ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÚY
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN
BỘ. Ý NGHĨA CỦA CHÚNG TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CẤP HUYỆN Ở VĂN LÂM – HƯNG YÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
BỘ CẤP HUYỆN Ở VĂN LÂM – HƯNG YÊN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH : CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
MÃ SỐ : 5.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ DƢƠNG VĂN DUYÊN
HÀ NỘI - 2005
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
6
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
cán bộ và công tác cán bộ, vai trò của người cán bộ trong sự nghiệp
cách mạng
6
1.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về cán bộ và công tác cán bộ
6
1.1.2 Vai trò của người cán bộ trong sự nghiệp cách mạng theo Tư
tưởng Hồ Chí Minh
12
1.2 Những phẩm chất cơ bản của người cán bộ theo Tư tưởng Hồ Chí
Minh
17
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức của người cách mạng
17
2.3 Những phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cấp
Huyện ở Văn Lâm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian tới
70
2.3.1 Những phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp Huyện theo tư
tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian tới
70
2.3.2 Những giải pháp cụ thể trong xây dựng đội ngũ cán bộ cấp Huyện
ở Văn Lâm trong thời gian tới
72
Kết luận
79
Danh mục tài liệu tham khảo
81
hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã giành được nhiều thành tựu đáng kể. Song
bên cạnh những mặt tích cực do công cuộc đổi mới đem lại còn có những vấn đề
nổi cộm lên làm cho chúng ta phải băn khoăn lo lắng khi mà “tình trạng tham
nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương
chính sách của Đảng, gây bất bình và giảm lòng tin trong nhân dân”. Do đó việc
tìm hiểu, nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ là một vấn đề có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất nước, Huyện
Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên - một Huyện có tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, lao
động, đất đai, tài nguyên, giao thông, thị trường, nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm ở phía Bắc, là một trong những vùng kinh tế động lực quan trọng của tỉnh
Hưng Yên - nói riêng đã tiến hành đổi mới và phát triển cơ cấu kinh tế và đã thu
được những thành tựu to lớn. Trong sự phát triển to lớn đó không thể không kể
tới vai trò của đội ngũ cán bộ cấp Huyện ở Văn Lâm. Họ là những người “công
bộc" của dân, người “đầy tớ” của dân và người "lãnh đạo" của dân. Họ sâu sát
với công việc, gần gũi với nhân dân và luôn luôn tuyên truyền, vận động và dẫn
dắt nhân dân làm theo đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước. Họ
xây dựng, chỉ đạo các mô hình phát triển kinh tế địa phương nhằm ngày một
nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Song bên cạnh
đó, chúng ta vẫn còn thấy những khó khăn, thách thức, hạn chế như là nhận
thức, tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa theo kịp yêu cầu
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Một bộ phận cán bộ về năng
lực, trình độ chuyên môn vẫn còn hạn chế so với yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra.
Một số còn vi phạm những phẩm chất đạo đức cán bộ, gây ra những hiện tượng
tiêu cực, làm mất lòng tin trong nhân dân.
Từ việc nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề cán bộ theo Tư tưởng
Hồ Chí Minh cũng như từ thực trạng của quá trình vận dụng Tư tưởng Hồ Chí
Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ cấp Huyện ở Văn Lâm - Hưng Yên, tác giả
đi vào nghiên cứu đề tài: “Một số nội dung cơ bản Tư tưởng Hồ Chí Minh về
như của Huyện Văn Lâm - Hưng Yên nói riêng, trong thời gian qua công tác cán
bộ tại Huyện đã hết sức được coi trọng, đặc biệt là công tác giáo dục chính trị, tư
tưởng, đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ban thường vụ Huyện uỷ đã xây
dựng Nghị quyết số 14-NQ/HU ngày 04/10/2001 chuyên đề về “Nâng cao chất
lượng sinh hoạt chi bộ, tăng cường rèn luyện đạo đức, lối sống đảng viên” cũng
như Nghị quyết số 26-NQ/HU ngày 10/03/2002 với chuyên đề về “Nâng cao chất
lượng giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên”.
Do đó, việc vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ vào điều kiện địa
phương và từ thực trạng đội ngũ cán bộ cấp Huyện ở Văn Lâm để tìm ra những
phương hướng và giải pháp mang tính hệ thống, hoàn chỉnh trong việc xây dựng
đội ngũ cán bộ cấp Huyện sẽ góp phần giúp Huyện Văn Lâm trong công tác cán
bộ ở giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ,
những phẩm chất cơ bản của người cán bộ, đào tạo, sử dụng cán bộ và từ thực trạng
của việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp Huyện ở Văn Lâm - Hưng Yên theo Tư tưởng
Hồ Chí Minh, tác giả nêu lên những giải pháp nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ
cấp Huyện ở Văn Lâm có đủ đức và tài đáp ứng những yêu cầu công nghiệp hoá -
hiện đại hóa của địa phương trong giai đoạn hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, Làm rõ những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về cán bộ, vai
trò, những phẩm chất cơ bản của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam
và công tác đào tạo, sử dụng cán bộ.
Hai là, Phân tích, làm rõ thực trạng quá trình vận dụng Tư tưởng Hồ Chí
Minh trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp Huyện ở Văn Lâm trong giai
đoạn hiện nay - những ưu điểm và hạn chế, nguyên nhân của chúng.
Ba là, Nêu lên những phương hướng, đề xuất những giải pháp nhằm xây
dựng một đội ngũ cán bộ cấp Huyện ở Văn Lâm vừa hồng vừa chuyên đáp ứng
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
1.1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH
MẠNG
1.1.1 Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về cán bộ và công tác cán bộ
Theo từ điển tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là:
1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước
(như cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị).
2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân
biệt với người thường không có chức vụ.
Theo gốc trong tiếng Pháp và tiếng Anh (Cadre) từ cán bộ theo cách hiểu
của Việt Nam có hai nghĩa. Một là cái khung, sườn và hai là lực lượng nòng cốt.
Theo từ điển Hành chính: “Cán bộ là người có đủ các điều kiện được
tuyển dụng vào làm việc ở các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập, tổ chức lực lượng vũ
trang; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, có trình độ chuyên
môn từ trung cấp trở lên. Từ cán bộ được sử dụng rộng rãi trong các nước Xã
hội Chủ nghĩa trước đây (cán bộ, công nhân). Cán bộ, công chức khi thi hành
nhiệm vụ, công vụ được pháp luật và nhân dân bảo vệ”. [15. 46]
Theo cách hiểu thông thường trong đời sống xã hội: Cán bộ được coi là tất
cả những người thoát ly, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể,
quân đội, được hưởng lương hoặc phụ cấp.
a. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ.
Ngay từ khi bắt gặp ánh sáng cách mạng của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ
Chí Minh sớm nhận thức được vị trí, vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách
mạng. Tháng 6 năm 1923, Người rời nước Pháp đi Liên Xô dự Đại hội V Quốc tế
máy cũng tê liệt. Trong đời sống kinh tế - xã hội, sự chuyển động của xã hội được
coi như một “cỗ máy” khổng lồ. Trong "cỗ máy" đó, cán bộ là dây chuyền là “cầu
nối” giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân. Đây là một "dây chuyền" đặc biệt, vì: Theo
Tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ là người xây dựng nên đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước sao cho phản ánh đúng lợi ích của các tầng lớp nhân
dân, phù hợp với thực tiễn đời sống của xã hội. Cán bộ cũng là người tuyên truyền
đường lối, chính sách của Đảng với nhân dân, là người thực thi pháp luật của Nhà
nước, “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích
cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo
cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. [32. 269]
Bác Hồ trong suốt cuộc đời cách mạng của mình rất mực quan tâm đến cán
bộ và công tác cán bộ. Cán bộ mà chúng ta bàn tới ở đây theo quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh là những người làm trong các cơ quan, đoàn thể, công sở, lực
lượng vũ trang. Họ có thể giữ chức vụ chỉ huy, phụ trách, quản lý, lãnh đạo hoặc
làm công tác nghiệp vụ, chuyên môn đơn thuần.
Tóm lại, cán bộ là những người hoạt động trong những thời kỳ cách mạng,
thoát ly, có hưởng lương hoặc phụ cấp để phân biệt với nhân dân và là đầy tớ của
nhân dân. Tuy nhiên, trong các bài viết, tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh nhấn
mạnh nhiều đến cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, những người chịu trách
nhiệm trực tiếp và to lớn, nặng nề trước nhân dân và toàn dân tộc.
b. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề cán bộ, công tác cán bộ
“Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận
mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ”. [10. 66] Trong quá trình lãnh đạo cách
mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ và coi đây là một trong những vấn
đề có vai trò quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Trong
công cuộc đổi mới đất nước, cán bộ cũng có vai trò cực kỳ quan trọng, hoặc thúc
đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đất nước…”. [10. 24] Trong lãnh đạo, quản lý Nhà
nước, cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa quan trọng và là khâu then chốt. Nhận
thức sâu sắc về vai trò, vị trí của cán bộ và công tác cán bộ, Đảng ta đã đề ra
Như vậy, người cán bộ có phẩm chất chính trị là người vững vàng, kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành với Đảng, với chủ nghĩa
Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Người cán bộ có đạo đức cách mạng là người
có lối sống trung thực, không tham vọng cá nhân, không kèn cựa địa vị, không cơ hội,
không tham nhũng, có lối sống giản dị trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống tham
nhũng và những biểu hiện tiêu cực khác, khắc phục chủ nghĩa cá nhân.
Đánh giá kết quả đổi mới của đất nước trong những năm qua, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta vượt qua một giai đoạn
thử thách gay go trong hoàn cảnh hết sức phức tạp, khó khăn, nhân dân ta không
những vững vàng mà còn vượt lên, đạt những thắng lợi trên nhiều mặt”. [8. 62] Để có
được những kết qủa đó, cần phải nói tới vai trò của công tác cán bộ trong thời gian
qua. Đội ngũ cán bộ, công chức và nhất là cán bộ lãnh đạo và quản lý, đại bộ phận
đã được rèn luyện thử thách trong đấu tranh cách mạng và thực tiễn xây dựng kinh
tế, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần độc lập tự chủ, kiên định lý tưởng
và mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, quyết tâm
tiến hành thành công công cuộc đổi mới đất nước.
Thực hiện quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, đồng thời thấy được
tầm quan trọng của công tác cán bộ, ngày 26/02/1998 Quốc hội đã ban hành Pháp
lệnh về Cán bộ, công chức; đến năm 2003, Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về
cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2003. Việc ban hành Pháp lệnh này
đã thể hiện sự quan tâm thích đáng của Nhà nước tới công tác cán bộ, góp phần
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức từ việc thể chế hoá những tiêu
chuẩn, quy định về công việc, hành vi, trách nhiệm…của từng cán bộ, công chức
trong hoạt động công tác.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ ở nước ta trong thời kỳ mới,
Đảng và Nhà nước ta ngày càng chú trọng đến công tác cán bộ nhằm từng bước
bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo
quản lý, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng ngang tầm với nhiệm vụ hiện
nay, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.Công tác cán bộ phải
đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện nguyên tắc tập
ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức
hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội;
d. Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;
e. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm
việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải sĩ quan, hạ sĩ
quan chuyên nghiệp;
g. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ;
người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là cấp xã);
h. Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã”. [5. 6,7,8]
Như vậy, có thể xem cán bộ là những người làm việc trong các cơ quan
của Đảng, Nhà nước hoặc Đoàn thể, có hưởng lương hoặc phụ cấp. Họ cần có
đủ tài năng và đạo đức để phục vụ nhân dân.
1.1.2 Vai trò của ngƣời cán bộ trong sự nghiệp cách mạng theo Tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh.
a. Sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nói tới Tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một hệ thống lớn, một chỉnh
thể tư tưởng lý luận - phương pháp và phong cách, chúng ta cần đặc biệt nhấn
mạnh tới tư tưởng của Người về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,
“đây là một tư tưởng nổi bật và bao trùm, là tư tưởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt Tư tưởng Hồ Chí Minh”. [12. 59]
Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
chẳng những chúng ta nhận thấy sự trung thành của Người đối với Chủ nghĩa
Mác - Lênin, mà còn thấy Người đã vận dụng đúng đắn sáng tạo những nguyên
nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm
cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các động lực của chủ nghĩa xã hội là một tập
hợp nhiều nhân tố, là cả một hệ thống động lực chứ không phải một động lực
nào là duy nhất. Chúng phối hợp, tác động lẫn nhau chứ không tồn tại riêng lẻ,
biệt lập. Các động lực ấy muốn phát huy được tác dụng đều phải thông qua con
người, do đó động lực chủ đạo, bao trùm lên tất cả là động lực con người. Người
thường nói “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có con người xã hội
chủ nghĩa”. [37. 310]
Người cũng lưu ý chúng ta: Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu,
công cuộc đổi xã hội cũ thành xã hội mới gian nan, phức tạp hơn việc đánh giặc,
do đó tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều. Đó là một công
tác tổ chức và giáo dục. Từ việc nhận thức những mâu thuẫn, khó khăn trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Người xác định thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một thời kỳ lịch sử lâu dài, cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất.
Để đảm bảo vượt qua những khó khăn, thử thách đó, để xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, theo Người, phải chú trọng làm cho vững
mạnh những nhân tố bảo đảm sau đây:
- Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng
- Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước
- Phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị- xã hội.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng, có năng lực trình độ
chuyên môn giỏi, tận tâm phục vụ quần chúng…
Từ những nhân tố đó, có thể thấy mấu chốt của vấn đề là tổ chức và con
người, từ bộ máy Đảng và Nhà nước phải trong sạch vững mạnh đến cán bộ, đảng
viên, công chức phải liêm khiết, tận tụy, thạo chính trị, giỏi chuyên môn. Người
cách mạng phải hiểu và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ
thể ở Việt Nam, phải luôn luôn miệng nói, tay làm, nói đi đôi với làm, học tập nâng
cao trình độ để phục vụ cuộc sống cho dân ngày một tốt hơn.
phức tạp, lâu dài gian khổ, bởi: Việt Nam từ một nước sản xuất nhỏ quá độ lên
Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa lại càng khó khăn hơn các
nước khác, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, năng suất lao động thấp,
trình độ dân trí còn hạn chế. Vì vậy, trong các lĩnh vực xây dựng chính quyền,
kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ có năng lực để đảm nhiệm được
những nhiệm vụ của cách mạng. Do đó, cán bộ phải thật sự “nhúng tay” vào
việc, phải cùng với nhân dân bàn bạc và tìm ra cách giải quyết có hiệu quả nhất
“việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng và giải thích cho dân chúng”. [32. 295]
- Cán bộ là người tổng kết thực tiễn, từ thực tiễn cuộc sống phải tiếp tục
bổ sung lý luận và phát triển lý luận, vì thực tiễn thay đổi nhanh hơn so với lý
luận cũng như thực tiễn rất phong phú và phức tạp, do đó đòi hỏi cán bộ không
chỉ có phẩm chất tốt mà còn phải có năng lực, trình độ cao để đáp ứng được yêu
cầu, nhiệm vụ của công việc, để có thể bổ sung và hoàn thiện đường lối, chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Do đó, nói đến cán bộ là nói đến "tiền vốn của Đoàn thể". [33. 46] Có vốn
mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì sẽ thành
công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì sẽ hỏng việc, tức là lỗ vốn. Vì vậy,
để thực hiện được những nhiệm vụ nặng nề của cách mạng, chúng ta cần có một
đội ngũ cán bộ biết "Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên
trước lợi ích riêng của cá nhân mình, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng,
vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc". [36. 285] Như
vậy, khi bàn đến vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh đã không đề cập cán bộ một cách
chung chung, mà Người đã sử dụng cán bộ "có tính từ". Đó là “cán bộ tốt”, “cán
bộ kém”, “cán bộ dở”. Mà "muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ
tốt hoặc kém". Nói cụ thể, có cán bộ tốt thì mọi việc mới thành công.
Khẳng định vai trò của người cán bộ cần phải hiểu rằng không phải đã là
cán bộ thì chỉ có tính tốt. Mà cán bộ cũng là người, ai cũng có tính tốt và tính
xấu. Song đã là người cán bộ cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính
tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì "tính xấu của một người thường chỉ có hại cho
người đó, còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại
ích của cá nhân, phải "Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu
tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc". [36. 285]
Người cách mạng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững những
nguyên lí của Chủ nghĩa Mác- Lênin, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam và kiên quyết đấu tranh để bảo vệ lý luận Chủ nghĩa Mác- Lênin. Hồ Chí
Minh coi lý luận như là "trí khôn", là "ánh sáng", là "tâm hồn" và "tình cảm" của
mọi cán bộ, đảng viên, vì vậy nó được coi như là "kim chỉ nam" để chỉ phương
hướng cho cán bộ trong hoạt động thực tiễn. Theo Người, "Không có lý luận thì
lúng túng như nhắm mắt mà đi" và "Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì
thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận
suông". [35. 496] Do đó, người cách mạng luôn luôn phải nắm vững và vận
dụng lý luận một cách linh hoạt vào hoạt động thực tiễn, tránh rơi vào bệnh dập
khuôn máy móc, giáo điều hay bệnh cục bộ, địa phương chủ nghĩa.
Thực hiện nghiêm kỷ luật của Đảng, đảm bảo kỷ luật chiến đấu, kỷ luật
lao động. Vì nếu trong một tổ chức mà người cách mạng không thực hiện
nghiêm kỷ luật thì sẽ dẫn đến mạnh ai nấy làm, không theo một quy định chung,
có sự xáo trộn và không tạo ra được sức mạnh tổng hợp. Nếu người cán bộ
không thực hiện nghiêm kỷ luật trong chiến đấu sẽ dẫn tới những tổn thất cho
cách mạng, và ảnh hưởng đến đồng đội. Còn trong lao động sẽ có thể dẫn tới
những tai nạn trong lao động, ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng công việc
chung. Tóm lại, khi người cách mạng không thực hiện nghiêm kỷ luật sẽ dẫn tới
phạm phải những sai lầm cá nhân, ảnh hưởng tới tổ chức và làm mất uy tín của
Đảng đối với nhân dân…
Người cán bộ phải ra sức học tập, không ngừng nâng cao trình độ lý luận
chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Vì để hoàn thành được những nhiệm
vụ, những công việc của mình, người cán bộ phải luôn luôn rèn luyện phấn đấu
không ngừng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ra sức học tập Chủ
nghĩa Mác - Lênin. Có nâng cao trình độ lý luận chính trị, người cán bộ mới
vững vàng trong công việc, mới có tri thức để vận động nhân dân tham gia tích
cực vào công cuộc giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng xã hội mới.
b. Đức là gốc của ngƣời cách mạng
Hồ Chí Minh đã lấy những ví dụ đơn giản trong cuộc sống để so sánh và
làm nổi bật vai trò đạo đức của người cách mạng: "Đức là gốc của người cách
mạng", vì theo Người: cây thì phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người
cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không
lãnh đạo được nhân dân. Việc giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho nhân loại
là một công việc to tát tự mỗi người không thể làm nổi mà cần phải có sự giúp
sức của nhiều người. Do vậy người cách mạng nếu không có đạo đức thì không
được dân ủng hộ, sẽ không làm nổi việc gì. Do đó, đã là cán bộ thì phải có đạo
đức cách mạng, giữ được đạo đức cách mạng mới là người cán bộ chân chính.
Chính việc tu dưỡng đạo đức của người cán bộ là tấm gương sáng cho quần
chúng noi theo bởi “cán bộ, đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Cũng vì "vấn đề
cán bộ quyết định mọi việc" nên "mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có
thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không". Tuy nhiên một vấn đề khác cũng rất
thông thường, hiển nhiên như Hồ Chí Minh đã giải thích là khi con người đã có chút
quyền hành - quyền to, quyền nhỏ - mà thiếu lương tâm, thì dễ trở nên hủ bại, sâu
mọt của dân. Vì vậy, hơn ai hết, cán bộ phải luôn luôn là đội tiên phong trong việc
thấm nhuần "tri" và "hành" về đạo đức cách mạng.
Người cán bộ có đạo đức cách mạng mới luôn gần gũi với nhân dân, mới
được dân tín nhiệm và cử vào các cơ quan lãnh đạo, cơ quan chính quyền và khi
đó mới có điều kiện để cống hiến trí và lực của mình cho cách mạng, thông qua
trường học quần chúng quần chúng mà bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, phát triển
tài năng của mình.
Người cán bộ có đạo đức cách mạng mới dám chấp nhận những hy sinh
mất mát, đặt quyền lợi của cá nhân dưới lợi ích của dân tộc, của đất nước. Thông qua
uy tín của người cán bộ mà tập hợp nhân dân, động viên quần chúng tham gia vào
các phong trào cách mạng. Đạo đức cách mạng do những đặc tính của nó, nên có sức
mạnh cảm hoá, thuyết phục và lôi cuốn lòng người, từ đó mà tập hợp được lực lượng