- Nghiên cứu cơ bản
- Nghiên cứu thử nghiệm
khả năng thực tế mà tiến bộ khoa học có thể mang lại. Sự tiến bộ của khoa
học công nghệ tạo đã điều kiện để con người tác động mạnh mẽ vào thế giới
tự nhiên và môi trường, nhưng nhiều khi sự can thiệp một cách quá thái, thô
bạo của con người đe dọa đến sự phát triển bền vững môi trường sống Trái
đất. Bởi vậy, bên cạnh phát triển kinh tế xã hội để thoã mãn nhu cầu hiện tại
15
cũng cần phải có sự định hướng phát triển khoa học công nghệ để không làm
phương hại đến việc thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tiếp theo.
Tóm lại, khoa học công nghệ có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh
tế- xã hội.
Nhờ đó mà cuộc sống nhân loại ngày càng tiến bộ, phồn vinh. Nước ta
đang trên con đường xây dựng đất nước xuất phát từ nền kinh tế lạc hậu. Bởi
vậy muốn cho nền kinh tế nước nhà phát triển vững mạnh Đảng và Nhà nước
ta đang thực hiện nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển khoa học và
công nghệ.
II. CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CHO CÔNG
NGHIỆP HOÁ- HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC
II.1. Thực trạng khoa học công nghệ sau hai mươi năm đổi mới
II.1.1. Thành tựu
a. Tiềm lực khoa học
Cho đến nay chúng ta có đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học
tương đối đông đảo với trên 1,3 triệu người có trình độ đại học và cao đẳng;
trên 30 nghìn cán bộ trên đại học trong đó hơn một nửa là tiến sỹ khoa học và
khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật. Thực tế cho thấy đội ngũ này có khả
năng tiếp thu tương đối nhanh và làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại
trên một số ngành và lĩnh vực quan trọng.
công nghệ trong nhiều lĩnh vực chuyên môn; chăm sóc sức khoẻ các tầng lớp
nhân dân; bảo vệ môi trường; giữ gìn bản sắc và phát huy truyền thống văn
hoá tốt đẹp của dân tộc.
c. Cơ chế quản lý khoa học từng bước được đổi mới
Hệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được tổ
chức từ trung ương đến địa phương. Các chương trình, đề tài, dự án khoa học
và công nghệ đã bám sát hơn các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Cơ chế
tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học công nghệ đã đi theo
nguyên tắc dân chủ, công khai. Quyền chủ động của các tổ chức và cá nhân
trong hoạt động khoa học công nghệ đã được tăng cường.
15
II.1. 2. Những yếu kém
a. Trình độ của nhiều ngành sản xuất còn thấp và lạc hậu
So với trình độ công nghệ của các nước trên thế giới và trong khu vực
thì như dự thảo của văn kiện đại hội IX của Đảng ta (tháng7/2000) đã nhận
xét là “ Trình độ công nghệ của nước ta còn thấp so với các nước xung quanh,
trình độ công nghệ của các ngành sản xuất hiện nay nhìn chung còn lạc hậu,
năng suất lao động và chất lượng sản phẩm rất thấp, trừ một số lĩnh vực: viễn
thông, dầu khí, lắp ráp ô tô, hàng điện tử tiêu dùng….Phần lớn thiết bị còn lại
lạc hậu so với thế giới đến 2- 3 thế hệ”. Mức tự động hoá trong nền kinh tế
quốc dân rất hạn chế. Trình độ công nghiệp chậm được đổi mới trong nhiều
ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý; sản phẩm nghiên cứu khoa
học và công nghệ chưa nhiều, tỷ lệ ứng dụng vào sản xuất và đời sống chưa
cao.
b. Năng lực khoa học và công nghệ còn yếu kém
Trong đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ còn thiếu cán bộ
giỏi và đầu đàn. Cơ cấu ngành nghề và phân bố còn nhiều bất hợp lý. Tình
phát triển khoa học và công nghệ, coi khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu, là nền tảng và động lực cho quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá
đất nước, chóng đưa nước ta thoát khỏi tình trạng yếu kém. Chủ trương chính
sách này đã được quán triệt trong văn kiện của nhiều lần đại hội Đảng, từ đại
hội khoá IV cho đến khoá X. Nhưng có lẽ mốc thời gian quan trọng nhất là
khi nghị quyết TƯ 2 khoá VIII (năm1996) thông qua chiến lược phát triển
kinh tế đến năm 2000. Một loạt các văn kiện, chính sách tiếp theo như : Luật
khoa học và công nghệ (năm 2000); nghị quyết TW 6 khoá IX (năm2002);
quyết định 72/2003/QĐ- TTg của Thủ tướng chính phủ và các quyết định
khác của Thủ tướng chính phủ, của Bộ Khoa học và Công nghệ và liên Bộ
trong các năm 2003, 2004, 2005 đều nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển
nền khoa học và công nghệ nước nhà.
II.2.1. Tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, đảm bảo dân chủ
trong KH&CN
Nhà nước tạo điều kiện và đảm bảo môi trường dân chủ, sáng tạo cho
các hoạt động nghiên cứu, trao đổi học thuật trong các lĩnh vực khoa học-
15
nhân văn. Thực hiện nghiêm túc và đầy đủ cơ chế tham khảo ý kiến của các
nhà khoa học đối với chủ trương, chính sách, dự án đầu tư phát triển kinh tếxã hội. Khuyến khích và bảo hộ mọi nỗ lực của doanh nghiệp, trường học,
viện nghiên cứu và cá nhân được nghiên cứu và phát triển khoa học công
nghệ theo mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
II. 2.2. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
a. Quản lý nhà nước về KH&CN
-
Tổ chức lại hệ thống quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN
c. Quản lý các tổ chức KH&CN
-
Khuyến khích mọi tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
đầu tư phát triển KH&CN.
-
Đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức
KH&CN, nhằm phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức
KH&CN phù hợp vơí thị trường.
15
-
Tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của
các trường đại học. Đẩy mạnh liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất
kinh doanh.
d. Cơ chế, chính sách tài chính
-
Cải tiến chế độ tài chính trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN
theo hướng tạo quyền tự chủ tài chính cho các tổ chức KH&CN.
-
bộ KH&CN là tài sản quý và là nguồn động lực quan trọng để thực hiện thành
công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
-
Phát huy và nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ KH&CN:
về tinh thần yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hoài bão và lòng say mê
khoa học, tinh thần hợp tác nghiên cứu.
15
-
Tạo động lực vật chất và tinh thần mạnh mẽ cho các cá nhân hoạt
động KH&CN, có chính sách lương thoả đáng với cán bộ nghiên cứu triển
khai; có chế độ thưởng cao đối với các công trình có giá trị, có chế độ phụ cấp
thoả đáng cho cán bộ nghiên cứu làm việc ở vùng sâu, vùng xa; trọng dụng và
tôn vinh nhân tài, có chính sách sử dụng cán bộ KH&CN đã đến tuổi nghỉ hưu
nhưng còn sức khoẻ và có chuyên môn cao.
-
Đẩy mạnh việc gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài
II.3.2. Phát triển hệ thống thông tin quốc gia về KH&CN
-
Đầu tư, nâng cấp, hiện đại hoá các cơ sở thông tin KH&CN hiện
việc, các chuyên gia nước ngoài có trình độ cao đến Việt Nam nghiên cứu và
giảng dạy và cố vấn cho các hoạt động quản lý hoặc đảm đương các vị trí
quản lý KH&CN trong nước.
KẾT LUẬN
15
Thách thức lớn nhất trong phát triển kinh tế- xã hội của nước ta hiện
nay là sự yếu kém về hiệu quả của nền kinh tế, sức mạnh cạnh tranh của hàng
hoá trên thị trường nội địa và xuất khẩu, chất lượng đội ngũ nhân lực còn bất
cập; tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới gặp những khó khăn to lớn.
Những thách thức đó sẽ cản trở sự thành công của quá trình CNH- HĐH đất
nước.
Yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước đối với KH&CN
cũng như yêu cầu phát triển của chính nền KH&CN nước ta trong giai đoạn
CNH- HĐH là rất gay gắt. Để thực sự trở thành nền tảng và động lực cho
CNH- HĐH đất nước, KH&CN nước ta phải được phát triển nhanh chóng, đạt
ngang mức trung bình tiên tiến của các nước trong khu vực. Đây là một nhiệm
vụ nặng nề cần có sự thống nhất về ý chí và nổ lực hành động của các cấp
quản lý, các ngành, của cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học và công nghệ
Việt Nam trong và ngoài nước.
15
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
học và công nghệ phục vụ cho sự nghiệp CNH- HĐH đất nước
1
1
II.2.1.Tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, đảm bảo dân chủ trong
KH&CN
II.2.2. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
II.2.3. Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ
II.2.4. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế
1
2
1
2
KẾT LUẬN
1
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
14
1
5
15