Báo cáo tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một loại hình doanh nghiệp không
những thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà
còn đặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển. Ở nước ta
trước đây, việc phát triển các DNVVN cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi
có đường lối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các
doanh nghiệp này mới thực sự phát triển nhanh cả về số và chất lượng.
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN là bước đi
hợp quy luật đối với nước ta. DNVVN là công cụ góp phần khai thác toàn diện
mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn tiềm tàng sẵn có ở mỗi người,
mỗi miền đất nước. Các DNVVN ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình
trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan tâm chú ý
đến đó là: Tăng trưởng kinh tế - giải quyết việc làm.
Nhưng để thúc đẩy phát triển DNVVN ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết
hàng loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên quan đến
nhiều vấn đề. Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất đó là thiếu
vốn sản xuất và đổi mới công nghệ. Vậy DNVVN phải tìm vốn ở đâu trong điều
kiện thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển và bản thân các doanh nghiệp
này khó đáp ứng đủ điều kiện tham gia, chúng ta cũng chưa có chính sách hỗ trợ
các doanh nghiệp này một các hợp lý. Vì vậy phải giải quyết khó khăn về vốn
cho các DNVVN đã và đang là một vấn đề cấp bách mà Đảng, Nhà nước, bản
thân các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng cùng phải quan tâm giải quyết.
Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho phát
triển DNVVN còn rất hạn chế vì các DNVVN khó đáp ứng đầy đủ điều kiện vay
vốn ngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các doanh nghiệp lại sử
dụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả. Vì thế việc tìm ra giải pháp nhằm mở rộng
hoạt động tín dụng đối với các DNVVN đang là một vấn đề bức xúc hiện nay
của các NHTM. Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động của các
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại PGD Lò Đúc - Chi nhánh Hà Nội - Ngân hàng Việt Nam Thuơng Tín.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động tín dụng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Lò Đúc - Chi nhánh Hà Nội , Ngân hàng
Việt Nam Thuơng Tín.
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
2
Báo cáo tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.1. Khái niệm
a. Khái niệm doanh nghiệp
Theo khoản 1 điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thì: Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,
được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện
các hoạt động kinh doanh.
b. Khái niệm DNVVN
Ở Việt Nam, do chưa có tiêu chí xác định cụ thể đâu là doanh nghiệp nhỏ
đâu là doanh nghiệp vừa nên một số cơ quan Nhà nước, một số tổ chức hỗ trợ đã
chủ động đưa ra các tiêu chí quy định DNVVN để phục vụ cho công tác của
mình như:
- NHCT Việt Nam quy định: là doanh nghiệp có dưới 500 lao động, vốn cố
định < 10 tỷ, vốn lưu động < 8 tỷ, doanh thu tháng < 20 tỷ đồng.
- Liên Bộ Lao động và Tài chính: Lao động thường xuyên < 100 người,
doanh thu năm < 10 tỷ, vốn pháp định < 1 tỷ đồng.
- Dự án VIE/US/95/004 Hỗ trợ DNVVN ở Việt Nam: Lao động < 200
người, vốn đăng kí < 0.4 triệu USD (5 tỷ VND).
Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành nghị định số 90/2001/NĐ - CP về
I. Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
II. Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
nhỏ gọn, ít cấp bậc, thường không bị chồng chéo. Cũng chính vì cơ cấu tổ chức
đơn giản và gọn nhẹ của các DNVVN được đi cùng với cơ chế quản lý, điều
hành hết sức linh hoạt đã đem lại hiệu quả tích cực trong quản trị doanh nghiệp.
Chi phí quản lý của các DNVVN tương đối thấp. Thời gian đưa ra quyết định
của các DNVVN ngắn, do đó có thể đưa ra quyết định nhanh chóng và hiệu quả
đối với những vấn đề liên quan đến sản xuất kinh doanh khiến cho kế hoạch kinh
doanh có thể được xây dựng và điều chỉnh sát với các biến động thực tế trên thị
trường cũng như các nguồn lực nội tại của doanh nghiệp như vốn, nhân sự, trình
độ kỹ thuật…
- Các DNVVN rất năng động và có tính linh hoạt cao. DNVVN có thể sử
dụng linh hoạt các loại máy móc, thiết bị nội địa, dễ dàng thay đổi công nghệ sao
cho phù hợp với yêu cầu của thị trường, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật mà không
cần nhiều chi phí; có thể kết hợp cả những công nghệ truyền thống với công
nghệ hiện đại, sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao trong điều kiện sản
xuất không thuận lợi. Hơn thế, do nhạy cảm với những biến động của thị trường
và khả năng phản ứng lại thị trường cũng rất linh động, các DNVVN có thể
chuyển đổi nhanh mặt hàng sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng;
tận dụng được các nguồn nguyên vật liệu, nhân lực tại chỗ.
- DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế
và hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Với quy mô
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
5
Báo cáo tốt nghiệp
khiêm tốn của mình, các DNVVN có thể hoạt động trong cả những lĩnh vực mà
những doanh nghiệp lớn không muốn tham gia hoặc không thể vươn tới, do đó
nó có thể tạo ra một lượng cung hàng hóa đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhất mọi nhu
cầu tiêu dùng, dù là nhỏ nhất của tất cả các tầng lớp xã hội. Các DNVVN có số
lượng lớn, phân bố rộng khắp trên cả nước, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của
nền kinh tế và hoạt động dưới nhiều hình thức như DNNN, doanh nghiệp tư
nhân, CTCP, CT TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở
hội để phát triển thấp tại các doanh nghiệp này cũng tác động làm cho nhiều
người lao động có kỹ năng tay nghề cao không muốn làm việc cho khu vực này.
- Hạ tầng cơ sở phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế, máy
móc thiết bị lạc hậu, chi phí đầu vào cho sản xuất lớn. Hiện nay phần lớn công
nghệ mà các DNVVN đang sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm, có khi vài chục
năm, như trong ngành điện tử là khoảng 15 - 20 năm, ngành cơ khí là 20 năm,
70% công nghệ ngành dệt may đã sử dụng được 20 năm. Tỷ lệ đổi mới trang
thiết bị trung bình hàng năm chỉ ở mức 5 - 7% so với mức 20% của thế giới. Kỹ
thuật, công nghệ lạc hậu đã kéo theo hiệu quả sử dụng vốn thấp, đồng thời làm
chi phí đầu vào tăng.
- DNVVN thường gặp khó khăn về tiếp cận những nguồn thông tin, công
nghệ tiên tiến. Đó là một trở ngại lớn khó vượt qua do công nghệ mới thường rất
đắt nên các DNVVN thường không đủ nguồn vốn để đầu tư ngay vào lĩnh vực
này.
- Chưa có khả năng liên kết, hợp tác giữa các DNVVN với nhau, với các
hiệp hội, với phòng thương mại, với ngân hàng… Tính thực thi các chính sách
hỗ trợ của Chính phủ còn hạn chế. Dẫn đến năng lực cạnh tranh của các
DNVVN kém.
1.1.2. Vai trò của DNVVN đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam
Kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực vào ngày 01/01/2000, khu vực
kinh tế tư nhân, đặc biệt là các DNVVN trở thành khu vực kinh tế năng động
nhất. Với xuất phát điểm là một nền kinh tế kém phát triển, sản xuất nhỏ lẻ phổ
biến, nên các DNVVN chiếm một tỷ trọng đáng kể trong các loại hình doanh
nghiệp tại Việt Nam. Các DNVVN đã và đang trở thành một lực lượng kinh tế
quan trọng, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế và đóng góp vào nguồn
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
7
Báo cáo tốt nghiệp
thu đáng kể cho Ngân sách Nhà nước. Từ năm 2000 đến năm 2006, Việt Nam có
207.034 doanh nghiệp dân doanh (chủ yếu là các DNVVN) đăng ký kinh doanh
Báo cáo tốt nghiệp
thể khai thác rộng khắp các tài nguyên của từng vùng. Việc nhiều doanh nghiệp,
chủ yếu là các DNVVN được thành lập tại các vùng nông thôn, vùng núi, vùng
sâu vùng xa sẽ góp phần trong việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theo
hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và
dịch vụ.
Các DNVVN góp phần làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế. Sự ra đời của các DNVVN đã làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, cùng
một lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp phải chấp
nhận cạnh tranh, phải liên tục đổi mới, làm ăn có hiệu quả để có thể tồn tại và
phát triển.
DNVVN đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng phong phú, đa
dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được. Hoạt động sản xuất kinh
doanh của các DNVVN đã phát triển hầu khắp các lĩnh vực, rất đa dạng và
phong phú như: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Nếu trong
những năm trước đây, vốn đầu tư của khu vực tư nhân và số lượng doanh nghiệp
tư nhân thành lập mới hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại thì trong
thời gian gần đây có xu hướng tăng lên trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, du
lịch, xây dựng, giao thông…
1.1.3. Các nguồn huy động vốn của DNVVN
a. Nguồn tài chính phi chính thức
- Vay từ người quen, người thân nhưng lượng vốn huy động không nhiều và
không có sẵn khi cần thiết.
- Vay từ người cho vay nặng lãi, mặc dù không cần tài sản thế chấp và có
thể đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu vay nhưng hình thức này lại có chi phí rất cao.
- Vay thông qua hình thức trả chậm, chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các
doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp với nhà cung cấp các yếu tố đầu vào.
Trong việc tài trợ cho các DNVVN, các nguồn tài chính phi chính thức này
có một số lợi thế nhất định là khá linh hoạt, chi phí giao dịch thường thấp hơn,
mà các DNVVN khó có thể đáp ứng được.
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
10
Báo cáo tốt nghiệp
1.2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.2.1. Khái niệm, đặc trưng, phân loại tín dụng ngân hàng
a. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Creditum có nghĩa là một sự tin
tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn
nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo K.Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ
người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với
một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Theo quan điểm này phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu đó là: tính
chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi
vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình
thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá trình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn sau:
- Thứ nhất: phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay. Ở giai đoạn này,
giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận
được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị.
- Thứ hai: sử dụng vốn trong quá trình tái sản xuất. Người đi vay sau khi
nhận được giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãn
nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình. Tuy nhiên, người đi vay chỉ được
quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền sở
hữu về giá trị đó.
- Thứ ba: đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau
khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kì sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì
vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay.
lưu thông tiền tệ.
- Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro. Đó là những
khoản lỗ tiềm năng mà ngân hàng phải gánh chịu khi đến hạn khách hàng không
thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình.
c. Phân loại tín dụng ngân hàng
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
12
Báo cáo tốt nghiệp
Hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác
nhau. Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả thì phải tiến hành phân loại tín
dụng. Mặt khác, để đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh thì việc cấp tín dụng
phải gắn liền với đối tượng vay, để tạo điều kiện cho sự vận động của vốn phù
hợp với sự vận động của vật tư hàng hóa thì phải tiến hành phân loại tín dụng.
* Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm (một số nước
quy định dưới 2 năm). Tín dụng ngắn hạn được dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạm
thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của
các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại tín
dụng này được cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kĩ thuật, mở
rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để
cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình
thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay…), cải tiến và mở rộng sản
xuất với quy mô lớn.
* Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn
lưu động của các tổ chức kinh tế, có nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu động thiếu
hụt tạm thời. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay
chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu
doanh nghiệp không được đáp ứng tối đa mà quy mô của khoản vay còn tùy
thuộc vào các điều kiện, các quy định vay vốn của ngân hàng, của pháp luật…
Mặt khác, nếu quy mô vốn vay quá lớn sẽ làm tăng chi phí trả lãi dẫn đến tăng
giá sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Do vậy buộc doanh
nghiệp phải xây dựng cơ cấu vốn tối ưu. Cơ cấu vốn tối ưu là sự kết hợp hợp lý
nhất các nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp nhằm
mục đích tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp tại mức giá vốn bình
quân rẻ nhất.
* Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho sự ra đời và phát triển của các DNVVN;
tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên,
liên tục và mở rộng sản xuất kinh doanh.
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
14
Báo cáo tốt nghiệp
Ngân hàng không những hỗ trợ cho DNVVN trong quá trình hoạt động và
phát triển mà còn hỗ trợ cho doanh nghiệp ngay từ khi mới hình thành và đi vào
hoạt động ban đầu. Nếu như không có sự hỗ trợ của ngân hàng thì các DNVVN
sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt
động sản xuất kinh doanh, thậm chí không thành lập được. Nhiều doanh nghiệp
ra đời, song do hạn chế về vốn nên không có khả năng sử dụng công nghệ, thiết
bị hiện đại dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao, thiếu sức
cạnh tranh và khó đứng vững trên thương trường. Để có thể hoạt động thường
xuyên liên tục các DNVVN phải có đủ vốn để đáp ứng các nhu cầu cho sản xuất
kinh doanh, tuy nhiên nguồn vốn tự có của doanh nghiệp lại không thể đáp ứng
được nhu cầu cần thiết. Vì vậy vốn tín dụng ngân hàng là một giải pháp hữu
hiệu. Tín dụng ngân hàng còn giúp các DNVVN tái sản xuất mở rộng, phát triển
các ngành nghề mũi nhọn.
* Tín dụng ngân hàng giúp các DNVVN tổ chức sản xuất kinh doanh có
hiệu quả từ đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DNVVN trên thị
trường.
nước ngoài.
Nếu chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng tốt, các sản phẩm dịch vụ
cung cấp với chất lượng cao, sẽ góp phần tạo ra một cơ sở hạ tầng tài chính của
nền kinh tế vững mạnh, từ đó sẽ tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài trực
tiếp, gián tiếp cũng như các nguồn vốn hỗ trợ phát triển của các tổ chức nước
ngoài. Và như vậy, nguồn vốn để các DNVVN có thể tiếp cận sẽ ngày càng được
mở rộng.
* Tín dụng ngân hàng là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế,
góp phần chống lạm phát, ổn định tiền tệ và giá cả, từ đó tạo ra môi trường kinh
doanh thuận lợi cho DNVVN.
Thông qua tín dụng ngân hàng, có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung
ứng trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ. Với việc
cung ứng tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng đã góp phần mở
rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thực hiện việc dẫn dắt các luồng
tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu
quả, thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô, góp phần tạo ra một môi trường
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
16
Báo cáo tốt nghiệp
kinh doanh ổn định, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và
DNVVN nói riêng.
Như vậy, DNVVN có thể ra đời, tồn tại và phát triển thì rất cần sự hỗ trợ từ
phía ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng là chủ yếu. Qua đó có thể thấy,
việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN là thực sự quan trọng, cần
thiết và đúng đắn, phù hợp với chủ trương, định hướng chính sách tăng cường hỗ
trợ phát triển DNVVN của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.
1.2.3. Các phương thức cho vay áp dụng đối với DNVVN
a. Cho vay ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng dành cho doanh nghiệp là loại cho vay có
thời hạn dưới một năm, thường được dùng để bổ sung vốn lưu động thiếu hụt
nhận lấy một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lợi tức chiết khấu và hoa hồng phí
(nếu có). Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ là
khá chắc chắn. Tuy nhiên có thể phát sinh các giấy tờ có giá giả mạo, vì vậy các
ngân hàng phải có các biện pháp để hạn chế loại rủi ro này.
b. Cho vay trung, dài hạn
Nguồn vốn vay trung và dài hạn ngân hàng là nguồn vốn quan trọng, đáp
ứng các nhu cầu sau đây của doanh nghiệp:
- Nhu cầu về tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên;
- Trả các khoản nợ hiện hữu;
- Thành lập doanh nghiệp mới hoặc mua lại doanh nghiệp đang hoạt động.
Trong đó tài trợ cho nhu cầu về tài sản cố định và tài sản lưu động thường
xuyên là chủ yếu nhất. Bao gồm:
* Cho vay theo dự án đầu tư: Đây là khoản tín dụng tài trợ cho việc đầu
tư mua sắm tài sản cố định hay xây dựng các công trình được dự tính sẽ mang lại
thu nhập trong tương lai. Thông thường các doanh nghiệp yêu cầu được vay một
khoản trọn gói dựa trên chi phí dự tính của dự án đã đề xuất và cam kết thanh
toán khoản vay làm nhiều lần.
* Cho vay hợp vốn: là hình thức cho vay trong đó một nhóm các tổ chức
tài chính cùng liên kết lại để tập hợp vốn cho một khách hàng vay. Hình thức
cho vay này là cần thiết khi nhu cầu vay vốn của khách hàng vượt quá khả năng
cho vay của một tổ chức tài chính, khi người cho vay muốn phân tán tiền vay để
hạn chế rủi ro; đặc biệt đối với các tổ chức tài chính nhỏ, có trình độ nghiệp vụ
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
18
Báo cáo tốt nghiệp
chưa cao muốn thông qua nghiệp vụ này để có thể tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm,
kỹ thuật cho vay của các tổ chức tài chính lớn. Hơn nữa, đối với doanh nghiệp đi
vay thì hình thức cho vay này có thể đáp ứng ngay một lần nhu cầu vốn lớn, hạn
chế chi phí về thời gian và tiền bạc khi phải vay nhiều lần ở nhiều tổ chức tài
chính.
hoạt động tín dụng bị thu hẹp cũng đang đến gần. Điều đó thúc đẩy các NHTM
phải tìm kiếm thị trường ngách mà thị trường đầy tiềm năng đó là DNVVN và
khu vực kinh tế tư nhân.
Hơn nữa, theo xu hướng phát triển, các DNVVN đang ngày càng có vai trò
quan trọng và trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế. Đặc biệt là
Việt Nam bước vào hội nhập từ một nền kinh tế chưa phát triển, DNVVN đóng
vai trò quan trọng trong việc huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển,
giải quyết công ăn việc làm tạo thu nhập cho dân cư, tăng GDP. Theo chỉ đạo
của Chính phủ đến năm 2011, cả nước sẽ có 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa,
tạo việc làm cho khoảng 20 triệu người.
Tất cả những điều đó cho thấy việc mở rộng cho vay các DNVVN là giải
pháp phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế, phù hợp với chủ trương
đường lối của Đảng và Nhà nước giúp cho các ngân hàng chuyển dịch cơ cấu
hợp lý, tăng trưởng tín dụng, đa dạng hóa các danh mục đầu tư cho vay, phân tán
rủi ro, tăng thu nhập nâng cao vị thế cạnh tranh cho các ngân hàng.
b. Đối với DNVVN
Đa phần các DNVVN luôn trong tình trạng thiếu vốn, “khát vốn” cho mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc, trang thiết bị mới.
Mở rộng tín dụng ngân hàng sẽ giúp các doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội để
tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của ngân hàng hơn, vì hiện tại khả năng tiếp cận
vốn ngân hàng của DNVVN còn rất nhiều hạn chế, trở ngại và khó khăn. Được
cấp vốn tín dụng ngân hàng sẽ là một động lực quan trọng giúp DNVVN nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng tính cạnh
tranh - yếu tố quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Đồng thời những
năng lực, thế mạnh của từng DNVVN sẽ không ngừng được bộc lộ và phát huy.
c. Đối với nền kinh tế
Việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN góp phần làm cho
nguồn vốn được luân chuyển hiệu quả, đến những nơi đang thực sự khát vốn
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
20
đồng nghĩa với việc không bó hẹp trong phạm vi một số đối tượng khách hàng
SV: Bùi Thị Thu Phương Lớp: NH10B
21
Báo cáo tốt nghiệp
nhất định, một số ngành nghề kinh doanh nhất định mà ngân hàng có thể thực
hiện mở rộng tín dụng trên cơ sở thiết lập mối quan hệ tín dụng với nhiều ngành
nghề, nhiều đối tượng hoạt động kinh doanh như: nông, lâm, ngư nghiệp, công
nghiệp, du lịch, vận tải, dịch vụ, xây dựng…
* Thứ ba: Mở rộng tín dụng đồng nghĩa với việc đa dạng hóa các sản phẩm
tín dụng.
Sản phẩm tín dụng của ngân hàng ngày càng đa dạng đáp ứng một cách tốt
nhất mọi nhu cầu của khách hàng. Trên cơ sở thiết lập nhiều hình thức cho vay
như: ngắn, trung, dài hạn; hay cho vay theo hạn mức tín dụng; cho vay từng lần;
cho vay theo hạn mức thấu chi; cho vay đồng tài trợ; cho vay cầm cố giấy tờ có
giá… các doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn các hình thức tín dụng phù hợp
với yêu cầu sản xuất kinh doanh của mình.
Như vậy đối với ngân hàng, để mở rộng tín dụng đối với DNVVN ngân
hàng cần phải:
- Mở rộng mạng lưới cấp tín dụng trên cơ sở đó tăng khả năng tiếp cận và
làm đa dạng hóa đối tượng khách hàng.
- Tăng tỷ trọng tín dụng đối với DNVVN trong tổng dư nợ.
- Tiến hành mở rộng thị phần cho vay đối với DNVVN.
1.3.3. Các tiêu thức đánh giá mức độ mở rộng tín dụng ngân hàng đối với
DNVVN
Việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN được thể hiện thông qua
khả năng thỏa mãn ngày càng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng là DNVVN về
khối lượng tín dụng, lĩnh vực cấp tín dụng, thông qua việc đa dạng hóa các sản
phẩm tín dụng cho các DNVVN. Trên cơ sở chung đó, mức độ mở rộng tín dụng
ngân hàng DNVVN được đánh giá cụ thể qua các chỉ tiêu sau:
a. Mở rộng số lượng khách hàng DNVVN
Trong đó:
TĐ
SL
: Tốc độ tăng số lượng khách hàng là DNVVN.
M
SL
: là mức tăng số lượng khách hàng là DNVVN.
S
t - 1
: là số lượng khách hàng DNVVN năm thứ (t - 1).
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thay đổi số lượng khách hàng DNVVN năm
nay so với năm trước.
* Tỷ trọng số lượng khách hàng DNVVN.
S
*
TT
SL
= *100%
S
Trong đó:
TT
SL
: Tỷ trọng số lượng khách hàng là DNVVN.
S
*
: Số lượng khách hàng DNVVN có quan hệ tín dụng với ngân hàng.
S: Số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng.
Chỉ tiêu này phản ánh số lượng khách hàng DNVVN chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng số khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng.
b. Mở rộng doanh số cho vay DNVVN
TĐ
DS
= *100% DS
t - 1
Trong đó:
TĐ
DS
: Tốc độ doanh số cho vay đối với DNVVN.
M
DS
: là mức tăng doanh số cho vay đối với DNVVN.
DS
t - 1
: là doanh số cho vay đối với DNVVN năm thứ (t - 1).
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thay đổi doanh số cho vay đối với DNVVN
năm nay so với năm trước.
* Tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN so với tổng doanh số cho vay.
DS
*
TT
DS
= *100%
DS
Trong đó:
TT
DS
: Tỷ trọng doanh số cho vay đối với DNVVN so với tổng doanh số cho
* Tốc độ tăng dư nợ tín dụng đối với DNVVN. M
DN
TĐ
DN
= *100% DN
t - 1
Trong đó:
TĐ
DN
: Tốc độ tăng dư nợ tín dụng đối với DNVVN.
M
DN
: là mức tăng dư nợ tín dụng đối với DNVVN.
DN
t - 1
: là dư nợ tín dụng đối với DNVVN năm thứ (t - 1).
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thay đổi của dư nợ tín dụng đối với DNVVN
năm nay so với năm trước.
* Tỷ trọng dư nợ tín dụng của DNVVN so với tổng dư nợ tín dụng.
DN
*
TT
DN
= *100%