Tác động của các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước đối với phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 - 2005 (nghiên cứu trường hợp KC - 153212 - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
____________________________________ VŨ ĐÌNH TRUNG
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM
CẤP NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
GIAI ĐOẠN 2001-2005

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP KC-06) LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM HUY TIẾN HÀ NỘI – 2009 1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Lý do nghiên cứu 6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3. Mục tiêu nghiên cứu 7
4. Phạm vi nghiên cứu 7
5. Mẫu khảo sát 7
6. Vấn đề nghiên cứu 7
7. Giả thuyết nghiên cứu 7
8. Phương pháp nghiên cứu 7

2.4.2. Công nghệ sinh học 31
2.4.3. Công nghệ vật liệu mới 32
2.4.4. Công nghệ tự động hoá 32
2.4.5. Công nghệ chế tạo máy 32
2.4.6. Năng lượng 33
2.4.7. Giao thông vận tải 33
2.4.8.Nông –Lâm – Ngư nghiệp 34
2.4.9. Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng 34
2.5. CÁC CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
GIAI ĐOẠN 2001-2005. 35
2.5.1. Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn 35
2.5.2. Lĩnh vực khoa học tự nhiên 36
2.5.3. Lĩnh vực khoa học công nghệ 36
2.6. NHỮNG TÁC ĐỘNG KINH TẾ-XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA CÁC
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
GIAI ĐOẠN 2001-2005 36
2.6.1. Các tác động KT-XH tích cực từ góc độ các nhà khoa học 37
2.6.2. Các tác động KT-XH tích cực từ góc độ các nhà quản lý KH&CN 46
2.6.3. Các tác động KT-XH tích cực góc độ các chuyên gia đánh giá KH&CN. 50
2.6.4. Các hạn chế trong việc đóng góp cho sự phát triển KT-XH
từ góc độ các nhà nghiên cứu. 52
2.6.5. Các hạn chế trong việc đóng góp cho sự phát triển KT-XH
từ góc độ các nhà quản lý KH&CN. 52
2.6.6. Các hạn chế trong việc đóng góp cho sự phát triển KT-XH
từ góc độ các chuyên gia đánh giá KH&CN 54
Kết luận chương 2: 56

3
Chương 3. CHƯƠNG TRÌNH ”ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN
TRONG SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÀ SẢN PHẨM

APEC
ASIA-PACIFIC ECONOMIC COOPERATION
DIễN ĐÀN HợP TÁC KINH Tế CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG
CNC
CÔNG NGHệ CAO
CNH-HĐH
CÔNG NGHIệP HÓA, HIệN ĐạI HÓA.
EU
EUROPEAN UNION
LIÊN MINH CHÂU ÂU
GPRA
GOVERNMENT PERFORMANCE AND RESULTS ACT
LUậT Về THựC HIệN VÀ KếT QUả CủA CHÍNH PHủ HOA Kỳ
KH&CN
KHOA HọC VÀ CÔNG NGHệ
KHXH&NV
KHOA HọC XÃ HộI VÀ NHÂN VĂN
KT-XH
KINH Tế - XÃ HộI.
NCCB
NGHIÊN CứU CƠ BảN
NCKH
NGHIÊN CứU KHOA HọC.
NCƯD
NGHIÊN CứU ứNG DụNG
OECD
ORGANIZATION FOR ECONOMIC COOPERATION AND DEVELOPMENT
Tổ CHứC HợP TÁC VÀ PHÁT TRIểN KINH Tế
R&D
RESEARCH AND DEVELOPMENT

.
45
Bảng
2.4.
Số lượng cán bộ có trình độ tiến sỹ được đào tạo thông
qua
các chương trình KH&CN giai đoạn 2001-2005
.
48
Bảng
3.1.
Thống kê các đề tài dự án do chương trình KC.06 tiến
hành.
.
58
Bảng
3.2.
Thống kê các đề tài dự án, đơn vị tham gia chương trình
KC.06
.
58

nghiên cứu phương pháp đánh giá chương trình KH&CN ở Việt Nam qua 3 giai
đoạn.
Tuy nhiên vấn đề tác động của các chương trình KH&CN trọng điểm cấp
Nhà nước (giai đoạn 2001-2005) đối với phát triển KT-XH chưa có công trình
nghiên cứu vì thực chất ở nước ta các công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào vấn
đề lý luận là chính.

7
3. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định những tác động tích cực, những hạn chế của các chương trình
KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước (giai đoạn 2001-2005) tới một số lĩnh vực
phát triển.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về thời gian: 05 năm, từ năm 2001-2005.
Phạm vi về nội dung: Một số chương trình KH&CN trọng điểm cấp
Nhà nước giai đoạn 2001-2005.
5. Mẫu khảo sát
Kết quả nghiên cứu của 1 số chương trình KH&CN trọng điểm cấp
Nhà nước giai đoạn 2001-2005.
Kết quả nghiên cứu của chương trình mã số KC-06: Ứng dụng công nghệ
tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực.
6. Vấn đề nghiên cứu
Tác động của các chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn
2001-2005 đối với phát triển KT-XH như thế nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Các chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước thời gian 2001-2005 đã
có những tác động tích cực tới một số lĩnh vực phát triển (về kinh tế, xã hội và
KH&CN).
Các chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005
vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục.

thực nghiệm.
Dự án SXTN: là một nhiệm vụ KH&CN nhằm ứng dụng kết quả NCKH và
triển khai thực nghiệm để thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý
KT-XH hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm
mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống.
Dự án KH&CN có nội dung chủ yếu tiến hành các hoạt động NCKH, phát
triển công nghệ, ứng dụng công nghệ; áp dụng, thử nghiệm các giải pháp, phương
pháp, mô hình quản lý KT-XH. Dự án có thể độc lập hoặc thuộc chương trình
KH&CN.
Chương trình KH&CN bao gồm một nhóm các đề tài, dự án KH&CN, được
tập hợp theo một mục đích xác định nhằm thực hiện mục tiêu phát triển KH&CN cụ
thể hoặc ứng dụng trong thực tiễn.
Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước (theo Quy định tạm thời về
quản lý chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005 ban
hành kèm theo quyết định số 41/2001/QĐ-BKHCNMT) bao gồm các Đề tài NCKH
và triển khai thực nghiệm (gọi tắt là Đề tài) và Dự án SXTN (gọi tắt là Dự án).
1.2. KHÁI NIỆM VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN

10
Đánh giá được định nghĩa theo nhiều cách. Theo từ điển Oxford English
Dictionary, đánh giá là một hành động xác định, hoặc định giá (hàng hoá, v.v ), một
sự tính toán hoặc tuyên bố về giá trị; là một hành động đánh giá hoặc xác định giá trị
(của một biểu diễn toán học, một số lượng vật chất, v.v ); hoặc của một sự ước tính
hiệu lực (của xác suất, bằng chứng, vv ). Trong bộ môn đánh giá, thuật ngữ này có
những ý nghĩa khác nhau. Trên thực tế, vẫn chưa có một sự nhất trí chung về định
nghĩa thế nào là đánh giá. Khi xem xét về vai trò của ngôn ngữ đối với đánh giá,
Michael Scriven, một trong những nhà sáng lập ra bộ môn đánh giá hiện đại, đã đưa
ra nhận xét rằng có gần sáu mươi thuật ngữ khác nhau đối với việc đánh giá được áp
dụng cho tình huống này hay tình huống khác. Những thuật ngữ này gồm: xét xử
(adjudge), đánh giá (appraise), phân tích (analyze), đánh giá (assess), phê phán

này thực hiện việc đánh giá các chương trình quốc gia về KH&CN là hỗ trợ quá
trình ra quyết định. Các Chính phủ đều phải đối mặt với một khó khăn chung, đó là
phân bổ thế nào những nguồn lực hạn chế (như nhân lực, ngân sách, hạ tầng…) để
đạt được hiệu suất cao hơn cho nền kinh tế. Do những đặc thù khác nhau về nhiều
mặt, về quy mô nền kinh tế, về hạ tầng cơ sở, tài nguyên…mà không thể có câu trả
lời chung cho tất cả các Chính phủ của các nước. Thêm vào đó, tốc độ phát triển rất
nhanh của KH&CN làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn. Trong bối cảnh như vậy,
đánh giá sẽ giúp cho việc lựa chọn ra những ưu tiên và giúp Chính phủ giải quyết
vấn đề phân bổ hiệu quả ngân sách và nguồn lực.
1.3.2. Đánh giá phục vụ quản lý
Lý do quan trọng thứ hai của đánh giá là nhu cầu quản lý. Các nhà quản lý
chương trình KH&CN thường rất gần gũi với các dự án và hoạt động cụ thể của
chương trình. Họ có thể liên hệ các thông tin đầu ra, đầu vào với các chi tiết nhỏ
nhất của chương trình. Họ cũng rất nỗ lực để đảm bảo việc triển khai thành công
chương trình. Tuy vậy, họ thường có thể thiếu các thông tin dưới dạng các mẫu biểu
cần thiết để mô tả và ghi lại các lợi ích mà các chương trình họ quản lý tạo ra, đặc
biệt là vào giai đoạn giữa kỳ và giai đoạn về sau khi mà các tác động của tri thức
hay của thị trường được ghi nhận. Những thông tin nhà quản lý chương trình cần
phải biết:

12
- Liệu các hoạt động nghiên cứu đã được thực hiện đúng chưa? (ví dụ:
nghiên cứu có đạt hiệu quả và chất lượng cao hay không?)
- Liệu các nội dung R&D của chương trình đã tập trung vào đúng lĩnh vực
nghiên cứu hay chưa?
- Làm thế nào để tri thức được tạo ra từ các chương trình có thể được ứng
dụng và đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia?
- Làm thế nào để các hoạt động do chương trình tạo ra góp phần nâng cao
năng lực R&D của quốc gia?
- Liệu các nỗ lực từ trước đã xứng đáng hay chưa và liệu các sáng kiến mới

đạt được và tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện, rút ra các kinh nghiệm cần thiết
làm cơ sở lập báo cáo kết thúc chương trình.
(4) Đánh giá tác động (Impact Evaluation): là đánh giá được thực hiện vào
một thời điểm thích hợp, kể từ khi đưa chương trình vào khai thác, sử dụng nhằm
làm rõ hiệu quả, tính bền vững và tác động KT-XH của chương trình.
1.4.2. Phương pháp đánh giá chương trình KH&CN
Có nhiều phương pháp định tính và định lượng để đánh giá chương trình
KH&CN. Phương pháp tổng hợp kết hợp cả định tính và định lượng được khai thác
tốt nhất. Việc lựa chọn phương pháp nào tuỳ thuộc vào đặc thù của từng chương
trình. Tuy nhiên, khi thiết kế và tổ chức đánh giá các chương trình KH&CN điểm
mấu chốt là làm thế nào để thoả mãn tốt nhất yêu cầu về đánh giá trong điều kiện
hạn chế nguồn lực. Việc lựa chọn phương pháp đánh giá cần phải dựa trên mục tiêu,
kinh phí và thời lượng tương ứng. Các phương pháp thường sử dụng khi đánh giá
chương trình KH&CN gồm:
- Phản biện (đánh giá) của chuyên gia cùng ngành (Peer riview)
- Phân tích trắc lượng thư mục (Bibliometric analysis)
- Nghiên cứu điển hình (Case study)
- So sánh, đối chứng (Benchmaking)
- Điều tra (Servey, questionnaire)
- Phân tích chi phí-lợi ích (Cost-benefit analysis)
- Giám sát, tổng hợp số liệu và sử dụng các chỉ số
1.4.3. Tiêu chí đánh giá chương trình KH&CN

14
Mỗi giai đoạn đánh giá của từng chương trình có yêu cầu và mục tiêu riêng,
do đó các tiêu chí đánh giá cũng được lựa chọn một cách phù hợp để đạt được các
mục tiêu. Nói chung, tiêu chí trong đánh giá là thước đo để đánh giá một chương
trình KH&CN. Có 5 tiêu chí lớn được đề cập dưới đây để đánh giá các chương trình
KH&CN và thường có các tiêu chí phụ kèm theo mỗi tiêu chí lớn:
- Tính hợp lý của chương trình: Đề cập tới mức độ thích hợp của đầu tư cho

triển phải tìm hướng đi phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất của các
chương trình R&D của các quốc gia. Trong một điều kiện ngân sách cũng như các
nguồn lực khác (con người, hạ tầng cho nghiên cứu) là có hạn, đánh giá trở thành
công cụ hữu hiệu và là tiêu chuẩn để xác định mục đích và kinh phí cho các chương
trình R&D.
Đánh giá là một công cụ thiết yếu cho thực tiễn quản lý hiệu quả. Đánh giá
không những là công cụ để đo lường sự thành công của chương trình mà còn góp
phần vào thành công đó. Đánh giá giúp cho những nhà quản lý chương trình lập kế
hoạch, thẩm định và thể hiện mục tiêu cần đạt là gì, quyết định phân bổ nguồn lực
như thế nào, học làm thế nào để sửa đổi và thiết kế lại chương trình và ước tính kết
quả đầu ra dự kiến; hiệu quả và tác động của chương trình. Đánh giá còn giúp cung
cấp thông tin về mức độ tin cậy của chương trình bằng việc trả lời cho câu hỏi: liệu
chúng ta đã làm những gì mà chúng ta nói là sẽ làm chưa?
1.5.1. Tại Mỹ
Từ những năm 90, Mỹ đã ban bố một loạt các bộ luật và các quy định pháp
lý bắt buộc các cơ quan trong đó có các cơ quan về KH&CN thực hiện việc đánh
giá, đánh giá ở Mỹ là một hoạt động bao trùm lên tất cả các hoạt động của Chính
phủ Mỹ. Ví dụ như Luật về Thực hiện và Kết quả của Chính phủ (GPRA) ban hành
năm 1993 đòi hỏi tất cả các chương trình của Chính phủ Liên bang phải tuân thủ
các yêu cầu về việc đánh giá nhằm tăng tính trách nhiệm, tính hiệu suất và hiệu quả
của các chương trình Chính phủ Liên bang. Căn cứ theo Luật này, việc đánh giá
phải bắt đầu từ lập kế hoạch chiến lược, đặt ra mục tiêu và triển khai thực hiện. Tất
cả các cơ quan Chính phủ Liên bang phải triển khai thực hiện đánh giá tuân thủ theo
Luật về GPRA và báo cáo kết quả đánh giá cho Quốc hội.

16
Ở Mỹ, các hoạt động nghiên cứu được thực hiện trong nhiều loại hình tổ chức:
các trường đại học, các phòng thí nghiệm quốc gia, các doanh nghiệp, có nhiều loại
chương trình nghiên cứu khác nhau được triển khai. Có chương trình hình thành các
đề tài vì mục đích chung, nhưng thường thì căn cứ vào mục đích để xây dựng các

sự sống, phát triển các phát minh, tăng việc làm và phúc lợi. Lịch sử cũng chỉ ra rằng
NCCB trong khoa học và kỹ thuật đem đến những kết quả ngoài sự kỳ vọng của chúng
ta hoặc các kết quả có thể xuất hiện sau nhiều năm, thậm chí vài thập kỷ.
Đối với NCƯD thì vấn đề có thể đơn giản hơn: NCƯD thường xác định được
các mốc thời gian để đạt được các kết quả và các đóng góp hàng năm cũng như kết
quả cuối cùng, do đó có thể đo lường kết quả hàng năm. Ví dụ, Bộ Năng lượng đã
xây dựng chương trình R&D với mục đích là sản xuất năng lượng mặt trời có giá rẻ
hơn, như vậy có thể đo lường kết quả nghiên cứu cuối cùng một cách trực tiếp căn
cứ vào giá thành của các pin mặt trời và kết quả hàng năm căn cứ vào tiến độ đã xác
định.
Để giải quyết các vấn đề về đo lường nghiên cứu khi thực hiện đánh giá các
chương trình R&D, Hội đồng Khoa học, Kỹ thuật và Chính sách công của Mỹ đã đề
xuất một số kiến nghị:
Đối với chương trình NCƯD, các tổ chức phải đo lường tiến bộ theo các kết
quả thực tế. Đối với chương trình NCCB, các tổ chức phải đo lường tính xác đáng
(relevance), chất lượng và sự dẫn đầu về trình độ nghiên cứu.
Vì đánh giá NCƯD liên quan trực tiếp đến kết quả thực tế, trong khi đánh giá
NCCB liên quan đến tính hợp lý, chất lượng, sự dẫn đầu về trình độ nghiên cứu rồi
cuối cùng cũng là đưa đến kết quả thực tế, do đó có thể có xu hướng các tổ chức sẽ
nghiêng về chương trình NCƯD mà không chú ý đến NCCB. Cần phải hết sức tránh
điều này và phải duy trì sự cân bằng giữa NCƯD và NCCB.
Các tổ chức Liên bang nên sử dụng đánh giá (suy xét) của chuyên gia để
đánh giá chất lượng của các nghiên cứu mà họ tài trợ, tính xác đáng (sự phù hợp)
của nghiên cứu đối với sứ mạng của các tổ chức, sự dẫn đầu về trình độ nghiên cứu.
Mỗi tổ chức cần phải xây dựng hướng dẫn rõ ràng, nghiêm ngặt về thủ tục và quy
trình thuê các chuyên gia đánh giá.

18
Phương thức đánh giá phổ biến nhất thường được sử dụng theo kiểu đánh giá
(suy xét) của chuyên gia là đánh giá của chuyên gia cùng ngành. Việc này được

19
Là một lĩnh vực chuyên ngành, đánh giá chương trình KH&CN trong phạm
vi chính quyền Liên bang trở nên phổ biến vào đầu những năm 80, khoảng 5 năm
sau khi đánh giá được thực hiện một cách nề nếp. Chính sách đánh giá đòi hỏi việc
đánh giá phải cung cấp thông tin về ba vấn đề cơ bản liên quan đến các chương
trình, trong đó bao gồm cả chương trình R&D:
- Tính xác đáng (sự phù hợp) của chương trình (liệu chương trình có tiếp tục
phù hợp với các ưu tiên của tổ chức và Chính phủ không, có đáp ứng được nhu cầu
hiện hành không?)
- Thành công của chương trình (liệu các sáng kiến có đáp ứng được mục tiêu
và đạt kết quả như mong đợi không?)
- Hiệu quả chi phí (liệu chương trình có tập hợp được các thiết kế và cách
thức thực hiện hiệu quả nhất không?)
Ở các tổ chức như Hội đồng NCKH tự nhiên và kỹ thuật, Hội đồng Tài
nguyên và Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada, phần lớn các nguồn lực là dành
để thực hiện các chương trình R&D, do đó năng lực đánh giá KH&CN chuyên
nghiệp đã được phát triển. Đánh giá của chuyên gia cùng ngành (peer review) là
phương pháp được sử dụng phổ biến khi đánh giá chất lượng R&D trong các tổ
chức này từ những năm 60. Các phương pháp đánh giá bổ sung, ví dụ như các khảo
sát về khách hàng, khách hàng tiềm năng và đội ngũ nhân viên bắt đầu được áp
dụng cùng với những nghiên cứu tình huống và phân tích chi phí-lợi ích.
Với vai trò là cơ quan điều phối trung ương, Ban Thư ký của Uỷ ban Ngân sách
cung cấp sự hỗ trợ và các hướng dẫn đánh giá KH&CN cho các ban ngành, nâng cao
nhận thức của ban ngành về sự cần thiết phải kết nối các vấn đề đánh giá với chính
sách KH&CN của Chính phủ cũng như các mối quan tâm của riêng họ. Ví dụ, tài liệu
thảo luận năm 1986 đã đưa ra phương pháp đánh giá R&D chung trong phạm vi của
Chính phủ. Tài liệu này mô tả về NCCB và NCƯD định hướng theo nhiệm vụ và phi
nhiệm vụ. Nó đề cập đến hàng loạt chủ đề về đánh giá, từng chủ đề liên quan đến các
tiêu chuẩn đánh giá về tính xác đáng, quản lý chương trình, kết quả và sự lựa chọn.
Kể từ khi hoạt động đánh giá được đưa vào thực hiện trong các cơ quan ở

KH&CN” và bắt đầu thực hiện các công tác “điều tra, phân tích và đánh giá” các
chương trình R&D quốc gia theo tinh thần của Bộ luật trên. Năm 1999, thành lập
Hội đồng KH&CN Quốc gia để chỉ đạo về khoa học & công nghệ, đặc biệt trong
vai trò giám sát điều hành các hoạt động liên quan đến đánh giá và điều chỉnh trước
đối với các chương trình R&D quốc gia có nguồn vốn từ ngân sách của Nhà nước.

21
Trong các quốc gia thuộc OECD, Hàn Quốc được coi là nước đang tiến
vững chắc trên con đường đến giám sát đánh giá, có mô hình triển khai hoạt động
đánh giá các chương trình R&D đồng bộ và nhất quán. Hệ thống đánh giá chương
trình R&D ở Hàn Quốc là duy nhất, không giống với hệ thống đánh giá của nước
nào, không có nước nào trên thế giới tập trung tất cả chương trình R&D để Hội
đồng cấp quốc gia đánh giá như ở Hàn Quốc. Viện Đánh giá và Lập kế hoạch
KH&CN Hàn Quốc (KISTEP) được thành lập năm 1998, có chức năng lập kế hoạch
và tổ chức điều tra, phân tích đánh giá các chương trình R&D quốc gia.
Các chương trình KH&CN ở Hàn Quốc được phân loại theo đặc tính kinh tế
xã hội (không phân loại theo chuyên ngành công nghệ) và được chia thành 10 nhóm:

Công nghệ cơ bản (nền): (BT, NT, thiên văn học, …)
Công nghệ công cộng (năng lượng, giao thông, vũ trụ, biển,
Xây dựng…)
Công nghệ phúc lợi (môi trường, y tế…)
Công nghệ công
nghiệp
Công nghệ công nghiệp ngắn hạn
Công nghệ công nghiệp trung & dài hạn
Hạ tầng phục vụ
nghiên cứu
Hợp tác quốc tế, phát triển nguồn nhân lực
Hỗ trợ thiết bị phục vụ nghiên cứu

thuật ngữ về đánh giá KH&CN. Cấp độ thứ hai là các tiêu chuẩn kỹ thuật, bao gồm
các quy trình, nghĩa vụ và quyền hạn chính của các bên liên quan trong đánh giá.
Cấp độ thứ ba, bao gồm các cam kết đối với tiêu chuẩn, như làm thế nào để duy trì
tính độc lập, khách quan và công bằng. Tiêu chí đánh giá theo bộ Tiêu chuẩn:
- Tiêu chí về chính sách: Các hoạt động R&D có chú ý đến chính sách phát
triển của quốc gia không?
- Tiêu chí mục tiêu: Chương trình có phù hợp với mục tiêu R&D không?
- Tiêu chí kết quả: Các đầu ra/kết quả có theo đúng mục tiêu không?
- Tiêu chí hiệu suất: Các đầu ra có tối đa bởi đầu vào?
- Tiêu chí tác động: Tác động tích cực/tiêu cực dài hạn của R&D?
- Tiêu chí hiệu quả: Hoạt động R&D có hỗ trợ một cách hiệu quả không?
- Tiêu chí công bằng: Liệu hoạt động R&D có mang lại sự phân bổ không
công bằng về nguồn lực, lợi ích hoặc chi phí không?
NCSTE đã tiến hành đánh giá chương trình R&D CNC - 863 sau 15 năm
thực hiện theo các lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, năng lượng,

23
vật liệu tiên tiến và hải dương. Xác định và khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác
nhau là một nhân tố quan trọng trong việc đánh giá. Thông tin thu thập được chia
thành 3 loại:
- Loại A: Thông tin nội bộ do các Văn phòng quản lý chương trình cung cấp
- Loại B: Thông tin do các nhóm đánh giá thu thập độc lập, gồm phiếu điều tra,
thảo luận tại các hội thảo, điều tra hiện trường, hội nghị bàn tròn của các bên liên quan.
- Loại C: Thông tin và dữ liệu phù hợp với quy trình đánh giá và nghiên cứu.
Việc đánh giá Chương trình 863 được tiến hành theo phương thức hội nghị bàn
tròn để thảo luận công khai trên cơ sở tìm kiếm để đi đến sự thống nhất, đồng thuận từ
các quan điểm khác nhau thông qua đối thoại và tìm ra những sự khác nhau đó. Thành
phần chính tham gia vào hội nghị bàn tròn là những người có liên quan, đó là những
người chịu trách nhiệm quản lý chương trình hoặc những người liên quan trực tiếp đến
chương trình. Nguyên tắc của hội nghị bàn tròn: (1) đối thoại bình đẳng giữa các bên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status