Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trong ngành giáo dục tỉnh quảng ninh - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HOÀNG ĐỨC KIÊN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG
NGÀNH GIÁO DỤC TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ THU

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu : “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực
khoa học và công nghệ trong ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh” là kết quả nỗ
lực cố gắng của bản thân tôi, cùng với sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng
dẫn khoa học TS. Nguyễn Thị Thu.
Tôi xin cam đoan những trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi chịu
toàn bộ trách nhiệm về lời cam đoan của mình.



DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số lượng đội ngũ KH&CN trong các trường THPT tỉnh Quảng
Ninh giai đoạn 2010-2015 ............................................................................... 36
Bảng 2.2. Cơ cấu nhân lực KH&CN theo trình độ trong các trường THPT
Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015 ................................................................... 37
Bảng 2.3 Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo môn học trong các trường THPT
Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015 ................................................................... 39
Bảng 2.4 Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo độ tuổi trong các trường THPT
Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015 ................................................................... 41
Bảng 2.5 Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo giới tính trong các trường THPT
Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015 ................................................................... 46
Bảng 2.6 Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo giới vùng/miền trong các trường
THPT Quảng Ninh năm học 2013-2014 ......................................................... 49
Bảng 2.7 Cơ cấu nhân lực KH&CN theo trình độ trong các trường THPT
Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015 ................................................................... 52
Bảng 2.8 Kết quả đánh giá giáo viên THPT của tỉnh Quảng Ninh theo Chuẩn
nghề nghiệp giai đoạn 2010-2015 ................................................................... 53


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CBQL

Cán bộ quản lý

CNH- HĐH

Công nghiệp hóa- hiện đại hóa


Trung ương

QLGD

Quản lý giáo dục

GV

Giáo viên

NC-PT

Nghiên cứu và phát triển

OECD

Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển
Kinh Tế

UNESCO

Tổ Chức Giáo dục , khoa học và
văn hóa của Liên hợp quốc

KT- XH

Kinh Tế - Xã Hội

THPT


Ở các trường THPT, việc phát triển đội ngũ nhân lực KH&CN đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, chất lượng phải được coi là giải pháp quan trọng hàng
đầu để nâng cao chất lượng giáo dục.
Tuy đã có những bước phát triển mạnh về quy mô và trình độ đào tạo
cơ bản, nhưng ĐNGV THPT tỉnh Quảng Ninh vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu đổi mới GD&ĐT. Nguyên nhân chính của thực trạng này là công tác quản lí,
tuyển chọn, sử dụng, chính sách đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV... còn hạn
chế. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ KH&CN trong ngành giáo dục là hết sức
1


cần thiết và cấp bách , do đó cần được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ,
khoa học và có hệ thống để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD&ĐT . vì vậy tôi chọn
luận án với tiêu đề:” Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực khoa học
và công nghệ trong ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh”
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Quảng Ninh cũng đã có một số nghiên cứu đề cập tới phát triển nhân lực
KH&CN như:
– Đề tài “Điều tra, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề và một số giải
pháp để phát triển nguồn công nhân kỹ thuật trên địa bàn tỉnh”do Sở Lao động –
Thương binh và xã hội thực hiện vào năm 2002. Đề tài đã đưa ra các giải pháp sau:
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về dạy nghề.Hoàn thiện quy hoạch
mạng lưới cơ sở dạy nghề giai đoạn 2012-2020, định hướng đến 2030 theo
hướng xã hội hóa và củng cố nâng cao năng lực cơ sở dạy nghề để nâng cao
chất lượng dạy nghề. Có chính sách hỗ trợ người học nghề, chính sách đãi
ngộ, thu hút giáo viên dạy nghề. Hình thành Quỹ hỗ trợ học nghề theo Luật
Dạy nghề
Phân luồng học sinh cơ sở, quy định tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học
cơ sở vào học nghề theo hướng khoảng 15% học sinh tốt nghiệp THCS vào

+) Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về phát triển nhân lực.
+) Bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực.
+) Đổi mới giáo dục và đào tạo.
+) Chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng
Ninh.
Những công trình nghiên cứu trên mới chỉ tập trung vào điều tra đánh giá
thực trạng, phần đề xuất giải pháp phát triển nhân lực KH&CN. Mặt khác, đó là
những nghiên cứu đã được tiến hành cách đây nhiều năm, cần có những nghiên
cứu mới cập nhập tình hình hiện nay.
3


Qua những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài tỉnh đã đề
cập ở trên, có thể nói, đến nay, chưa có tác giả nào công bố các kết quả nghiên
cứu về vấn đề giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực trong ngành giáo
dục tỉnh Quảng Ninh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ
KH&CN trong ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh.
- Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ KH&CN trong lĩnh vực giáo dục
THPT tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất giải pháp cao chất lượng đội ngũ KH&CN trong lĩnh vực giáo dục
THPT tỉnh Quảng Ninh .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ KH&CN

trong ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, vì thời gian có hạn, nên Luận
văn chỉ giới hạn nghiên cứu ở các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
KH&CN trong lĩnh vực giáo dục THPT tỉnh Quảng Ninh
– Phạm vi, giới hạn nghiên cứu: Luận văn không đề cập hết lĩnh vực giáo

nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực trong ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham
khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công
nghệ trong lĩnh vực giáo dục.
Chương 2 : Thực trạng chất lượng đội ngũ khoa học và công nghệ trong lĩnh
vực giáo dục trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh.
Chuong 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ khoa học và công nghệ
trong lĩnh vực giáo dục tỉnh Quảng Ninh.
5


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
1.1. Khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ.
1.1.1. Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực
Nhân lực: Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn
lực này gồm có thể lực và trí lực. Nói cách khác, nhân lực là sức lực con
người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó
ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một
mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con
người có sức lao động. Nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến trình độ quản lý và
trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực
của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh và hoạt động xã hội.
Nguồn nhân lực xã hội: là những năng lực về thể chất và trí tuệ để sản
xuất ra hàng hoá và dịch vụ cho xã hội hay còn có cách định nghĩa khác, là

tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phí rẻ,...
Các nhà kinh tế thường xem xét nguồn nhân lực dưới hai góc độ: năng lực
xã hội và tính năng động xã hội.Ở góc độ năng lực xã hội, nguồn nhân lực là
nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân
số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần. Nguồn này được hình thành
và phát triển thông qua giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khoẻ và tồn tại dưới
dạng tiềm năng nếu không được huy động. Dưới góc độ tính năng động xã
hội, nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng muốn phát huy phải chuyển sang
trạng thái động, thành vốn nhân lực phục vụ cho phát triển xã hội, thông qua
các chính sách, thể chế và giải pháp giải phóng tiềm năng con người.
Vốn nhân lực (vốn con người) là các kỹ năng và năng lực con người khi
được sử dụng vào lao động bằng cách nào đó đóng góp cho nền kinh tế.

7


1.1.2. Khái niệm nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Trong các tài liệu nghiên cứu hay giảng dạy, có các hiểu và trình bày khác
nhau về khái niệm nguồn nhân lực KH&CN. Theo TS Nguyễn Thị Anh Thu,
cho dù là trình bày thế nào nhưng trên thế giới hiện đang áp dụng phổ biến
một trong hai cách tiếp cận về khái niệm nguồn nhân lực KH&CN. Đó là khái
niệm nguồn nhân lực KH&CN theo cách tiếp cận của Tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) hoặc cách tiếp cận của
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế [16].
1.1.2.1. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO)
định nghĩa nhân lực KH&CN chủ yếu theo công việc hiện đang đảm nhận.
Theo đó, nhân lực KH&CN (S&T personnel) là "những người trực tiếp tham
gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được
trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ

được mục tiêu đã đề ra.
Như vậy, theo OECD, tổng hợp nhân lực theo cả hai tiêu chí bao gồm:
 Những người có bằng thuộc cấp độ 3 trong hệ thống giáo dục của
OECD trở lên (từ cao đẳng trở lên) và làm việc trong lĩnh vực KH&CN;
 Những người có bằng thuộc cấp độ 3 trở lên và không làm việc trong
lĩnh vực KH&CN;
 Những người được coi là có trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực
KH&CN nhưng không có bằng cấp.
Ngoài ra còn có những người làm việc trong lĩnh vực KH&CN với trình
độ kỹ năng thấp, không ở mức ngang bằng với những người có trình độ tay
nghề cũng được tính vào nguồn nhân lực KH&CN.
Có thể biểu diễn phạm vi nguồn nhân lực KH&CN theo OECD qua sơ đồ
sau:

10


Không được đào tạo ở bậc
cao đẳng, đại học trở lên
nhưng làm một nghề trong
lĩnh vực KH&CN

Được đào tạo từ bậc cao
đẳng, đại học trở lên và
làm một nghề trong lĩnh
vực KH&CN

Được đào tạo từ bậc cao
đẳng, đại học trở lên nhưng
không làm một nghề trong

Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ
và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương
đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri
thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới.
- Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương.
Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có
kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN. Họ
tham gia vào hoạt động NC&PT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa
học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới
sự giám sát của các nhà nghiên cứu.
- Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp cho NC&PT.
Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính
văn phòng tham gia vào các dự án NC&PT. Trong nhóm này bao gồm cả
những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp
phục vụ công việc NC&PT của các tổ chức NC&PT.

12


Quan hệ giữa nhân lực KH&CN và nhân lực NC&PT có thể được thể hiện
như sau:

Nhân lực NC&PT
Nhân lực KH&CN
Nhân lực có trình độ đang làm việc
Tổng số nhân lực
Nguồn: Phát triển nhân lực KH&CN ở các nước ASEAN, Trung tâm
Thông tin KH&CN quốc gia, Hà Nội, 2005.
1.2. Đặc điểm nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực giáo dục
Nhân lực khoa học và công nghệ được xem là một trong những yếu tố

trường đại học và cao đẳng, chúng ta có thể nhận ra 3 chức năng cơ bản cấu
thành giáo dục đại học, đó là giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng.
Có thể nói vắn tắt rằng đại học là “sự hiểu biết ngày càng nhiều
hơn về một lĩnh vực ngày càng hẹp hơn”. Sinh viên được phát triển khả
năng tự đặt ra những câu hỏi và tìm kiếm sự thật; khả năng phân tích và phản
biện về những vấn đề đương đại. Đại học không chỉ mở rộng năng lực trí tuệ
của từng cá nhân trong lĩnh vực chuyên môn của họ, mà còn giúp họ mở rộng
tầm nhìn và hiểu biết đối với thế giới xung quanh.
Từ các chức năng trên của giáo dục bậc cao, nhiệm vụ của người cán
bộ giảng dạy cao đẳng, đại học là quá trình giải quyết các nhiệm vụ có liên
quan đến việc giảng dạy, giáo dục và chuẩn bị nghề nghiệp cho sinh viên.
Phạm vi hoạt động chủ yếu của người cán bộ giảng dạy là giảng dạy một môn
nhất định. Ngoài ra, người cán bộ giảng dạy còn phải tham gia tích cực các
hoạt động khác của nhà trường cao đẳng, đại học như hoạt động nghiên cứu
khoa học, hoạt động chính trị-xã hội v.v… Nội dung hoạt động bao gồm việc
giảng dạy, hướng dẫn xemina, thi, viết giáo trình, hướng dẫn thực tế, thực tập,
hướng dẫn công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên…

14


Nhiệm vụ của người giảng viên cũng chính là giảng dạy, giáo dục, nghiên
cứu khoa học và tổ chức công tác học tập độc lập của sinh viên. Người cán bộ
giảng dạy là một cán bộ khoa học, nắm vững các phương pháp khoa học về
giảng dạy và giáo dục, biết sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật trong
giảng dạy, thường xuyên rèn luyện để nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình,
tham gia tích cực vào công tác nghiên cứu khoa học và đời sống khoa học.
Tuổi của người cán bộ giảng dạy từ 22 đến 60 và có thể kéo dài hơn tùy
theo khả năng hoạt động của họ và yêu cầu của trường cao đẳng, đại học.
Trình độ học vấn thấp nhất là tốt nghiệp đại học năng lực nghề nghiệp của

từng môn học hoặc cùng môn học nhưng khác đối tượng học) đều có những
đặc thù riêng biệt đòi hỏi phải có những phương pháp tiếp cận khác nhau.
Kiến thức về môi trường giáo dục, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo
dục, giá trị giáo dục… Đây có thể coi là khối kiến thức cơ bản nhất làm
nền tảng cho các hoạt động dạy và học. Chỉ khi mỗi giảng viên hiểu rõ
được các sứ mệnh, giá trị cốt lõi, và các mục tiêu chính của hệ thống giáo
dục và môi trường giáo dục thì việc giảng dạy mới đi đúng định hướng và
có ý nghĩa xã hội.
Giảng viên – nhà khoa học: Ở vai trị thứ hai này, giảng viên thực hiện
vai trò nhà khoa học với chức năng giải thích và dự báo các vấn đề của tự
nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải. Nghiên cứu khoa
học, tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về thực tiễn đời
sống và công bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng là ba chức năng chính
của một nhà khoa học. Từ đây có hai xu hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu
cơ bản (basic research) và nghiên cứu ứng dụng (applied research). Khác với
nghiên cứu cơ bản mang tính giải thích và dự báo các vấn đề chưa khai phá
của tự nhiên và xã hội, nghiên cứu ứng dụng là loại nghiên cứu hướng đến
việc ứng dụng các kết quả của nghiên cứu cơ bản vào giải quyết các vấn đề cụ
thể của xã hội. Thông thường nghiên cứu cơ bản được coi là vai trò chính của
các giảng viên đại học. Còn nghiên cứu ứng dụng mang tính công nghệ
16


thường là kết quả của mối liên kết giữa các nhà khoa học và nhà ứng dụng
(các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội). Do vậy, có thể trong giai đoạn hiện
nay, chúng ta nên khuyến khích các giảng viên đại học thực hiện các nghiên
cứu mang tính tổng kết lý thuyết ngành (literature review) và tìm ra những
hướng ứng dụng của các lý thuyết này. Thực tế tổng kết lý thuyết là công việc
đầu tiên và hết sức quan trọng của mỗi nhà nghiên cứu, nó mang lại những
kiến thức hết sức quan trọng về thành tựu khoa học trong từng chuyên ngành

Tuy nhiên phương pháp làm việc (giảng dạy) đòi hỏi phải đổi mới theo
hướng hiện đại hóa, vì thế họ phải thường xuyên cập nhập phương pháp giảng
dạy. Bên cạnh đó kiến thức mà xã hội đòi hỏi ngày càng phong phú. Cho nên,
đội ngũ này cũng phải cần nâng cao kiến thức chuyên môn mà mình đảm
nhiệm.
Bên cạnh đó đạo đức nghề nghiệp, phong cách người thầy là một yếu tố
quan trọng không chỉ đối với bản thân người thầy, mà nó ảnh hưởng đến học
sinh. Chính vì thế, đội ngũ nhân lực KH&CN với tư cách người thầy không
ngừng rèn luyện theo chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.
1.3. Chất lượng đội ngũ khoa học và công nghệ
1.3.1. Chất lượng nguồn nhân lực
Khái niệm chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối. Với mỗi
người, quan niệm về chất lượng khác nhau và vì thế chúng ta thường đặt ra
câu hỏi “chất lượng của ai”. Ở mỗi một vị trí, người ta nhìn nhận về chất
lượng ở những khía cạnh khác nhau. Các sinh viên, các nhà tuyển dụng, đội
ngũ tham gia giảng dạy hoặc không giảng dạy, chính phủ và các cơ quan tài
trợ, các cơ quan kiểm duyệt, kiểm định, các nhà chuyên môn đánh giá đều có
định nghĩa riêng của họ cho khái niệm chất lượng.
Cũng như khái niệm chất lượng nói chung, khái niệm chất lượng nguồn
nhân lực cũng là một khái niệm tương đối. Theo TS. Vũ Thị Mai thì “chất
lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao
động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện
18


thắng lợi mực tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động”.
Chất lượng nguồn nhân lực còn được hiểu chính là sự biến đổi về số lượng và
chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và
tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn
nhân lực. Hay chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu là:” trạng thái nhất

- Các chỉ tiêu về trí tuệ: phản ánh trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật,
kỹ năng tay nghề. Trình độ chuyên môn kỹ thuật thể hiện sự hiểu biết, khả
năng thực hành về một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó. Đó cũng là trình độ
được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, chính quy. Các tiêu chí phản ánh
trình độ chuyên môn kỹ thuật như: (i) Số lượng lao động được đào tạo và
chưa qua đào tạo; (ii) Cơ cấu lao động được đào tạo theo cấp đào tạo, theo
chuyên môn đào tạo, theo giới tính, ….
- Các chỉ tiêu về nhân cách: phản ánh đạo đức nghề nghiệp, tác phong,
lối sống. Những biểu hiện chính của phẩm chất đạo đức của con người trong
công việc là: Luôn hướng thiện, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, có lối sống
lành mạnh, nếp sống văn minh; Lao động chăm chỉ, nhiệt tình, cẩn trọng; Có
ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; Có trách nhiệm với bản
thân, với công việc và với tổ chức/cơ quan; Có ý thức bảo vệ và cải thiện môi
trường.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: về cơ bản được hiểu là tăng giá trị
cho con người trên các mặt phẩm chất đạo đức, thể chất, năng lực, thẩm mỹ,
thông qua các chính sách phát triển nguồn nhân lực giúp con người có những
năng lực, phẩm chất mới, cao hơn để có thể hoàn thành tốt hơn mục tiêu của
tổ chức và của chính bản thân họ.
1.3.2. Chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Để phát triển mạnh CNH, HĐH, chất lượng nguồn nhân lực KH&CN có
một vị trí hết sức then chốt và đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Nguồn
nhân lực này là tập hợp những người tham gia vào các hoạt động KHCN với
các chức năng nghiên cứu, sáng tạo, giảng dạy, quản lý, tác nghiệp,…
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status