Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng tôn giáo ở Hà Tây trong tình hình hiện nay - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
***

THÂN THỊ GIANG
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Ở HÀ TÂY TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85 Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. NGÔ NGỌC THẮNG

HÀ NỘI – 2008

2 MỤC LỤC
Mở đầu 2
Chƣơng 1. Một số vấn đề chung về tín ngƣỡng, tôn giáo và công tác quản
lý nhà nƣớc đối với hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo 6
1.1. Khái niệm và đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo 6
1.1.1. Khái niệm về niềm tin, tín ngưỡng và dân gian 6
1.1.2. Bản chất nguồn gốc và tính chất của tôn giáo 11
1.1.3. Đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam 16
1.2. Nguyên nhân tồn tại và nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 23
1.2.1. Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội 23
1.2.2. Những nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội 26
1.3. Chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo và một
số vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với tín

cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và thực hiện các chủ
trương chính sách trước mắt và lâu dài đối với tín ngưỡng, tôn giáo 68
3.1.2. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác tôn giáo 70
3.1.3. Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực tôn giáo 70
3.1.4. Tăng cường vai trò của Mặt trận các cấp trong công tác vận động tín
đồ, chức sắc tôn giáo 71
3.1.5. Kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo các cấp 71
3.1.6. Nâng cao chất lượng dội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo 71
3.2. Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt
động tín ngưỡng, tôn giáo ở Hà Tây trong tình hình hiện nay 72
3.2.1. Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của
hệ thống chính trị và toàn xã hội về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo 72
3.2.2. Tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính
trị ở cơ sở 73
3.2.3. Tăng cường công tác tổ chức cán bộ làm công tác tôn giáo 73
Kết luận 75
Danh mục tài liệu tham khảo 77
Phụ lục 82

4 MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đê tài
Sự thật lịch sử ngày càng chứng minh tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện
tượng xã hội có sức sống lâu bền trong đời sống tinh thần của con người. Cho
đến nay, dù ở quốc gia có chế độ chính trị như thế nào thì tôn giáo vẫn tồn tại
như một hiện tượng xã hội khách quan. Tuy nhiên, thái độ đối với tôn giáo ở mỗi
thời kỳ lịch sử, mỗi quốc gia, mỗi giai cấp và từng con người không như nhau.

đối bình thường tuân thủ chính sách pháp luật. Nhiều cá nhân, tổ chức tôn
giáo có các hoạt động tích cực góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc,
củng cố xây dựng chính quyền và đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp
phát triển chung của địa phương.
Tuy nhiên, mấy năm gần đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong
đó có nguyên nhân từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự can thiệp của các
thế lực thù địch làm cho hoạt động của một số tổ chức, cá nhân tôn giáo có
nhiều diễn biến phức tạp. Do đó, đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý
Nhà nước trên lĩnh vực này.
Vì lý do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề: "Tăng cường công tác
quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Hà Tây trong tình
hình hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội
khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và tín ngưỡng, tôn giáo ở
Việt Nam nói riêng từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả. Ở
nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo ở nhiều góc
độ khác nhau. Có thể khái quát nội dung những công trình nghiên cứu đó theo
một số hướng cơ bản.

6
Thứ nhất: Tìm hiểu vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo.
Thứ hai: Mối quan hệ tôn giáo với một số lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Thứ ba: Quản lý Nhà nước đối với các tôn giáo.
Thứ tƣ: Khai thác các giá trị văn hoá, đạo đức của các tôn giáo.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết, chuyên đề đăng trên các tạp chí như Tạp
chí Triết học, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Tạp chí Xây dựng Đảng, Tạp chí
Cộng sản và các luận văn, luận án. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu
đánh giá, xem xét vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trên nhiều phương diện khác

luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường
lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo,
những công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau, các luận văn, luận án
có nội dung phù hợp.
* Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn có sử dụng một số
phương pháp như: Lịch sử - logic, phân tích, điều tra, tổng hợp, so sánh,
chứng minh, các phương pháp này được lựa chọn sử dụng phù hợp với từng
nội dung cụ thể.
6. Đóng góp của luận văn
* Về khoa học: Luận văn làm rõ thực trạng công tác quản lý Nhà nước
về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Hà Tây, qua đó bước đầu
đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà
nước về vấn đề này.
* Về thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên
cứu công tác quản lý Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn
tỉnh Hà Tây.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia làm 3 chương, 10 tiết.
Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác
quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và công tác quản
lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở tỉnh Hà Tây.

9
Chƣơng 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường công
tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn Hà
Tây trong tình hình hiện nay.
Chƣơng 1

niềm tin về cái gì đó, niềm tin đó trở thành tâm thức mang tính thường trực ở
chủ thể mang niềm tin. Chính từ đây ra đời loại niềm tin mang tầm lý tưởng
tự giác, tự nguyện cao trong việc tuân thủ các hành động do chi phối của loại
niềm tin này không hoàn toàn vụ lợi, thậm chí, vì nó mà chủ thể mang niềm
tin có thể hy sinh tất cả. Trong tình huống nhất định, nhờ niềm tin vô thức,
chủ thể của nó có thể thực hiện những hành động bi hùng.
Niềm nin là một mối quan hệ (giữa người và người, giữa người và lực
lượng siêu nhiên, giữa người và vật). Nó ít nhất bao gồm: người tin, đối tượng
được tin. Đối tượng được tin có thể rất đa dạng: là những con người cụ thể;
những vật thể được coi như là cái có sức mạnh giúp đỡ hoặc làm hại con
người, những con người được đời gán cho những sức mạnh siêu nhiên.
Người có đức tin tin rằng, những năng lực của đối tượng tin là có thật,
nó là chỗ dựa của họ trong mọi trường hợp mà họ cần đến. Nếu đó là lực
lượng có hại, thì năng lực có hại của chúng cũng được tin là đúng và có thật.
Vì vậy, con người phải thiết lập mối quan hệ hài hoà, hữu ái với chúng để
khỏi gây khó khăn cho mình.
Niềm tin mà con người theo đuổi có nhiều loại khác nhau. Có niềm tin
khoa học, niềm tin tiền khoa học và niềm tin phi khoa học. Tín ngưỡng là một
trong số những niềm tin khoa học, phi khoa học đó.
* Tín ngưỡng:
Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả không bàn luận sâu về niềm tin nói
chung, mà tập trung chú ý vào việc làm rõ niền tin gắn liền với tín ngưỡng,
dân gian. Tiếp cận với vấn đề từ phương diện đó, niềm tin là điểm xuất phát
của mọi tín ngưỡng. Lòng tin, sự ngưỡng vọng của con người vào một lực

11
lượng siêu nhiên nào đó - một lực lượng siêu thực, hư ảo, vô hình là nội hàm
cơ bản của tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng dân gian. Đối với người có tín
ngưỡng, lực lượng siêu nhiên là có thật, đang tác động vào cuộc sống của họ.
Để thuận lợi trong cuộc sống, tránh mọi tai ương, họ tôn thờ, sùng bái lực

của nó (đạo thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng làng ).
Để góp phần đưa ra một quan điểm sơ khai nào đó về khái niệm này,
phải chăng chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ với một khái niệm chung
hơn: Văn hoá dân gian. Bởi vì, là một nhân tố cấu thành của văn hoá, cho nên,
tín ngưỡng dân gian cũng có thể và cần được xem như là một yếu tố, một bộ
phận văn hoá dân gian. Từ quan niệm đó, nếu văn hoá dân gian (folklore)
được hiểu là loại hình văn hoá được ra đời nhờ sự sáng tạo của chính nhân
dân, thì tín ngưỡng dân gian cũng có thể xem là loại hình tín ngưỡng tôn giáo
do chính nhân dân - trước hết, những người lao động - sáng tạo ra trên cơ sở
những tri thức phản ánh sai lạc dưới dạng kinh nghiệm cảm tính từ cuộc sống
thường nhật của bản thân mình.
Nêu ra quan điểm như vậy về tín ngưỡng dân gian không có nghĩa là để
rồi đi tới quan niệm bên cạnh tín ngưỡng dân gian, có tín ngưỡng bác học
theo đúng nội dung khoa học của từ đó. Mọi tín ngưỡng tôn giáo, theo bản
chất của nó, đều là sự phản ánh hư ảo, sai lạc đối với hiện thực. Không có loại
tôn giáo nào là khoa học theo nghĩa nghiêm túc của từ đó. Song, tầm "lý luận
hoá", "khái quát hoá", "hệ thống hoá" của các tín ngưỡng, tôn giáo lại có mức
độ, trình độ rất khác nhau và được thực hiện bởi những lớp người có trình độ
trí tuệ không như nhau: Khi xét dưới giác độ một hình thái ý thức xã hội, tôn
giáo là loại tín ngưỡng được xây dựng hình thành cả một hệ thống lý luận
tương đối hoàn chỉnh, có cả một quan niệm tương đối nhất quán với logic nội
tại (tất nhiên, logic đó có thể chứa đựng không ít những yếu tố nguỵ biện,
chiết trung, giả khoa học, nguỵ khoa học ). Cùng với nó, là cả một hệ
"chuẩn" về đức tin được biểu hiện thành giáo lý, được "quy tắc" hoá thành hệ
chuẩn về giáo lễ, được "vật chất hoá" "thành một hệ thống tổ chức ít nhiều
chặt chẽ (giáo hội), có một đội ngũ những người lấy việc truyền đạo làm hoạt

13
động ít nhiều mang tính chuyên nghiệp của mình. Còn tín ngưỡng dân gian về
cơ bản do nhân dân, những người lao động sáng tạo ra. Nó không có tính hệ

niềm tin trước đối tượng tin (họ đang trong tình trạng "hoá thân"; Trong tình
trạng ấy, mỗi người đều được đòi hỏi và tự đòi hỏi xứng đáng với vai trò của
mình (chứ không xử sự như lúc bình thường). Song, liên quan tới vấn đề này
tính đặc thù của tín ngưỡng dân gian là ở chỗ, tất cả những "vật xúc tác" đó
không mang tính quy định thống nhất tuyệt đối; trái lại, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ tập
tục của từng địa phương, từng thời kỳ. Tính linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo, cho
phù hợp với cuộc sống thực tế của mỗi gia đình, mỗi người là nét rất tiêu biểu
khi tìm "chất xúc tác" trong tín ngưỡng dân gian.
1.1.2. Bản chất nguồn gốc và tính chất của tôn giáo
* Bản chất của tôn giáo
Chủ nghĩa Mác - Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý
thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan:
Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những hiện hượng tự nhiên trở thành
siêu nhiên. Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định "Tất cả mọi tôn giáo
chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của
những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự
phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực
lượng siêu trần thế" [33, tr.437]. C.Mác và Ph.Ănghen còn cho rằng, tôn giáo
là một hiện tượng xã hội, văn hoá, lịch sử, một lực lượng xã hội trần thế.
Tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác nhau, song lại có quan hệ chặt chẽ
mà ranh giới để phân biệt giữa chúng chỉ là tương đối.
Tín ngưỡng là một khái niệm rộng hơn khái niệm tôn giáo: Tín ngưỡng
là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực
lượng, một điều gì đó và thông thường để chỉ một niềm tin tôn giáo. Còn tôn
giáo thường được hiểu là một trong những hình thức tín ngưỡng có quan
niệm, ý thức, hành vi và các tổ chức tôn giáo. Tóm lại, tôn giáo thường có
giáo lý, giáo luật, lễ nghi và các tổ chức giáo hội.

15
Mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và

thể cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn ở thế ở thế giới hiện thực.
Mục tiêu cộng sản chủ nghĩa là hướng tới xây dựng một xã hội mà trong đó
không còn những khác biệt giai cấp, không còn chế độ tư hữu, không còn chế
độ áp bức bóc lột và bất bình đẳng giữa người với người. Xã hội ấy chính là
xã hội mà quần chúng tín đồ cũng từng ước mơ và phản ánh nó qua một số
tôn giáo.
Sự khác nhau giữa CNXH hiện thực và "thiên đường" mà các tôn giáo
thường hướng tới là ở chỗ trong quan niệm tôn giáo "thiên đường" không phải
là hiện thực xã hội mà là ở "thế giới bên kia", trên thượng giới. Còn những
người cộng sản chủ trương và hướng con người vào xã hội văn minh, hạnh
phúc ngay ở thế giới hiện thực, do mọi người xây dựng và vì mọi người.
Với lập trường duy vật lịch sử, V.I Lênin đã từng chỉ rõ: "Đối với
chúng ta, sự thống nhất của cuộc đấu tranh thật sự cách mạng đó của giai cấp
bị áp bức để sáng tạo nên một cảnh cực lạc trên trái đất, là quan trọng hơn sự
thống nhất ý kiến của những người vô sản về cảnh cực lạc trên thiên đường"
[22, tr.174]
* Nguồn gốc tôn giáo
Đã có nhiều cách lý giải khác nhau về nguồn gốc của tôn giáo. Tuy
nhiên, trong các nguồn gốc của tôn giáo, cần lưu ý đến nguồn gốc kinh tế- xã
hội; nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý.
- Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo.
Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, do trình độ của lực lượng sản xuất
và điều kiện sinh hoạt vật chất rất thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối và
bất lực trước thiên nhiên. Vì vậy, người nguyên thuỷ đã gán cho thiên nhiên
những sức mạnh siêu nhiên.
Khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp hình
thành, đối kháng giai cấp nảy sinh. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, các
mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp và con người ngày càng chịu tác động

17

thực bấy nhiêu. Tuyệt đối hoá hay cường điệu hoá vai trò của chủ thể nhận
thức sẽ dẫn đến thiếu khách quan, mất dần cơ sở hiện thực.
- Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo.
Vấn đề ảnh hưởng của yếu tố tâm lý tình cảm của con người đối với sự
ra đời và tồn tại của tôn giáo đã được các nhà vô thần cổ đại nghiên cứu
(người đầu tiên nêu ra luận điểm này là thi sĩ Latin Lurêce - thế kỷ I trước
Công nguyên). Họ thường đưa ra những luận điểm: "Sự sợ hãi sinh ra thần
linh". Lênin tán thành và phân tích thêm: "Sự sợ hãi trước thế lực mù quáng
của tư sản - mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó
- là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ,
cũng đe doạ đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản "đột ngột",
"bất ngờ", "ngẫu nhiên", làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người
ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm, và dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính
là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại" [23, tr.515-516].

Nhưng không chỉ từ sự sợ hãi trước sức mạnh tự phát của tự nhiên và
xã hội đã dẫn con người đến nhờ cậy thần linh, mà ngay cả những tình cảm
tâm lý tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, sự kính trọng trong mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên và con người với con người nhiều khi cũng được
thể hiện qua tín ngưỡng, tôn giáo.
* Tính chất của tôn giáo.
- Tính lịch sử của tôn giáo thể hiện ở chỗ nó có sự hình thành, có quá
trình tồn tại và phát triển lâu dài, nhưng không phải là hiện tượng xã hội vĩnh
hằng, bất biến, mà sẽ mất đi khi mà "con người không chỉ mưu sự mà lại còn
làm cho thành sự nữa - thì chỉ khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay
vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo sẽ mất đi, và cùng với nó bản thân sự
phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽ không có gì để
phản ánh nữa" [33, tr.439].

19

đa dạng, lại ở vùng nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa đe doạ
cộng đồng người sống ở đây. Do đó thường nảy sinh tâm lý sợ hãi, nhờ cậy
vào sự che chở của lực lượng tự nhiên. Việt Nam có lịch sự lâu đời và nền
văn minh hình thành sớm, lại kề bên hai nền văn minh lớn của loài người là
Trung Hoa và Ấn Độ nên tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng sâu đậm từ hai nền
văn minh ấy.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm, những người có công lớn
trong việc giúp dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ
phụng. Trong tâm thức của người Việt luôn tiềm ẩn, chứa đựng đạo lý "uống
nước nhớ nguồn". Điều đó được thể hiện khá rõ nét trong đời sống sinh hoạt
tín ngưỡng, tôn giáo của họ. Đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hoá đó có ảnh
hưởng lớn đến đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
*

Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau đang tồn tại.
Nước ta là nơi thuận lợi cho việc giao lưu của nhiều luồng tư tưởng,
văn hoá khu vực và thế giới, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai nền văn minh
lớn Trung Hoa và Ấn Độ, đồng thời là một nước có nhiều dân tộc cư trú ở
nhiều khu vực với điều kiện tự nhiên khí hậu, lối sống, phong tục, tín ngưỡng,
tôn giáo khác nhau. Hơn nữa, bản tính người Việt vốn cởi mở, khoan dung
nên cùng một lúc họ có thể tiếp nhận nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau. Từ những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo sơ khai đến hiện tại, từ
tôn giáo phương Đông cổ đại đến phương Tây cận, hiện đại - tất cả, đã và
đang cùng tồn tại bên cạnh tín ngưỡng dân gian, bản địa của nhiều dân tộc, bộ
tộc khác nhau. Có nhiều tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu
công nguyên, lại có nhiều tôn giáo xuất hiện ở nước ta vào những thập niên
đầu thế kỷ này. Có tôn giáo với số lượng hàng triệu tín đồ, nhưng có tôn giáo
lại có số lượng tín đồ không đáng kể. Lịch sử đã từng chứng minh một số tôn
giáo đã có ảnh hưởng lớn đến đời sống, nếp nghĩ và văn hoá của cả cộng

giáo nào giữ vai trò thống trị trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mà vị trí, vai

22
trò của từng tôn giáo gắn liền với sự hưng thịnh, suy tàn của các triều đại
phong kiến trong tiến trình phát triển nhất định của lịch sử dân tộc.
Tính đan xen, hoà đồng của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có những
biểu hiện cơ bản sau:
- Trên điện thờ của một số tôn giáo có sự hiện diện của một số vị thần,
thánh, tiên, phật của nhiều tôn giáo. Hiện tượng này thấy rõ ở Phật giáo Đại
thừa và điển hình là đạo Cao Đài.
- Đối với người Việt Nam, rất khó xác định tiêu chuẩn tôn giáo cụ thể
của họ. Không ít người sẵn sàng chấp nhận thờ cúng cả thần, thánh, tiên, phật
lẫn thổ công hà bá Người ta không chỉ thờ phụng ở đình, chùa, am, miếu mà
còn "khấn vái tứ phương". Kể cả ở gốc cây, mô đất, hốc đá, khúc sông Họ
có thể đều đặn đến chùa mà vẫn hầu bóng, có thể vừa chịu đủ những phép bí
tích mà vẫn ham bói toán, tử vi, vừa tham gia nghi lễ các tôn giáo lớn mà vẫn
chăm chỉ thờ cúng tổ tiên, tổ chức hội làng.
- Về phía giáo sỹ: Ở Việt Nam có nhiều tăng, ni, phật tử thông thạo
giáo lý phật giáo, đồng thời cũng am hiểu triết thuyết Khổng mạnh và nghiên
cứu cả Đạo giáo. Ngược lại, các thày pháp của Đạo giáo (phù thuỷ, chiêm
tinh, bói toán) cũng không hề bài bác Phật giáo và Khổng giáo. Thực tế có nhiều
nhà nho nương thân trong chốn cửa thiền và cũng không ít tăng, ni có tư tưởng
yếm thế, tu tiên.
Giáo lý của các tôn giáo lớn ở Việt Nam có không ít những điều khác
biệt và trong lịch sử tồn tại của nó cũng xuất hiện những mâu thuẫn nhất định.
Cá biệt có hiện tượng phê phán, bài bác lẫn nhau, nhưng nhìn chung, chưa có
sự đối đầu để dẫn đến chiến tranh tôn giáo. Nếu có mâu thuẫn dẫn đến xung
đột thì có cũng chỉ vì lý do chính trị mà tôn giáo là một hình thức biểu hiện.
Khái quát lại, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam là hoà đồng, đan xen,
nương tựa và hỗ trợ lẫn nhau. Truyền thống "Tam giáo đồng nguyên", "ngũ

hội đối với họ. Ở Việt Nam, dưới con mắt của một số tín đồ Công giáo thì đức

24
Mẹ Maria, và của Phật giáo thì Phật bà Quan âm còn gần gũi, thân thiết và
quan trọng hơn cả Đức chúa Jêsu và Phật thích ca mâu ni.
Đạo giáo từ Trung Hoa truyền sang nhưng không có giáo phái nào có
ảnh hưởng lớn ở Việt Nam như đạo Tam phủ, Tứ phủ, phải chăng có vị giáo
chủ của đạo này thuộc phái nữ?
Nhiều nơi như đền, miếu, phủ trở thành nơi hương hoa, quả oản nhằm
thờ phụng những bậc thánh thần thuộc nữ giới. Vì lẽ đó, có người nói ở nước
ta có đạo thờ Mẫu thần thánh mang dạng nữ khá phổ biến, đa dạng và phong
phú. Điều đó phản ánh vai trò nhiều vẻ của người phụ nữ ở thế giới hiện hữu.
Có mẫu là thiên thần cũng có mẫu là nhân thần, có mẫu tạo dựng nên giống
nòi, lại có mẫu có công đánh giặc giữ nước, có mẫu, xuất hiện từ huyền thoại,
nhưng lại có mẫu là con người lịch sử - cụ thể. Có mẫu xuất thân từ gia đình
quyền quý, có mẫu được tôn vinh chỉ là người bình dân nghèo khổ, có mẫu lo
đuổi giặc giúp dân, có mẫu lại chăm lo cho mưa thuận gió hoà, mùa màng
tươi tốt. Phải chăng sự hiện diện của nữ thần ở mọi nơi làm cho con người an
tâm như sự có mặt của người phụ nữ trong gia đình và xã hội?
* Thần thánh hoá những người có công với gia đình, làng, nước
Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm và thiên tai. Hàng ngàn
năm các thế lực bên ngoài đã nuôi hy vọng đồng hoá dân tộc ta bằng nhiều
hình thức. Mặc dù chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá khác nhau nhưng
dân tộc ta không bị hoà đồng mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá riêng của
mình, các tôn giáo ngoại lai du nhập vào Việt Nam dù có giáo lý sâu sắc, có
tổ chức chặt chẽ đến đâu vẫn không thể đẩy lùi, lấn lướt được tín ngưỡng bản
địa, tôn giáo truyền thống, mà ngược lại, muốn tồn tại và phát triển, phải hoà
nhập cùng tín ngưỡng bản địa.
Con người Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước, trọng tình "uống
nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây" nên tín ngưỡng, tôn giáo Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status