Nâng cao chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch NHNo & PTNT Việt Nam và NHTM CP Á Châu chi nhánh Thăng Long - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Học viện Ngân hàng đã nhiệt tình
giảng dạy em trong quá trình học tập tại trường. Cảm ơn các anh chị Phòng
TTQT của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu chi nhánh Thăng Long và
các anh chị tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam đã giúp đỡ, tạo điều kiện để em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Phương Thanh
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH 5B
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH 5B
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Ký tự viết tắt Nguyên văn
1 ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
2 DNXNK Doanh nghiệp xuất nhập khẩu
3 KH Khách hàng
4 L/C Letter of credit - Thư tín dụng
5 NH Ngân hàng
6 NHCĐ Ngân hàng chỉ định
7 NHNN Ngân hàng Nhà nước
8 NHPH Ngân hàng phát hành
9 NHTB Ngân hàng thông báo
10 NHTM Ngân hàng thương mại
11 NHXN Ngân hàng xác nhận
12 NK Nhập khẩu
13 XK Xuất khẩu
14 TDCT Tín dụng chứng từ
15 TTQT Thanh toán quốc tế

Error:
Refer
ence
sourc
e not
found
Bảng 2.4
Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thanh toán L/C của ACB Thăng
Long
Error:
Refer
ence
sourc
e not
found
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH 5B
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Biểu đồ 2.2 Lợi nhuận thanh toán L/C của ACB Thăng Long
Error:
Refer
ence
sourc
e not
found
Bảng 2.5 Thời gian xử lý L/C ở ACB Thăng Long
Error:
Refer
ence
sourc
e not

sourc
e not
found
Bảng 2.9
Tình hình sử dụng các phương thức TTQT trong nhập khẩu tại
SGD từ năm 2008-2010
Error:
Refer
ence
sourc
e not
found
Biểu đồ 2.3
Tỷ lệ sử dụng các phương thức TTQT trong thanh toán hàng
nhập tại SGD năm 2008- 2010
Error:
Refer
ence
sourc
e not
found
Bảng 2.10
Doanh số thanh toán L/C xuất khẩu qua SGD từ năm 2006-
2010
Error:
Refer
ence
sourc
e not
found

góp không nhỏ vào quá trình hội nhập nên kinh tế nước ta với các nước trong khu
vực và trên thế giới. Hoạt động ngân hàng thương mại của nước ta đã trưởng
thành về nhiều mặt, được bạn bè quốc tế biết đến và tín nhiệm. Đóng góp không
nhỏ tạo nên vị thế của ngành là nhờ vào các hoạt động thanh toán quốc tế, trong
đó thanh toán tín dụng chứng từ là nhân tố chủ yếu nhờ tính ưu việt của nó so với
các phương thức thanh toán quốc tế khác. Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng
thanh toán tín dụng chứng từ là một yêu cầu cấp thiết của hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam.
Để nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ, các Ngân
hàng Thương mại đã không ngừng cải tiến và đổi mới các hoạt động của mình ngày
càng phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Tuy có vị trí quan trọng nhưng hoạt động
thanh toán quốc tế chưa thực sự được các ngân hàng nước ta quan tâm đúng mức và
ở trình độ còn thấp hơn nhiều so với mức độ phật triển mà đáng ra nó phải đạt tới.
Do vậy, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu và đưa ra các
biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ, em đã chọn đề tài: “ Nâng cao chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ
tại Sở Giao dịch NHNo & PTNT Việt Nam và NHTM CP Á Châu chi nhánh
Thăng Long“ để nghiên cứu.
Kết cấu chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận,danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng
biểu, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về nâng cao chất lượng thanh toán tín dụng
chứng từ tại ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở
giao dịch NHNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á
Châu, chi nhánh Thăng Long
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán TDCT tại Sở Giao
dịch NHNo&PTNT Việt Nam và ACB Thăng Long
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B

khẩu. Ngân hàng thông báo có thể là ngân hàng đại lý hoặc là chi nhánh của ngân
hàng phát hành ở nước người xuất khẩu.
Ngoài thành phần tham gia thanh toán nêu trên, trong thực tế tùy thuộc vào
từng loại thư tín dụng có thể xuất hiện thêm một số thành phần khác:
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B
2
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
e. Ngân hàng xác nhận (Confirming bank): ngân hàng được chỉ định trong
thư tín dụng, thực hiện xác nhận(đảm bảo) TDCT theo yêu cầu của NHPH
f. Ngân hàng được chỉ định (Norminated Bank): ngân hàng này được chỉ
định trong thư tín dụng.Tùy theo từng loại thư tín dụng mà ngân hàng này có thể
thực hiện một trong các nghiệp vụ sau đây:
- Ngân hàng chỉ định thanh toán( Norminated Paying Bank)
- Ngân hàng chỉ định chấp nhận ( Norminated Accepting Bank)
- Ngân hàng chỉ định chiết khấu (Norminated Negotiating Bank)
g. Ngân hàng bồi hoàn ( Reimbursing Bank): là ngân hàng được ngân hàng
phát hành ủy nhiệm thực hiện thanh toán giá trị tín dụng thư cho ngân hàng được
chỉ định thanh toán hoặc chiết khấu. Ngân hàng bồi hoàn thường tham gia trong
trường hợp giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng được chỉ định không có quan hệ
tài khoản trực tiếp với nhau.
1.1.2.2. Quy trình nghiệp vụ thanh toán TDCT
a. Trường hợp L/C có giá trị thanh toán tại NHPH
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C (1)
(3)
(6’)
(7)
(9) (8) (2) (7’) (6) (4)
(1)
(5)

(7) NHPH sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy xuất trình phù hợp thì tiến
hành thanh toán, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi lại nguyên
vẹn bộ chứng từ cho nhà XK
(8) Người đề nghị mở L/C hoàn trả cho NHPH
(9) NHPH trao bộ chứng từ cho người đề nghị mở L/C
b. L/C có giá trị thanh toán tại NHCĐ
Sơ đồ 1.2. Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C (2)
(3)
(8)
(9)
(11) (10) (2) (7) (6) (4)
(1)
(5)
Chú giải:
Các bước từ (1-5) giống trường hợp L/C có giá trị tại NHPH
(6) Sau khi giao hàng, người thụ hưởng lập bộ chứng từ theo yêu cầu của
L/C và xuất trình cho NHCĐ để thanh toán
(7) NHCĐ sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến
hành thanh toán, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại
nguyên vẹn bộ chứng từ cho người thụ hưởng.
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B
4

NHPH
( Issuing bank)
NHTB & NHCĐ
(Advising bank &
Norminated bank)
Người đề nghị mở

kinh doanh, thì các hoạt động khác của ngân hàng cũng phát triển theo. Ví dụ tăng
được tài khoản ký quỹ, tăng được quan hệ tín dụng với nhà NK…
- Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng tiềm năng kinh
doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau.
b. Đối với NHTB/NHCĐ/NHXN
- Thu phí từ việc thông báo/thanh toán/xác nhận L/C và các khoản thu nhập
khác liên quan đến chuyển đổi tiền tệ.
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B
5
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
- Thông qua việc cung cấp dịch vụ thông báo/thanh toán/chấp nhận giúp
khách hàng phát triển kinh doanh, thì các hoạt động khác của ngân hàng cũng phát
triển theo. Ví dụ: mở được các khoản tín dụng xuất khẩu, chiết khấu bộ chứng từ…
- Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng năng lực kinh
doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau.
c. Đối với doanh nghiệp XNK
Mục tiêu hàng đầu đối với các doanh nghiệp là lợi nhuận, tuy nhiên đối với
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì việc đạt được mục tiêu này khó khăn hơn vì
hoạt động của họ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố bên ngoài như: tình hình
thị trường thế giới, khả năng thanh toán của đối tác nước ngoài…Các doanh nghiệp
này chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi các hợp đồng ngoại thương mà họ tham gia
thực hiện trôi chảy. Điều này được thực hiện với sự giúp đỡ của các ngân hàng
thông qua nghiệp vụ TDCT.
Ngân hàng với bề dày kinh nghiệm, có khả năng tài chính để tài trợ cho cả
người bán và người mua, có mạng lưới và quan hệ đại ký rộng khắp, có công nghệ
kỹ thuật tiên tiến, nên có thể thực hiện hoạt động thanh toán TDCT nhanh chóng, an
toàn và chính xác nhất.
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, thanh toán TDCT qua ngân hàng sẽ
giúp cho việc thanh toán được diễn ra nhanh chóng, tạo lòng tin cho đối tác, đảm

khi gửi thông báo cho nhà NK.
c.Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định (NHCĐ)
Trừ khi là ngân hàng xác nhận, các ngân hàng được chỉ định không có một
trách nhiệm nào phải thanh toán cho người XK trước khi nhận được tiền từ NHPH.
Tuy nhiên, trong thực tế, trên cơ sở bộ chứng từ xuất trình, các ngân hàng được chỉ
định thường ứng trước cho nhà xuất khẩu với điều kiện truy đòi( with recourse) để
trợ giúp nhà xuất khẩu, do đó ngân hàng này phải tự chịu rủi ro tín dụng đối với
NHPH hoặc nhà XK.
d.Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận (NHXN)
Nếu bộ chứng từ này là hoàn hảo, thì ngân hàng xác nhận phải trả tiền cho
người XK bất luận là có truy hoàn được tiền từ NHPH hay không. Như vậy, NHXN
chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH, cũng như rủi ro chính trị và rủi ro cơ chế( hạn
chế ngoại hối) của nước NHPH.
Nếu NHXN trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà không có
sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, NHPH không
chấp nhận, thì không thể đòi tiền NHPH.
1.2. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm chất lượng thanh toán TDCT
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B
7
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Thanh toán TDCT là hoạt động mang lại doanh thu cực lớn cho các ngân
hàng không những về giá trị tuyệt đối mà cả về tỷ trọng. Vậy để chúng ta có thể
phát triển nghiệp vụ quan trọng này thì cần phải nắm bắt rõ những vấn đề ảnh
hưởng đến tính chất, chất lượng thanh toán.Chất lượng của nghiệp vụ thanh toán
TDCT được hiểu là giá trị của việc thanh toán mang lại hiệu quả kinh tế và lợi ích
cho cả ngân hàng và khách hàng. Mà chất lượng của hoạt động dịch vụ được đo
bằng những đặc tính làm thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng và chỉ được

Việc xác định tính chân thực bề ngoài của L/C là trách nhiệm của ngân hàng
thông báo (NHTB). Nếu một L/C mà được thông báo tới người thụ hưởng với cam
kết của NHTB rằng đó là L/C chân thực thì ngân hàng đó sẽ phải chịu mọi rủi ro
phát sinh khi kết luận của họ là không chính xác. Thời gian kiểm tra của NHTB
càng ngắn thì càng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể thực hiện hợp đồng ngoại
thương nhanh chóng hơn.
1.2.3.2. L/C được mở vào thời gian hợp lý và có nội dung phù hợp:
L/C sẽ được NHPH mở khi họ nhận thấy đơn yêu cầu mở L/C của nhà nhập
khẩu hội đủ các tiêu chuẩn: phù hợp với khả năng của ngân hàng, chính xác so với
các hợp đồng ngoại thương, không vi phạm quy định của các điều luật và công ước
quốc tế, quốc gia, đảm bảo lợi ích tương đối cho các bên, trong đó có cả NHPH.
Thời gian mở L/C được NHPH rất chú ý vì phải không vi phạm các thỏa thuận
trong hợp đồng ngoại thương nhưng cũng phải tính toán đến thời gian luân chuyển
L/C tới tay nhà xuất khẩu để họ quyết định xem L/C đã phù hợp chưa và chuẩn bị
giao hàng cho kịp. Nhưng nếu mở quá sớm thì nhà nhập khẩu sẽ bị đọng vốn,
không có lợi ích cho việc sản xuất kinh doanh.
Về nội dung, NHPH phải đảm bảo rằng L/C dễ hiểu, chuyển tải đầy đủ
những nội dung cơ bản, quan trọng của hợp đồng ngoại thương. Các điều khoản
phải chặt chẽ và phù hợp với các văn bản pháp quy điều chỉnh, không nên làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu vì dễ dẫn đến bổ sung,
sửa chữa, vừa tốn thời gian, chi phí lại làm giảm uy tín của NHPH.
1.2.2.3. Chất lượng dịch vụ tư vấn khách hàng:
Phương thức thanh toán L/C là phương thức đã mang lại nhiều lợi ích hơn
cho cả người xuất khẩu và người nhập khẩu so với các phương thức thanh toán
khác, song cùng với đó là sự phức tạp trong quá trình tiến hành thanh toán. Đặc biệt
đối với nhà xuất khẩu, việc họ được thanh toán sớm hay muộn phụ thuộc rất nhiều
vào bộ chứng từ mà họ xuất trình có hoàn hảo hay không. Do trình độ nghiệp vụ về
thanh toán quốc tế của thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp phần lớn còn kém,
vì vậy họ luôn nhờ tới sự tư vấn của ngân hàng trong việc lựa chọn khách hàng, lựa
chọn loại L/C, cách lập bộ chứng từ hoàn hảo…để đảm bảo trong quá trình thanh

nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy, để thực hiện mục tiêu phát triển ngành xuất nhập khẩu,
trong khi phần lớn các doanh nghiệp nước ta thuộc loại hình doanh nghiệp có quy
mô vốn còn nhỏ hẹp, thì cần đến sự giúp đỡ rất lớn từ phía các ngân hàng. Nếu ngân
hàng chấp nhận tài trợ cho nhiều doanh nghiệp mà theo thẩm định của ngân hàng là
đủ độ tin cậy thì ngoài việc tạo điều kiện cho hoạt động của các doanh nghiệp thông
suốt còn quảng bá được năng lực của ngân hàng mình trên thị trường.
1.2.2.6.Sự cân đối giữa L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu:
Sự cân đối giữa L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu thể hiện khả năng của ngân
hàng trong việc thực hiện đồng đều cả chức năng phục vụ nhà xuất khẩu và nhà
nhập khẩu trong phương thức thanh toán TDCT. Nếu số lượng và giá trị có khả
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B
10
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
năng tài trợ cho nhà xuất khẩu tốt, các điều kiện để được tài trợ cũng đơn giản, hoặc
có đại lý rộng lớn, thích hợp cho việc thông báo L/C tới nhà xuất khẩu nhưng lại
không đủ năng lực và uy tín để khách hàng xin mở L/C. Trường hợp ngược lại
chứng tỏ ngân hàng rất chặt chẽ trong việc kiểm tra sự phù hợp của chứng từ trước
khi trả tiền cho nhà xuất khẩu, giúp đảm bảo an toàn trong thanh toán TDCT nhưng
lại yêu cầu cao đối với các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu xin tài trợ trước. Đó
là các lý do xuất phát từ các yếu tố nội tại của ngân hàng chứ chưa tính đến đặc thù
của thị trường. Với nước ta thì hiện tượng nhập siêu luôn chiếm tỷ trọng lơn hơn so
với xuất siêu nên khả năng cân đối L/C xuất khẩu và L/C nhập khẩu cũng cần xem
xét một cách tương đối.
Muốn có được sự cân đối trên thì trước hết ngân hàng cần có nguồn vốn
ngoại tệ đủ mạnh để trang trải cho các chi phí phát sinh trong các hoạt động thanh
toán. Nguồn vốn đó có phần không nhỏ là đóng góp của doanh thu từ các hoạt động
tài trợ nhập khẩu. Sau khi đã thanh toán cho nhà xuất khẩu ngân hàng sẽ quay lại
yêu cầu người xin mở L/C hoàn trả lại khoản mà ngân hàng đã thay mặt thanh toán.
Hiệu quả của quá trình thanh toán không chỉ thể hiện giữa ngân hàng và người thụ

hoặc do hai bên mới kết giao buôn bán với nhau mà nhà xuất khẩu không hiểu rõ
luật lệ, tập quán của nước nhập khẩu. Rủi ro xảy đến xác nhận L/C mà không yêu
cầu ký quỹ. Đến khi NHPH thiếu thiện chí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí
bị phá sản thì NHXN sẽ phải trả tiền cho người thụ hưởng khi người này có một
xuất trình phù hợp.
- Ngân hàng chiết khấu: Có hai hình thức chiết khấu là miễn truy đòi và có
truy đòi.Nếu ngân hàng sử dụng chiết khấu miễn truy đòi thì sẽ hứng chịu rủi ro lớn
khi NHPH từ chối thanh toán cho bộ chứng từ, khi đó họ sẽ không thể yêu cầu
người thụ hưởng hoàn trả số tiền đã chiết khấu.Ngân hàng chiết khấu cũng sẽ không
đòi được tiền khi NHPH bị mất khả năng thanh toán hoặc thực hiện sai các chỉ thị
trong L/C.
1.2.2.8. Chất lượng hoạt động của các ngân hàng đại lý:
Nếu một ngân hàng mà có mạng lưới đại lý hoạt động hiệu quả và phân bổ rộng
khắp trên thế giới thì họ sẽ không bị giới hạn trong khu vực địa lý nào. Khi đó quy
trình thanh toán sẽ diễn ra một cách nhanh chóng và suôn sẻ, ít gặp phải rủi ro vì đã có
mối quan hệ với các ngân hàng đại lý từ trước, hiểu rõ về nhau và về luật pháp của
nhau. Hơn nữa, khi các ngân hàng đại lý hoạt động hiệu quả còn giúp xác minh tính
chân thực của các bên trong hợp đồng ngoại thương, không phải thông qua các bên
trung gian vừa mất phí vừa tốn kém thời gian.
1.2.2.9.Thu phí dịch vụ hợp lý:
Phí dịch vụ cao hay thấp là phụ thuộc vào chất lượng thanh toán ở từng ngân
hàng, vào đặc điểm của khoản thanh toán( giá trị cao hay thấp, khoảng cách địa lý
xa hay gần, ở nước đó có ngân hàng đại lý của mình hay không) và vào tình hình
cạnh tranh trên thị trường.
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B
12
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán TDCT
1.2.4.1 Nhân tố khách quan:

việc ngân hàng có thể không thu được tiền đã bỏ ra từ đó ảnh hưởng đến chất lượng
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B
13
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
thanh toán TDCT.
d.Sự ổn định của tỷ giá:
Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền
khác. Lựa chọn đồng tiền nào là đồng tiền thanh toán trong thanh toán TDCT là
điều rất quan trọng. Đồng tiền đó có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc
cả hai bên. Vì là ngoại tệ nên tỷ giá của đồng tiền thanh toán có thể biến động và
gây thiệt hại cho nhà XK
e.Yếu tố khách hàng:
Trình độ của khách hàng về nghiệp vụ ngoại thương phần nào sẽ ảnh hưởng
đến chất lượng thanh toán TDCT. Nếu trình độ nghiệp vụ ngoại thương của khách
hàng còn hạn chế, dẫn đến sai sót trong quá trình thực hiện có thể kéo dài thời gian
và ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán L/C.
1.2.4.2. Nhân tố chủ quan:
a. Công nghệ:
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay thì công nghệ
thông tin đã trở thành một yếu tố quan trọng trong bất kỳ một hoạt động nào có sự
ứng dụng của nó.Một ngân hàng với công nghệ thanh toán hiện đại sẽ giúp cho việc
thanh toán của ngân hàng được thực hiện một cách trôi chảy và nhanh chóng. Đảm
bảo an toàn và tiết kiệm chi phí góp phần quảng bá hình ảnh và sản phẩm NH tới
khách hàng.
b.Nguồn nhân lực:
Con người là yếu tố quyết định đối với bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh
nào. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng ngoại ngữ, tin học của các nhân
viên tham gia trực tiếp vào hoạt động thanh toán TDCT nói riêng và hoạt động NH
nói chung là yếu tố không chỉ giúp cho việc xử lý các nghiệp vụ dễ dàng, nhanh

thanh toán.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B
15
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
TẠI: SỞ GIAO DỊCH NHNo&PTNT VIỆT NAM VÀ NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH THĂNG LONG
2.1.THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHẤU CHI NHÁNH
THĂNG LONG
2.1.1.Khái quát hoạt động Thanh toán quốc tế tại ACB Thăng Long
Ngân hàng Á Châu ( ACB) vừa vinh dự đón nhận giải thưởng xuất sắc về tỉ lệ
điện chuẩn trong thanh toán thương mại quốc tế - khu vực Châu Á do tập đoàn
Citigroup trao tặng. Giải thưởng uy tín này được trao cho những định chế tài chính có
tỉ lệ điện thanh toán quốc tế được xử lý tự động trên 95% và có khối lượng giao dịch
cao. Trong năm 2009, trên toàn cầu có gần 200 định chế tài chính được nhận giải
thưởng lần này, trong đó có 36 ngân hàng ở Châu Á và ACB là ngân hàng duy nhất
tại Việt Nam được nhận giải thưởng năm nay với tỉ lệ xử lý tự động lên đến 98%.
Để đạt được thành quả trên, ACB đã luôn không ngừng đào tạo đội ngũ cán
bộ, nhân viên thanh toán quốc tế có chuyên môn nghiệp vụ cao, đáp ứng tốt nhu cầu
của khách hàng, nâng cao uy tín của ACB trong giao dịch thanh toán quốc tế với
các quốc gia trên thế giới. Chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế của ACB đã được
công nhận bởi các ngân hàng hàng đầu như JP Morgan Chase, HSBC, Wachovia,
Standard Chartered và Citi
Bảng 2.1: Doanh số hoạt động TTQT của ACB Thăng Long
Đơn vị: 1.000 USD
Năm 2007 2008 2009 2010
DS TTQT 17,552 54,657 82,361 70,598

1. L/C nhập 3,610 21,548 16,790 24,783
2. L/C xuất 0,026 0,179 1,233 5,329
Tốc độ tăng DS L/C (%) 44,86 498 -17 67
(Nguồn: Phòng TTQT của ACB Thăng Long)
Qua bảng 2.2 ta thấy, doanh số thanh toán L/C luôn luôn biến động qua các
năm. Cụ thể : từ năm 2006 sang năm 2008 doanh số L/C tăng mạnh, năm 2007 đạt
3,636 nghìn USD tăng 44,86% so với năm 2006, năm 2008 tăng đột biến đạt 21,727
nghìn USD, tăng 498% so với năm 2007; sau khi tăng nó lại giảm mạnh ngay sau
đó, năm 2009 giảm 17% so với năm 2008, chỉ đạt 18,032 nghìn USD; năm 2010
doanh số này lại tăng lên 30,112 nghìn USD, tăng 67% so với năm 2009. Tình trạng
biến động thất thường của doanh số L/C là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới, nền kinh tế gặp khó khăn, điều này ảnh hưởng đến hoạt động XNK
của nước ta, từ đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán L/C của ngân hàng.
Mặc dù doanh số có giảm nhưng ngay sau đó lại tăng lên được chứng tỏ khả năng
phục hồi của ACB Thăng Long là khá tốt. Sự phục hồi nhanh chóng cho thấy chất
lượng thanh toán L/C của ngân hàng được đánh giá cao.
Không chỉ tăng giảm bất thường mà doanh số thanh toán L/C còn chiếm tỷ
lệ khiêm tốn trong tổng doanh số TTQT các năm quá. Cụ thể, tỷ trọng qua các năm
lần lượt là 24,47%; 20,71%; 39,75%; 21,89% và 42,65%.
Cũng qua bảng 2.2 ta thấy, trong tổng doanh số L/C thì doanh số L/C nhập
là chủ yếu, chiếm tỷ trọng lần lượt qua các năm là 99,2%; 99,28%; 99,17%;
Nguyễn Thị Phương Thanh Lớp LTĐH
5B
17
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
93,11%; 82,30%. Và điều đó cũng nói nên là doanh số L/C xuất là rất thấp. Nguyên
nhân sự chênh lệch giữa L/C xuất và L/C nhập hiện tại có thể lý giải bởi đặc điểm
cán cân thanh toán của nước ta là nhập siêu, tỷ trọng và giá trị hàng hóa nhập khẩu
lớn hơn rất nhiều so với hàng hóa xuất khẩu. Hơn nữa, độ tin cậy của các doanh
nghiệp nước ta đối với các doanh nghiệp nước ngoài là chưa cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status