Một số giải pháp huy động vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Sự tồn tại và phát triển của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh
tế thị trường hiện đại là một tất yếu khách quan do nhu cầu của thị trường rất
đa dạng và phong phú mà các Doanh nghiệp lớn không đáp ứng được. Hơn
nữa, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ với đặc điểm nhạy cảm, thích ứng nhanh,
dễ dàng thâm nhập mọi ngõ ngách của thị trường, có vai trò đáng kể trong
việc làm nền kinh tế năng động. Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động tiệu thụ
sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam, thu hút vốn và tạo
thêm nhiều việc làm với chi phí thấp.
Ở Việt Nam hiện nay, riêng trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, số
lượng Doanh nghiệp và nhỏ chiếm trên 94%. Năm 1993, các Doanh nghiệp
vừa và nhỏ trong công nghiệp, vận tải, thương mại dịch vụ đã thu hút trên 3,5
triệu lao động, chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư của các lĩnh vực này, tạo ra 26%
giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp và 54% giá trị công nghiệp
(CN) địa phương, chiếm 78% tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ, số lượng
đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Do vậy việc tìm kiếm giải
pháp thúc đẩy phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa lớn trong vấn
đề giải quyết kinh tế - xã hội cũng như đối với công nghiệp hoá hiện đại hoá
chiến lược ưu tiên hàng đầu của chính phủ Việt Nam hiện nay.
Các doanh nghiệp này hiện gặp rất khó khăn trong hoạt động kinh doanh
trong đó thiếu vốn đang là một trong những vấn đề khó khăn nhất của các
Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy tỷ trọng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ vay
trong tổng số tín dụng ngân hàng đã tăng lên năm 1990 là 5%; năm 1993 là
15%; năm 1995 là 50% nhưng nhìn chung các Doanh nghiệp này vẫn thiếu
vốn trầm trọng. Do chưa có thị trường vốn và hệ thống ngân hàng còn yếu
kém cộng thêm sự yếu kém của các Doanh nghiệp này nên nhiều nơi chỉ có
khoảng 60% số Doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được tín dụng ngân hàng
1
(có nơi chỉ 30 - 35%), đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu vốn, đặc biệt là vốn
đầu tư khi thành lập Doanh nghiệp. Phần lớn vốn còn lại được trang trải bằng
vốn tự có và các hình thức huy động phi chính thức. Các nguồn vốn này hiện

một “động lực” giúp doanh nghiệp phải có chiến lược phù hợp để cấu trúc lại
nguồn vốn, sử dụng một cách hiệu quả đồng vốn, cơ cấu vốn của mình đảm
bảo hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng phần nào
loại bỏ dần tình trạng đầu cơ. Như vậy có thể nói vốn rất quan trong đối với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay.
Nguồn vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể huy động từ các
nguồn như: vốn tự có, vốn vay từ các tổ chức tín dụng( Ngân hàng thương
mại), huy động từ thị trường chứng khoán, hỗ trợ vốn của nhà nước, vốn đầu
tư từ nước ngoài, vốn chiếm dụng,…
3
Các doanh nghiệp cần xây dựng cấu trúc vốn tối ưu nhằm làm giảm rủi
ro và chi phí vốn. Các trường hợp hiệu quả kinh doanh và giá trị của doanh
nghiệp tăng cao sẽ không thuộc về các doanh nghiệp chỉ biết sử dụng nguồn
vốn tự có. Tùy theo tỷ lệ vốn vay được sử dụng để tạo ra hiệu quả kinh doanh
mà giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng lên nhiều hay ít. Do vậy, doanh nghiệp
cần xác định mức tỷ lệ vốn vay nhất định trong cấu trúc vốn của doanh
nghiệp.
Trên thực tế, vẫn có doanh nghiệp nâng mức vốn vay lên trên 50% mà
vẫn đạt được hiệu quả sử dụng vốn như mong đợi. Nhưng từ cấu trúc vốn tối
ưu được xác định ứng với những điều kiện riêng của doanh nghiệp, cấu trúc
vốn mục tiêu thường được các doanh nghiệp duy trì mức tỷ lệ vốn vay trong
độ an toàn mà đa phần doanh nghiệp ứng dụng thấp hơn tỷ lệ vốn sở hữu, có
thể là 60% vốn chủ sở hữu và 40% vốn vay.
1.2. Nhu cầu vốn thực tế và việc tiếp cận vốn của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ
Cùng với thủ tục hành chính và đất đai, vấn đề tiếp cận vốn đang là một
trong những rào cản chính cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)
hiện nay. Các DNVVN lâu nay vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận
vốn từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng.
Nguyên nhân chủ yếu là do các DNVVN không đáp ứng đủ điều kiện

khác nhau”.
Lợi dụng sự lệch pha vốn và hữu dụng hoá các nguồn vốn đang hiện
hữu trong nền kinh tế ngoài kênh ngân hàng thương mại cũng khá đa dạng và
rất cần được thể chế hoá và nhận diện để tư vấn cho doanh nghiệp về các
kênh tạo vốn phi truyền thống hoặc không phổ biến ở nước ta. Doanh nghiệp
cũng có thể tìm vốn qua hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu, mua chịu
hàng hoá, đi thuê tài chính hay liên doanh liên kết.
Thị trường chứng khoán được xem là kênh huy động vốn quan trọng của
5
nhiều doanh nghiệp. Với nhiều hình thức khác nhau như gọi vốn từ cổ đông,
chào bán riêng lẻ cho đối tác, công nhân viên chức… Việc phát hành cổ phiếu
đã được nhiều doanh nghiệp ưa chuộng. Cùng với cổ phiếu, phát hành trái
phiếu thời gian vừa qua cũng giúp nhiều doanh nghiệp tìm được một kênh
huy động vốn rất hiệu quả
 Các chiến lược về nhu cầu vốn:
Khi quyết định chọn nguồn vốn nào, doanh nghiệp cần xem xét nhu cầu
lúc đó của mình để tối ưu hóa chi phí vốn.
- Dùng vốn tự có: Đây là nguồn vốn của doanh nghiệp do các chủ sở hữu
đóng góp. Vốn tự có cũng có thể được tạo ra dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Nếu
sử dụng vốn tự có, doanh nghiệp sẽ luôn ở thế chủ động và tránh được các rủi
ro về tỉ giá (nếu vay ngoại tệ) và lãi vay. Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên
chỉ dùng vốn tự có mà cầnđa dạng hóa kênh huy động vốn.
- Dùng vốn vay: Một doanh nghiệp tận dụng được nguồn vốn vay tức là
đã tối ưu hóa được chi phí vốn. Nguồn vốn này có thể giúp doanh nghiệp đáp
ứng các nhu cầu vốn trong ngắn hạn và cả dài hạn. Tuy nhiên, khi sử dụng
vốn vay, doanh nghiệp thường bị động, lệ thuộc vào tình hình bên ngoài như
điều kiện vay có thuận lợi hay không. Điều quan trọng hơn là nếu không chú
ý đến cơ cấu vốn và sử dụng vốn không hợp lý, vốn vay sẽ trở thành gánh
nặng đối với doanh nghiệp vay lãi cao nguy cơ vỡ nợ.
- Chiến lược tài chính kết hợp: Đây là chiến lược kết hợp sử dụng cả vốn

ngược lại nếu doanh nghiệp kinh doanh thành công thì những người chủ sẽ
được hưởng lợi rất lớn. Do đó NH cần phải có những yêu cầu bảo đảm cho
nguồn tín dụng của mình, đó là bên cạnh phương án kinh doanh tốt, DN cần
có vốn chủ sở hữu đầu tư vào tối thiểu 30%, và có thể cần thêm tài sản thế
chấp. Rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ không đáp ứng được yêu cầu này vì
thế hiện nay nguồn vốn của ngân hàng khá dồi dào và rất muốn cho doanh
nghiệp vay đầu tư những rất ít doanh nghiệp thỏa mãn được tiêu chuẩn của
Ngân hàng.
Hiện nay có rất nhiều Quỹ đầu tư Việt Nam và nước ngoài đang tìm
7
kiếm các doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng để tham gia đầu tư với số vốn
lên đến vài trăm triệu USD. Tuy nhiên để có thể thu hút nguồn vốn này,
doanh nghiệp cần phải tích cực chuyển đổi phương thức điều hành theo
hướng hiện đại. Cụ thể doanh nghiệp cần phải đạt các tiêu chuẩn sau:
• Doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả hoặc có phương án tốt để
phát triển mạnh mẽ
• Doanh nghiệp cần có hệ thống kế toán minh bạch.
• Doanh nghiệp phải có hệ thống quản trị công ty hiệu quả và phân
quyền rõ ràng, đồng thời sẵn sàng tái cấu trúc bộ máy quản lý để nâng cao
năng lực quản trị.Thông thường Quỹ Đầu tư sẽ tư vấn giúp doanh nghiệp cải
tiến bộ máy quản lý, cấu trúc tài chính và họach định chiến lược kinh doanh.
Tuy nhiên nếu doanh nghiệp có thể chủ động thuê chuyên gia hoặc đơn vị tư
vấn độc lập để hỗ trợ, điều đó có thể giúp Doanh nghiệp bán cổ phần được giá
hơn cho Quỹ Đầu Tư.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
8
2.1. Khái quát chung về các doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.1.1. Khái niệm

Trên 10-200
người
Trên 20-100 tỷ
đồng
Trên 200-300
người
9
Công nghiệp và
xây dựng
20 tỷ đồng trở
xuống
Trên 10-200
người
Trên 20-100 tỷ
đồng
Trên 200-300
người
Thương mại và
dịch vụ
10 tỷ đồng trở
xuống
Trên 10-50
người
Trên 10-50 tỷ
đồng
Trên 50-100
người
(Nguồn: Nghị định Chính phủ số 56/2009/ NĐ- CP)
Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung nhiều ở khu vực chế biến, gia
công và dịch vụ , tức là gần với người tiêu dùng hơn. Trong đó cụ thể là:

thu hồi vốn nhanh theo phương châm lấy ngắn nuôi dài”. Thực tế cho thấy
nền kinh tế Việt Nam còn kém phát triển, chủ yếu là sản xuất nhỏ, nên Doanh
nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số Doanh nghiệp có vai trò
đặc biệt quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thu hút vốn,
làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Điều đó được thể hiện qua các số liệu dưới đây.
Bảng 1: Vai trò Doanh nghiệp vừa và nhỏ qua kết quả điều tra của
nhóm nghiên cứu
Vai trò Tỷ lệ ý kiến %
Góp phần tăng trưởng kinh tế 51,7
Tạo việc làm, thu hút vốn, tăng thu nhập 88,5
Làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn 83,9
Để phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh 63,2
- Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế:
Năm 1993, giá trị sản lượng công nghiệp do Doanh nghiệp vừa và nhỏ
tạo ra là 5315 tỷ đồng, chiếm 25% giá trị tổng sản lượng toàn ngành và 54%
giá trị công nghiệp địa phương. Tổng giá trị bán lẻ hàng hoá dịch vụ đạt
29000 tỷ đồng, bằng 78% tổng mức bán lẻ. Trong vận tải Doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá. Trong nhiều ngành nghề
như gỗ xẻ, chiếu cói, giầy dép Doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất 100%
sản phẩm.
- Thu hút việc làm:
11
Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công nghiệp, thương mại, dịch vụ thu
hút 3,5 triệu lao động. Riêng trong công nghiệp, các Doanh nghiệp này thu
hút 50% tổng số lao động, chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm việc trong
các Doanh nghiệp vừa và nhỏ khoảng 740 ngàn đồng chỉ bằng 3% Doanh
nghiệp lớn.
- Thu hút vốn:
Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ rất dễ tiếp xúc trực tiếp các nguồn vốn,

b. Trình độ công nghệ, trang thiết bị, máy móc vừa cũ, vừa lạc hậu lại
không đồng bộ đã hạn chế rất lớn khả năng cạnh tranh của các Doanh nghiệp
và và nhỏ nước ta.
c. Lực lượng công nhân kỹ thuật và lao động lành nghề được đào tạo còn
quá ít, hạn chế cả trình độ hiểu biết lại biến động, nên việc quản lý và sử dụng
lao động vô cùng khó khăn, cộng với đội ngũ cán bộ thiếu kỹ năng quản lý
dẫn đến hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp vừa và nhỏ không cao, năng
suất lao động thấp, thu nhập không ổn định.
d. Các chính sách vĩ mô, vi mô nhằm hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ
còn hạn chế, nặng về hình thức, thiếu hướng dẫn cụ thể như chính sách đối
với Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, chính sách vay vốn tín dụng
với lãi suất ưu đãi nhằm giải quyết việc làm cho người lao động, các hệ thống
thông tin, các dịch vụ tư vấn về mặt hàng, thị trường, công nghệ, thiết bị, luật
pháp, thông lệ quốc tế về kinh doanh không đáp ứng được các nhu cầu của
các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
e. Những khó khăn phiền toái đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ xung
quanh các thủ tục hải quan, thuế, nhà đất vẫn còn là nỗi lo lắng, băn khoăn
của các Doanh nghiệp.
f. Cuối cùng là tình trạng thiếu vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đây là vấn đề đáng lo ngại nhất. Nếu như vốn lưu động của các Doanh nghiệp
13
vừa và nhỏ chỉ đạt 20% so với nhu cầu thì vốn đăng ký của nhiều Doanh
nghiệp vừa và nhỏ chỉ vẻn vẹn có 17 tỷ đồng. Đa số các Doanh nghiệp hiện
không có đủ điều kiện thế chấp theo yêu cầu của ngân hàng để vay vốn, tỷ
trọng vốn vay ngân hàng của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ chiếm 20%
nhu cầu vốn hoạt động.
Nhìn chung các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đều dựa vào nguồn vốn tự có
là chính hoặc huy động từ nhân thân, bạn bè Việc các Doanh nghiệp vừa và
nhỏ không sử dụng được nguồn vốn tín dụng là hạn chế lớn nhất đối với sự
phát triển của loại hình Doanh nghiệp này.

đầu không nhiều cho nên các doanh nghiệp nhỏ thu hút các nguồn vốn nhỏ,
nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh tạo sản
phẩm và dịch vụ cung cấp cho xã hội. Doanh nghiệp nhỏ còn dễ dàng sử dụng
được đồng tiền đang phân tán và nằm im, do đó đẩy nhanh được việc hình
thành vốn.
- Vốn chủ sở hữu:
Là loại vốn thường được tạo ra từ nguồn vốn riêng của các doanh nghiệp
chủ vốn đóng góp của các cổ đông, bạn bè, họ hàng… Nguồn vốn này chiếm
khoảng 5- 10% vốn luân chuyển của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thực tế ta thấy hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường sử dụng
phần lớn nguồn vốn này vào việc kinh doanh chiếm khoảng 47,2% trên tổng
số vốn toàn doanh nghiệp.
Theo thống kê thì tỷ lệ vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ từ vốn chủ
sở hữu ở Hà Nội là 45,6%, Hải Phòng là 46,7%, Quảng Ninh là 49,3% chiếm
tỷ lệ lớn trong số vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hầu hết các chủ kinh doanh mới đều thích sử dụng vốn của mình thay vì
vay các ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác, cá nhân khác.
Vốn chủ sở hữu của chủ doanh nghiệp là toàn bộ số tiền mà doanh
15
nghiệp đang có. "Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp" là vốn đóng góp của các
cổ đông hay của người chủ duy nhất, số vốn này không gây ra chi phí cho
doanh nghiệp. Thực tế hiện nay, nguồn vốn chủ sở hữu thấp của doanh nghiệp
vừa và nhỏ hầu như không đáp ứng được đủ điều kiện để tham gia vào quá
trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, họ phải huy động vốn chủ yếu
từ nhiều nguồn: vay ngân hàng và của bản thân chủ doanh nghiệp, gia đình,
bạn bè, nước ngoài.
- Huy động vốn từ thị trường chứng khoán:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không đủ điều kiện niêm yết trên thị
trường tập trung hiện nay nên họ không có khả năng tiếp cận thị trường này.
Theo kết quả thăm dò về khả năng tham gia thị trường chứng khoán của

nhân viên,
2.2.2. Tính tất yếu phải huy động vốn cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thực tế hiện nay việc huy động vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đang là vấn đề khó khăn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn chịu nhiều
thiệt thòi trong quá trình huy động vốn.
Với quy mô nhỏ, các doanh nghiệp thường lâm vào tình trạng thiếu vốn,
trong khi đó nhu cầu sử dụng vốn lại luôn là sự cần thiết của các doanh
nghiệp cho việc sản xuất và thay đổi công nghệ để có thể tiếp tục kinh doanh
trên thị trường của nền kinh tế thị trường thời mở cửa như hiện nay, Nhu
chúng ta đã biết việc tiếp cận vốn vay là một trong những thách thức lớn của
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này cũng xuất phát bởi nhiều nguyên nhân.
Trong bài viết này em xin đề cập đến hai nguyên nhân đó là nguyên nhân
khách quan và chủ quan dưới góc độ nhìn nhận của các Ngân hàng và của
chính những doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay của nước ta.
 Nguyên nhân:
 Nguyên nhân khách quan:
17
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ mở cửa và phát triển
điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội mở ra và
cạnh tranh trên thị trường . Thế nhưng nền kinh tế nước ta vẫn không phải là
nền kinh tế ổn định, tác động đầu tiên cho vấn đề vốn của doanh nghiệp là
lạm phát.
Việc lạm phát có xu hướng tăng hàng năm, đồng tiền mất giá khiến cho
công việc quản lý của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, sản xuất, là vì
vừa và nhỏ, cho nên rất khó để bù đắp được vốn bỏ ra, đồng tiền của kỳ trước
giá trị hơn đồng tiền của kỳ sau khiến cho việc bỏ ra một khoản lớn hơn để
mua đồ dùng, công cụ, nguyên vật liệu và rồi kỳ sau mang ra bán và không
thu được vốn ban đầu.
Nguồn vốn cung ứng nó khá nhỏ so với cơ cấu doanh nghiệp, điều này
từ chính sách cho ồ ạt mở cửa doanh nghiệp đãn đến việc các doanh nghiệp

Đứng dưới góc độ nhìn nhận như thế Ngân hàng đã gây ra khó khăn cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ khó có thể cạnh tranh ngay cả việc vay vốn.
Điều này gây bất lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất nhiều.
Bên cạnh đó gây e ngại cho Ngân hàng hay nhà đầu tư đó là thông tin
của doanh nghiệp. Những số liệu thường không sẵn có cho từng doanh
nghiệp, kể cả số liệu ngành và số liệu doanh nghiệp. Những doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Việt Nam, thường có thời gian hoạt động dưới 10 năm, tức là những
doanh nghiệp này thường vẫn là những doanh nghiệp mới, nhiều khi không cả
biết đến tên, hay ngành nghề sản xuất của họ. Những thông tin mà doanh
nghiệp cung cấp rất khó tin cậy, thường thì không chính xác.
 Các phương thức huy động vốn
Huy động vốn bao gồm huy động vốn ngắn hạn và huy động vốn dài
hạn. Huy động vốn bao gồm nhiều khâu công việc từ việc xác định số lượng
vốn cần huy động là bao nhiêu và cơ cấu các loại vốn huy động từ các cách
19
thức khác nhau thế nào, đặc biệt là đối với huy động vốn dài hạn thì phương
án huy động vốn đòi hỏi chất lượng rất cao, tính minh bạch, cụ thể và chi tiết
là điều bắt buộc phải đáp ứng.
Xét cho cùng, trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp thì ngoài vốn chủ sở
hữu, các nguồn vốn huy động được chính là những khoản vốn vay từ các
nguồn khác nhau và được gọi dưới các hình thức khác nhau. Với đặc trưng
được phép khấu trừ các chi phí vay khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi
ích cơ bản khi doanh nghiệp tài trợ vốn bằng nợ vay chính là tạo ra lá chắn
thuế cho doanh nghiệp.
- Huy động vốn ngắn hạn: Là để đáp ứng nhu cầu tài trợ ngắn hạn của doanh
nghiệp bao gồm nhu cầu tài trợ thường xuyên và nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời
vụ. Trong đó, nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên phát sinh từ sự chênh
lệch nhau về thời gian và quy mô giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của
doanh nghiệp. Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ do đặc điểm thời vụ của hoạt
động sản xuất kinh doanh khiến nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến.

tính hiệu quả của dự án sản xuất kinh doanh có nhu cầu vay vốn và tính khả
thi của phương án trả nợ. Mỗi ngân hàng đều có những chuẩn mực, tiêu chí
riêng để xem xét đánh giá phương án vay của doanh nghiệp
 Một số lưu ý trong quá trình lựa chọn phương thức huy động vốn
Về kênh đi vay: Vay ngân hàng cũng gồm nhiều loại vay, phát hành trái
phiếu cũng gồm nhiều loại như trái phiếu thông thường, trái phiếu chuyển đổi,
trái phiếu có kèm quyền chọn bán, kèm điều khoản mua lại, trái phiếu có lãi
suất thả nổi,… Như vậy, ngoài năng lực vốn tự có, doanh nghiệp có nhiều
kênh và nhiều sản phẩm huy động vốn nhưng cũng chính vì sự phức tạp này
mà gây bối rối cho nhà đầu tư. Lựa chọn nguồn nào phụ thuộc vào chi phí huy
động vốn và những thuận lợi hoặc bất lợi của việc huy động đó, cũng như phụ
thuộc vào dòng tiền doanh nghiệp có thể sử dụng để hoàn trả chi phí huy
21
động vốn (tiền gốc hay mệnh giá khoản vay, lãi suất và cách thức trả lãi, thời
hạn khoản vay, các điều khoản phụ…).
Về kênh huy động vốn chủ sở hữu: chi phí sử dụng vốn cổ phần được xác
định thông qua các mô hình xác định suất sinh lời yêu cầu của chủ sở hữu, chi
phí sử dụng nợ là lãi suất vay của các tổ chức tài chính trung gian hoặc là lợi
suất đáo hạn mà doanh nghiệp phải trả cho nhà đầu tư nếu phát hành trái
phiếu. Tuy nhiên, nguồn vốn chi phí thấp không phải lúc nào cũng được chọn
vì còn tùy thuộc vào khả năng thương lượng để có nguồn vốn và những tác
động của nguồn vốn đó (thuận lợi hay bất lợi).
Lựa chọn phương thức huy động vốn bằng vay nợ hay huy động thêm
vốn chủ sở hữu cần hiểu rõ lợi thế cũng như bất lợi của từng phương thức.
Đối với vay nợ, ưu điểm của phương thức này là được khấu trừ thuế, có thể
tận dụng lợi thế đòn bẩy tài chính để gia tăng lợi nhuận cho cổ đông nhưng
bắt buộc phải trả vốn gốc và lãi, gây ra áp lực tài chính, làm gia tăng rủi ro tài
chính và xấu đi hệ số nợ của doanh nghiệp
Đối với phương thức sử dụng cổ phần ưu đãi có lợi thế là không phải trả
vốn gốc, có thể tùy chọn trả hoặc không trả cổ tức nhưng cổ tức không được

Về nguồn vốn vay từ hệ thống ngân hàng: hiện nay đây vẫn là kênh tín
dụng được coi là rất khó tiếp cận đối với các DN. Ngân hàng đáp ứng được
phần vốn còn rất nhỏ so với nhu cầu vay ngân hàng của doanh nghiệp. Đặc
biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì các số liệu điều tra cho thấy
nhu cầu vay vốn ngân hàng của các doanh nghiệp loại này mới chỉ được đáp
ứng khoảng 1/3. Theo tính toán từ các cuộc điều tra khả năng tiếp cận tín
dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2005-2006 thì tỷ trọng doanh
nghiệp vừa và nhỏ tư nhân được các ngân hàng cho vay vốn chỉ chiếm 62,5%
tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa
23
Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại không đáp ứng được yêu
cầu của ngân hàng về giá trị tài sản thế chấp cho khoản vay (còn thấp), tính
minh bạch của các số liệu tài chính – kế toán hoặc nếu đáp ứng được thì
không đủ tiêu chuẩn xét cho vay do tính hiệu quả của dự án xin vay thấp hoặc
thực tế thì có hiệu quả nhưng do doanh nghiệp thường hạ lợi nhuận để trốn
thuế thu nhập doanh nghiệp nên hồ sơ tài chính xin vay không đủ tiêu chuẩn.
Còn không ít doanh nghiệp lập phương án sản xuất kinh doanh làm hồ sơ
vay vốn còn mang tính đối phó, kế hoạch trả nợ chưa rõ ràng, nên không đủ
tiêu chuẩn cho vay theo yêu cầu của ngân hàng. Một vấn đề khác là nhiều khi
năng lực phân tích hiệu quả dự án cho vay của cán bộ ngân hàng trong nhiều
trường hợp còn chưa theo kịp thực tế doanh nghiệp nên sự đánh giá chưa xác
thực khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Các cuộc điều
tra cũng chỉ ra rằng 50% doanh nghiệp nhỏ và vừa ít hoặc không tin tưởng
vào cán bộ tín dụng, nhiều doanh nghiệp cho rằng cán bộ tín dụng chưa quan
tâm đúng mức đến doanh nghiệp.
Do đó, để cải thiện tình hình, chỉ tiêu “quan hệ nghiệp vụ” giữa cán bộ
tín dụng và doanh nghiệp cần được cải thiện vượt bậc. Về phía doanh nghiệp
cần chủ động hơn trong việc đáp ứng yêu cầu của ngân hàng về tính minh
bạch trong quản trị tài chính, tính hiệu quả trong phương án sản xuất kinh
doanh và sự rõ ràng trong kế hoạch trả nợ. Về phía ngân hàng cũng nên làm

tới nay, khác hẳn với thực tế huy động vốn qua kênh thị trường chứng khoán
rất thành công của năm 2007 (thậm chí trong giai đoạn 2006-2007 thì phần
giá trị thặng dư thu lại từ việc phát hành cổ phiếu mới của nhiều DN đạt giá
trị rất lớn).
Thực tế này chỉ có thể được cải thiện khi các giải pháp ổn định kinh tế vĩ
mô phát huy hiệu quả, nền kinh tế trong nước và thế giới bước sang giai đoạn
phát triển mới. Khi ấy thị trường chứng khoán mới có nền tảng để phục hồi và
25

Trích đoạn Kiến nghị với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status