Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo nghề ở trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh, Nghệ An hiện nay - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ THỊ NGỌC HÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
QUA ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM KỸ THUẬT VINH, NGHỆ AN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC



HÀ NỘI - 2009


 1

 8
1.1. Chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 8
1.1.1. Mấy vấn đề lý luận về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực 8
1.1.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 15
1.2. Vai trò của đào tạo nghề đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực . 23
1.2.1. Về đào tạo nghề 23
1.2.2. Vai trò của đào tạo nghề trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 27

  33
2.1. Thực trạng cơ sở đào tạo nghề ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh,
Nghệ An hiện nay 33
2.1.1. Vài nét về Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 33
2.1.2. Thực trạng cơ sở đào tạo nghề ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh 36
2.2. Thực trạng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo nghề ở
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh, Nghệ An hiện nay 45
2.2.1. Thực trạng đào tạo nghề ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh hiện
nay 45
2.2.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua phát triển đào tạo nghề ở
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh hiện nay 50


 56
3.1. Phương hướng 56
31.1. Phát triển giáo dục toàn diện 56

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống các nguồn lực có thể khai thác thì nguồn lực con người
là nhân tố cơ bản và có ý nghĩa quyết định nhất đối với sự phát triển của một
quốc gia dân tộc. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một
trong những vấn đề chiến lược trọng tâm của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế
giới hiện nay. Đối với Việt Nam, vấn đề này càng có ý nghĩa chiến lược quan
trọng khi chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm mục tiêu
“sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và vươn lên trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [12, tr.10].
Sự nghiệp CNH, HĐH của chúng ta được tiến hành trong bối cảnh toàn
cầu hoá diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Quá trình toàn cầu hoá đang tạo ra
những thời cơ hết sức to lớn để chúng ta có thể tạo ra bước phát triển đột phá
nhưng cũng là thách thức lớn khi Việt Nam vẫn ở trong tình trạng kém phát
triển. Chiến lược phát triển con người vẫn là nội dung cơ bản nhất để tận dụng
được thời cơ và vượt qua thách thức.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay là tất yếu trước
những yêu cầu thực tiễn. Toàn cầu hóa kinh tế đang tạo ra những tiêu chuẩn
chung và ngày càng cao đối với nguồn nhân lực toàn cầu trong quá trình
hướng tới kinh tế tri thức. Cuộc cách mạng KH & CN hiện đại cũng đang
hàng ngày hàng giờ tạo ra cơ sở kinh tế - kỹ thuật cho sự phát triển của giai
cấp công nhân. Nâng cao chất lượng lao động, phát triển số lượng lao động
được đào tạo là trọng trách mà đất nước trao cho hệ thống đào tạo nghề. Hiện
nay, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề của nước ta mới đạt khoảng 25%, phần
lớn trong số đó lại chưa đủ trình độ để đáp ứng yêu cầu mới của CNH, HĐH.
Chỉ có quan tâm đúng mức tới việc đào tạo nghề chúng ta có cơ sở để thực
hiện thành công CNH, HĐH gắn với hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện mục

2
tiêu xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước

được thành lập năm 1960. Từ một trường đào tạo công nhân đến nay đã trở
thành một trung tâm đào tạo giáo viên và cán bộ kỹ thuật cho cả khu vực Bắc
miền Trung, sự trưởng thành đó cũng là phù hợp với nhu cầu mới về tạo
nguồn nhân lực cho CNH, HĐH. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo lực lượng lao
động trình độ cao phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH nhà trường đã không
ngừng phát triển trên nhiều mặt. Tuy nhiên, để làm tròn nhiệm vụ này trong
thời gian tới nhà trường cần có thêm nhiều nỗ lực mà trọng điểm là phát triển
công tác đào tạo nghề.
Nghiên cứu về hệ thống đào tạo nghề nước ta nói chung cũng mới chỉ
tập trung nhiều hơn ở khía cạnh thống kê, xã hội học, kinh tế phát triển
Thực tế cần có một nghiên cứu sâu hơn vấn đề này từ góc độ chính trị - xã
hội. Vấn đề này lại càng cần thiết với ĐHSPKT Vinh vì đây là một trường
đào tạo nghề của cả khu vực miền Trung nói riêng và cho đất nước trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực qua đào tạo nghề ở trường Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh, Nghệ An
hiện nay” làm luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay thì vấn đề nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực là vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu
của nhiều nhà lý luận. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng
nguồn nhân lực nước ta, có thể nêu ra đây một số công trình nghiên cứu tiêu
biểu như:
- Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX - 05 (11/2003), Để
có nguồn lực con người đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thế kỷ
XXI, Nghiên cứu văn hoá, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI - Kỷ
yếu hội thảo quốc tế, Hà Nội.

4
- Chương trình KX - 07 mà sản phẩm tổng hợp của nó đã được công bố

giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ triết học, 2003.
Những công trình trên đã nghiên cứu, khảo sát để nghiên cứu về thực trạng
nguồn nhân lực ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và đưa ra những giải pháp nhằm mục đích sử dụng và phát huy có hiệu quả
nguồn nhân lực ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Một số công trình khoa học khác cũng đưa ra những giải pháp cơ bản
nhằm phát triển trường ĐHSPKT Vinh trong thời kỳ hiện nay được tập trung
trong kỷ yếu hội thảo khoa học “Định hướng phát triển trường ĐHSPKT Vinh
giai đoạn 2007 - 2015”.
Những công trình trên đã tiếp cận, nghiên cứu vấn đề nguồn lực và chất
lượng nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay thì vấn đề này cần được tiếp tục
nghiên cứu để có thể đưa những giải pháp phù hợp nhằm khai thác và phát huy
có hiệu quả nhất nguồn lực quan trọng và có ý nghĩa quyết định này. Trong
phạm vi đề tài này nó sẽ được nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Khẳng định vai trò của đào tạo nghề với việc phát triển nguồn nhân lực,
đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực cho quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH Việt Nam hiện nay thông
qua khảo sát thực tiễn của trường ĐHSPKT Vinh.
* Nhiệm vụ:

6
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về chất lượng nguồn nhân lực và
vai trò của đào tạo nghề trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Nêu lên thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua phát triển

- Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà
hoach định chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết:
Chương 1. Chất lượng nguồn nhân lực và vai trò của đào tạo nghề trong
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Chương 2. Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo
nghề ở trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh, Nghệ An hiện nay.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực qua phát triển đào tạo nghề ở trường ĐHSPKT Vinh, Nghệ
An hiện nay.
8
Chương 1
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ ĐÀO TẠO NGHỀ
TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC

1.1. Chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực
1.1.1. Mấy vấn đề lý luận về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân
lực
1.1.1.1. Nguồn nhân lực
Sự phát triển kinh tế - xã hội ở bất cứ quốc gia nào trong giai đoạn hiện
nay đều cần phải và có thể khai thác một hệ thống các nguồn lực như nguồn

rất quan trọng khi hiện thực hoá nguồn nhân lực. Yêu cầu của thị trường sức
lao động hiện nay được coi như thước đo thực tiễn quan trọng nhất với đại bộ
phận lao động nước ta. Được thị trường sức lao động chấp nhận (có việc làm)
cũng là tiền đề để từ đó thực hiện một nguyên tắc phân phối cơ bản là phân
phối theo lao động. Song muốn đạt được điều này thì chất lượng của “hàng
hoá sức lao động” phải đạt những quy chuẩn (trình độ văn hoá, tay nghề…)
tức là những cái chỉ có thể có được thông qua đào tạo.
Xét theo dạng thức tồn tại, nguồn lực này có hai dạng cơ bản là tiềm
năng và nguồn lực hiện hữu. Dạng thức tiềm năng phản ánh trạng thái chưa
triển khai, sẽ đạt tới hoặc đang vận động - phát triển, chẳng hạn hàng năm
nước ta có tiềm năng khoảng 1,6 - 1,7 triệu nhu cầu việc làm. Tiềm năng ấy
sẽ chuyển thành nguồn lưc con người khi được đào tạo và bố trí đủ việc làm.
Nhìn chung, cả hai dạng thức này có chuyển hoá từ tiềm năng sang nguồn lực
hoặc có thực sự trở thành nguồn lưc đầy đủ phẩm chất, quy mô được hay
không đều quan hệ mật thiết tới khâu đào tạo và sử dụng.
Hiểu theo nghĩa chung nhất nguồn lực con người là tổng hợp toàn bộ các
yếu tố, quá trình (vật chất và tinh thần) đã, đang và sẽ tạo ra năng lực, sức

10
mạnh thúc đẩy quá trình phát triển. Khái niệm nguồn lực con người ở đây
được nói đến với tư cách là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần,
đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, kỹ năng lao động, tay nghề, v.v. tạo nên
năng lực của con người, của cộng đồng người có thể huy động, sử dụng và
phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong
những hoạt động xã hội. Những yếu tố đó lại là sản phẩm của một quá trình
xã hội đặc thù: giáo dục và đào tạo.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin
việc xem xét nguồn lực con người phải được hình thành từ hai phương diện
chủ yếu: cá nhân và xã hội.
Phương diện cá thể của con người và nguồn lực con người được xem xét

của đời sống xã hội. Số lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng đối với sự
phát triển của một quốc gia dân tộc, bởi nếu như một quốc gia có điều kiện
thuận lợi về số lượng nguồn nhân lực thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển và ngược lại, nếu số lượng và sự phát triển không tương xứng với nhau
sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội như khó khăn
về lực lượng lao động, phân công lao động xã hội và có thể tạo nên vấn đề lao
động nhập cư. Đối với những nước đang phát triển như nước ta thì vấn đề lao
động, việc làm đang là một trong những vấn đề cơ bản của chính sách xã hội
đòi hỏi sự quan tâm thoả đáng của Đảng và Nhà nước.
Yếu tố cơ bản quyết định nhất của nguồn lực con ngưòi là chất lượng
nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến
thức, kỹ năng và thái độ của người lao động. Nó là một khái niệm tổng hợp
bao gồm những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, năng lực quản lý,
mức độ thành thạo trong công việc, phẩm chất đạo đức, tình yêu quê hương
đất nước, ý thức giai cấp, ý thức về trách nhiệm cá nhân với công việc, với gia
đình và xã hội, giác ngộ và bản lĩnh chính trị v.v Đây mới là yếu tố chính tạo
nên chất lượng của lao động, là yếu tố quyết định tới sự phát triển kinh tế - xã

12
hội của một quốc gia, đặc biệt là đối với nước ta khi chúng ta đang ở trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Tuy nhiên, khi xét thực trạng nguồn nhân lực của một quốc gia chúng
phải được xem xét một cách tổng thể hai yếu tố trên bởi vì giữa số lượng và
chất lượng nguồn nhân lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu số lượng
nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế trong phân công lao động
xã hội của một quốc gia thì chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định
trong cạnh tranh phát triển, đặc biệt là trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay.
Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp tất cả những yếu tố đã
nêu trên, trong đó chúng ta đề cập đến những yếu tố quan trọng đó là thể lực,
trí lực (trí tuệ) và phẩm chất. Có thể nói đây là những yếu tố cơ bản quyết

người Mỹ AlvinToffler đã khẳng định: Mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể
bị khai thác cạn kiệt, chỉ riêng có trí tuệ là vô tận, bởi đó là “tri thức có tính
chất lấy không bao giờ hết” [1, tr.41]. Trong lịch sử, tri thức luôn là một
nhân tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, nhưng từ trước đến nay
chưa hề có nhiều lao động tri thức như bây giờ, và cũng chưa từng có việc
truyền bá tri thức nhanh như bây giờ thông qua máy tính và mạng internet.
Ngày nay, trí tuệ con người là yếu tố quyết định sức mạnh của mỗi quốc gia,
là thứ tài nguyên đáng quý nhất.
Phẩm chất nói chung trong đó cốt lõi là phẩm chất đạo đức cũng là yếu
tố quan trọng trong chất lượng nguồn nhân lực. Người lao động trong thời đại
hiện nay bên cạnh một thể lực khoẻ mạnh và một trí tuệ sáng suốt còn phải có
những phẩm chất quan trọng của một công dân mà trước hết là đạo đức cá
nhân, đó chính là yếu tố cơ bản hình thành nên nhân cách cá nhân người lao
động. Người lao động cần phải có những phẩm chất đạo đức của công dân
yêu nước, ham học hỏi, cần cù lao động và sáng tạo, có tinh thần hợp tác, ý
chí tự chủ, vươn lên và lòng tự hào dân tộc. Đó là con người vừa biết giữ gìn
bản sắc dân tộc, vừa biết tiếp thu văn minh nhân loại; con người mang bản

14
chất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, sống nhân ái, khoan dung, không ích kỷ,
hẹp hòi, không thờ ơ trước tương lai của cộng đồng dân tộc.
Ngoài ra, người lao động trong thời đại khoa học và công nghệ hiện nay
cần phải có văn hoá lao động trong công nghiệp: có tác phong công nghiệp, có
kỷ luật lao động, có tính tự giác, có tinh thần trách nhiệm cao, có lương tâm
nghề nghiệp; sống bản lĩnh, có lý tưởng và bản lĩnh chính trị vững vàng để thực
hiện sứ mệnh vẻ vang là CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN.
Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, để đáp ứng được đòi hỏi khách quan
của nền sản xuất công nghiệp hiện đại và môi trường lao động chuyên nghiệp
người lao động còn cần phải có trình độ cao của văn hóa sinh thái (mối quan
hệ, sự ứng xử của con người với thiên nhiên). Nếu không có sự hiểu biết và

vấn đề này, trong phát biểu chỉ đạo tại hội nghị triển khai kế hoạch dạy nghề,
việc làm và xuất khẩu lao động giai đoạn 2007-2010 Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng cho rằng một trong những thách thức lớn nhất của đất nước khi gia
nhập WTO là chất lượng nguồn nhân lực còn quá thấp, làm giảm khả năng
cạnh tranh của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Lao động của ta “dân trí thấp,
tay nghề kém” dẫn đến năng suất, chất lượng cũng kém, không đáp ứng được
nhu cầu, làm khả năng cạnh tranh quốc gia kém. Chính điều này đã làm lao
động Việt Nam có nguy cơ tiếp tục “thua trên sân nhà”. Thủ tướng dẫn
chứng: tại một công trình trọng điểm ở phía Nam, lao động Việt Nam làm các
công việc phổ thông; còn vị trí đội trưởng, kỹ thuật do lao động nước ngoài
đảm trách.
Theo đánh giá mới của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn
nhân lực của Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp
thứ 11 trong số 12 nước châu Á tham gia xếp hạng. Một nghiên cứu khác cho
thấy lao động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm. Trong khi đó, những nền kinh tế
có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên
thị trường toàn cầu.
Việt Nam hiện có khoảng 53 triệu người trong độ tuổi lao động. Có thể
thấy đây là một thuận lợi rất cơ bản của nước ta về lực lượng lao động dồi
dào. Tuy nhiên để biến điều đó thành lợi thế trong phát triển chúng ta không

17
thể thờ ơ với vấn đề về chất lượng của lao động Việt Nam. Bởi vì con số 53
triệu lao động nhưng chỉ có trên 20% được đào tạo nghề và lại có đến 10 triệu
lao động không có việc làm đang là vấn đề gây nhức nhối đối với các cơ quan
chức năng và xã hội. Vấn đề đặt ra hàng đầu đối với lực lượng lao động Việt
Nam hiện nay là cần được đào tạo về cơ bản, đáp ứng được yêu cầu về nguồn
nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH gắn
với kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay. Mục tiêu đã được chúng ta đề ra là đến
năm 2010 có 50% lao động đã qua đào tạo.

vì chúng ta đang sống trong thời đại của nền kinh tế tri thức và nó đòi hỏi lao
động không chỉ có sức khoẻ, tay nghề mà còn phải có trí tuệ. Một trí tuệ minh
mẫn trong một cơ thể dẻo dai là yếu tố quan trọng đầu tiên tạo nên hiệu quả
trong công việc.
Yếu tố cơ bản quyết định khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam
trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay đó chính là trình độ
chuyên môn và kỹ thuật của người lao động.
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn
nào đó, nó biểu hiện ở trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên
nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một
công việc thuộc một chuyên môn nhất định.
Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của
người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định,
những kỹ năng thực hành về công việc nhất định.
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau,
thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng
tập thể nguồn nhân lực. Ở đây ta thấy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở
nước ta hiện nay phải tập trung vào khâu yếu nhất này của lao động Việt
Nam. Bởi vì như trên đã phân tích, lao động Việt Nam chủ yếu chưa qua đào
tạo nên trình độ tay nghề chưa cao làm giảm hiệu quả trong công việc. Với

19
thực trạng chất lượng lao động đáng lo ngại như hiện nay thì yêu cầu nâng
cao trình độ chuyên môn và kỹ thuật là yêu cầu cơ bản và thiết thực nhất
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta trong giai đoạn hiện nay,
tăng khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam cả ở trong cũng như ngoài
nước. Trong đó ta thấy đào tạo nghề là vấn đề cấp bách nhất trong giai đoạn
hiện nay.
1.1.2.2. Các chủ thể của quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay là yêu cầu

đầu đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, góp phần chuyển dịch cơ
cấu lao động và cơ cấu kinh tế. Trong 5 năm 2001 - 2005, cả nước đã tạo việc
làm cho trên 7,5 triệu lao động (tăng 25% so với giai đoạn 1996 - 2000),
nhiệm vụ đặt ra cho giai đoạn 2006 - 2010 là dạy nghề cho 7,5 triệu lao động.
Với những nỗ lực đó, chất lượng đào tạo nghề được nâng cao hơn, từng bước
đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, góp phần nâng cao năng suất lao
động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá.
Hệ thống quy phạm pháp luật và các cơ chế, chính sách về dạy nghề đã
được xây dựng, bổ sung, sửa đổi, ban hành tương đối đồng bộ, tạo hành lang
pháp lý quan trọng hình thành hệ thống dạy nghề với các trình độ sơ cấp
nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề và tạo hành lang pháp lý cho hoạt
động dạy nghề phát triển ổn định, đi vào nề nếp. “Luật dạy nghề” được ban
hành là sự thể hiện rõ nhất quyết tâm phát triển giáo dục nghề nghiệp ở nước
ta nhằm phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn
cầu hiện nay. Luật quy định những chính sách quan trọng về đầu tư, về trách
nhiệm của doanh nghiệp với dạy nghề, về xã hội hóa, về hỗ trợ phát triển dạy
nghề tại các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ học
nghề cho người nghèo, người dân tộc, phụ nữ, người tàn tật khuyết tật và các
đối tượng chính sách khác; quy định về việc đảm bảo chất lượng và kiểm định
chất lượng.

Trích đoạn Phương hướng Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo Tăng thời lượng rèn luyện kỹ năng thực hành nghề Mở rộng đào tạo liên thông và liên kết với các doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status