MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
BIỂU 2.1: MỨC QUAN TRỌNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG KH-CN TRONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Error: Reference source not found
BIỂU 2.2 MỨC QUAN TRỌNG CỦA CÁC TỔ CHỨC KH-CN ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG KH-CN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Error:
Reference source not found
SƠ ĐỒ 1.1: SƠ ĐỒ HOẠT ĐỘNG KH-CN Error: Reference source not found
SƠ ĐỒ 1.2: QUAN HỆ GIỮA CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU.Error: Reference
source not found
SƠ ĐỒ 2.1 MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA CÁC TỔ CHỨC KH-CN TRONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Error: Reference source not found
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Phát triển khoa học và công nghệ là một trong những động lực quan trọng
nhất để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam trong thế
kỷ XXI. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, các trường đại học không
chỉ là các cơ sở đào tạo cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế mà
còn phải được tập trung đầu tư phát triển thành những trung tâm nghiên cứu khoa
học và chuyển giao công nghệ, có vai trò quan trọng trong xây dựng nền khoa học -
công nghệ quốc gia.
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, giáo dục đại học nước ta đã phát triển rõ rệt
về quy mô, đa dạng hoá về loại hình và các hình thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh
cơ cấu hệ thống từng bước hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục đại học
vẫn biểu hiện nhiều bất cập, đặc biệt là nguy cơ tụt hậu về chất lượng đào tạo và
hiệu quả nghiên cứu khoa học và công nghệ. Chính vì vậy, Nghị quyết 14/2005/NQ-
CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2010
đã nhấn mạnh yêu cầu “nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả hoạt động khoa học và
công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học. Các trường đại học lớn phải là trung
tâm nghiên cứu khoa học mạnh của cả nước”. Để thực hiện được điều đó, một trong
các vấn đề cấp bách đặt ra là cần có hệ thống các giải pháp thúc đẩy hoạt động của
mạnh. Cho đến nay, hầu hết các nhà khoa học đều thừa nhận vai trò quan trọng của
các trường đại học trong việc góp phần nâng cao tiềm lực KH-CNkhoa học và công
nghệ quốc gia. Các trường Đại học không chỉ là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực chất
lượng cao để ứng dụng và vận hành những công nghệ được chuyển giao mà các
trường còn là trung tâm nghiên cứu, tạo ra các sản phẩm khoa học và công nghệ
hiện đại và chuyển giao sản phẩm KH- và CN cho khu vực sản xuất, kinh doanh.
Lịch sử phát triển của nhân loại trong suốt thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ
XXI đã chứng kiến những phát minh vĩ đại được chuyển hoá thành công nghệ và
ứng dụng vào cuộc sống của các trường đại học. Nghiên cứu khoa học trong các
trường đại học không chỉ dừng lại ở nghiên cứu cơ bản mà đã có những đóng góp
trực tiếp cho thực tiễn.
Nghiên cứu khoa học kinh tế là quá trình tìm tòi nhằm đưa ra những cách thức để
đáp ứng nhu cầu của con người trên cơ sở các nguồn lực sản xuất hạn chế. Khoa học
kinh tế luôn gắn liền với việc xây dựng cơ chế và chính sách vận hành nền kinh tế của
một quốc gia, một địa phương hoặc hoạt động sản xuất – kinh doanh của một doanh
nghiệp. Vì vậy, mô hình tổ chức và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ
trong các trường đại học kinh tế cũng có nhiều đặc thù khác biệt so với mô hình trong
các trường đại học kỹ thuật. Sau đây là một số công trình nghiên cứu về hoạt động của
các tổ chức khoa học và công nghệ ở các trường đại học trên thế giới:
2
- Kulakowski E., and Chronister L., Quản trị và quản lý nghiên cứu, Nhà xuất
bản Jones & Barlett , 2005.
- Atkinson T.M. Xây dựng thể chế và chuyển đổi quản lý nghiên cứu trường
đại học, Tạp chí Quản lý nghiên cưu, số 12, 2002.
- Welker M.E. and Cox A.R. Báo cáo về hoạt động nghiên cứu ở các trường
đại học nghiên cứu, Tạp chí Quản lý nghiên cứu, số 15, 2007.
- Yost J.K., Các quan hệ hợp tác trường đại học-ngành: Đối tác trong nghiên cứu
và thúc đẩy năng suất và tăng trưởng kinh tế, Tạp chí Quản lý nghiên cứu, số 13, 2003.
- Yost J.K. Các nguyên tắc có thể tăng cường quan hệ giữa các trường đại
học với các ngành như thế nào, Tạp chí Quản lý nghiên cứu, số 13, 2003.
công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học. Các trường đại học lớn phải là trung
tâm nghiên cứu khoa học mạnh của cả nước”. Có thể nhận thấy, hiệu quả nghiên
cứu khoa học trong các trường đại học là một trong những nhân tố quan trọng quyết
định sự thành công của chiến lược khoa học và công nghệ quốc gia mà hiệu quả này
lại phụ thuộc rất lớn vào hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ trong
các trường đại học.
Trong những năm gần đây, đã có một số kết quả nghiên cứu, đánh giá thực trạng
hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học của các trường đại học, trong đó
có năng lực hoạt động của các viện, trung tâm ở các trường đại học của Việt Nam thông
qua các cuộc điều tra hoặc công trình nghiên cứu của một số nhà quản lý và nhà khoa
học do Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và một số trường đại học
thực hiện. Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2003, mã số B2003.38.70 “Đổi mới tổ chức và
quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học khối kinh tế phục vụ
đào tạo và thực tiễn” do TS Phạm Hồng Chương làm chủ nhiệm đề tài đã bước đầu nêu
lên những giải pháp và điều kiện để đổi mới tổ chức và quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học kinh tế. Đề tài cấp Bộ “Tác động của hoạt động khoa học công nghệ ở trường
đại học tới phát triển kinh tế - xã hội trong công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”, do
GS.TSKH. Đào Trọng Thi làm chủ nhiệm (2003) lại tiếp cận vấn đề ở một khía cạnh
khác. Các tác giả đã sử dụng phương pháp nội suy để đánh giá tác động của hoạt động
khoa học và công nghệ, trong đó nhấn mạnh đến những tiến bộ khoa học và công nghệ
được sản sinh và ứng dụng trong thực tiễn. Trong đề tài này, một số tiêu chí đánh giá
hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ của các trường đại học đã bước đầu được đề
cập. Tuy nhiên các tiêu chí và những đánh giá tập trung chủ yếu vào khối các trường đại
học kỹ thuật. Khoa học kinh tế với những đặc thù của nó chưa được đề cập thoả đáng do
không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Năm 2002, Viện khoa học giáo dục đã thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ trọng
điểm với tiêu đề “Đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học trong các trường đại học
4
giai đoạn 1996-2000”. Đề tài đã gợi mở ra một số vấn đề về hiệu quả nghiên cứu
khoa học trong các trường đại học phân theo các khối ngành chủ yếu như khoa học
• PGS.TS Hoàng Văn Hoa (2008): Vai trò của các trường đại học với sự phát triển thị
5
trường khoa học và công nghệ Việt Nam, Đề tài cấp Bộ trọng điểm B2006-06-30TĐ.
• GS.TS Nguyễn Thành Độ (2008): Xây dựng mô hình trung tâm ươm tạo doanh
nghiệp trong các trường đại học ở Việt Nam. Đề tài cấp Bộ trọng điểm B2006-06-33TĐ.
• Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007): Hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học
trong các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2001-2006 và định hướng giai đoạn
2007-2015. Báo cáo này được trình bày tại Hội nghị chuyên đề về HTQT và KHCN, Hà
Nội tháng 06/2007.
• Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009): Thực trạng và giải pháp tăng nguồn thu
từ hoạt động KH-CN của các trường đại học. Báo cáo này được trình bày tại Hội
thảo khoa học: Giải pháp tăng nguồn thu từ hoạt động KH & CN của các trường đại
học, Hà Nội tháng 10/2009.
Các công trình nghiên cứu khoa học đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau
trong hoạt động KH-CN của các trường đại học Việt Nam, nghiên cứu học tập kinh
nghiệm quốc tế và đưa ra những bài học có khả năng áp dụng ở Việt Nam. Nhiều
công trình khoa học đã nghiên cứu về năng lực và đưa ra những biện pháp nâng cao
năng lực hoạt động KH-CN của các trường Đại học, nghiên cứu mô hình hoạt động,
cơ chế tài chính, cơ chế huy động nguồn lực cho hoạt động KH-CN của các trường
Đại học nói chung và đại học kinh tế nói riêng. Tuy nhiên các công trình đã kể trên
chưa đề cập tới hoạt động của các tổ chức KH-CN trong nhà trường đại học nhất là
đại học kinh tế với nhiều đặc thù riêng.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là đánh giá năng lực hoạt động, đề xuất các giải pháp có tính khả thi
để thúc đẩy hoạt động của các tổ chức KH- CN trong các trường đại học kinh tế. Cụ thể là:
• Xác định vai trò của các tổ chức KH-CN thuộc các trường đại học
kinh tế và tiêu chí đánh giá năng lực hoạt động của các tổ chức.
• Đánh giá thực trạng hoạt động của các tổ chức KH-CN thuộc các trường đại
học kinh tế ở Việt Nam thời gian qua.
• Đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức KH-CN thuộc
thảo quy mô nhỏ với tổng số đại biểu tham dự là 53 người (mỗi cuộc khoảng 157-
20 đại biểu) tại Hà Nội.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tổ chức KH-CN trong các trường đại
học kinh tế, các hoạt động của các tổ chức KH-CN này trong mối quan hệ chung
với các hoạt động KH-CN của nhà trường.
Do giới hạn về kinh phí và thời gian nên việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung
trong phạm vi các tổ chức KH-CN thuộc các trường đại học kinh tế công lập thuộc
Bộ GD&ĐT và bộ/ngành khác quản lý, chưa đề cập đến các trường đại học ngoài
7
công lập.
6. Dự kiến những kết quả đạt được của đề tài
Đề tài dự kiến đạt được các kết quả chính sau đây:
- Hệ thống hóa được lý luận về hoạt động KH- CN trong các trường đại học,
các tổ chức và hoạt động của các tổ chức KH- CN trong trường đại học.
- Đánh giá thực trạng về tổ chức, quản lý và hoạt động của các tổ chức KH-
CN trong các trường đại học kinh tế, tập trung vào giai đoạn 2006-2010. Làm rõ
hoạt động của tổ chức KH-CN, những thành tựu, những hạn chế trong hoạt động
của các tổ chức KH- CN trong các trường đại học kinh tế và tìm ra nguyên nhân của
các hạn chế này.
- Đưa ra được hệ thống quan điểm, các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động
của các tổ chức KH-CN trong các trường đại học kinh tế, các kiến nghị này tập
trung cho giai đoạn 2011-2015.
- Các báo cáo của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ quan quản
lý nhà nước liên quan như Bộ GD&ĐT, Bộ KH-CN. Bộ KH-ĐT, Bộ Tài chính và
các Bộ/ngành, UBND các tỉnh chủ quản của các đại học. Báo cáo của đề tài có giá
trị cho lãnh đạo các trường đại học và các cán bộ quản lý các tổ chức KH-CN trong
các trường đại học nói chung và đại học kinh tế nói riêng.
7. Kết cấu của Báo cáo tổng hợp đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, Báo cáo tổng hợp
nghiệm. Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng là hoạt động ứng dụng kết
quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm
mới. Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thử nghiệm để
sản xuất thử ở qui mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi
đưa vào sản xuất và đời sống. (Luật Khoa học và Công nghệ).
Dịch vụ khoa học-công nghệ: Dịch vụ KH - CN là các hoạt động phục vụ việc
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu
trí tuệ, chuyển giao công nghệ, các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng,
phổ biến, ứng dụng tri thức KH - CN và kinh nghiệm thực tiễn.
Nhìn chung các dịch vụ KH-CN mà các trường đại học kinh tế cung cấp cho
9
xã hội vừa ở tầm vi mô, vừa ở tầm vĩ mô. Ở tầm vi mô, các sản phẩm này là các
dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực tổ chức quản lý, xúc tiến đầu tư, marketing, tiêu thụ
sản phẩm Trên tầm vĩ mô, hoạt động KH-CN thể hiện ở các tư vấn hoạch định
chính sách, ảnh hưởng không những đến sự tăng trưởng kinh tế mà còn tác động
đến sự ổn định chính trị, an ninh quốc gia.
b,Nội dung
Hoạt động KH-CN gồm ba bộ phận chủ yếu: Nghiên cứu triển khai, dịch vụ
KH-CNkhoa học - công nghệ và chuyển giao công nghệ.
SƠ ĐỒ 1.1:SƠ ĐỒ HOẠT ĐỘNG KH-CN
Ở Việt Nam, dịch vụ KH – CN và chuyển giao công nghệ được điều chỉnh
theo Luật Doanh nghiệp, còn hoạt động nghiên cứu – triển khai được điều chỉnh
theo Luật Khoa học và Công nghệ.
Dịch vụ khoa học-công nghệ: Dịch vụ KH - CN là các hoạt động phục vụ việc
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu
trí tuệ, chuyển giao công nghệ, các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng,
phổ biến, ứng dụng tri thức KH - CN và kinh nghiệm thực tiễn.
10
Hoạt động
Khoa học và công nghệ
định
hướng
Hoạt động nghiên cứu – triển khai bao gồm: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
ứng dụng và phát triển công nghệ.
Nghiên cứu cơ bản trong khoa học kinh tế là hoạt động nghiên cứu lý thuyết
hay thực nghiệm nhằm thu được những tri thức mới và từ thực tế quan sát được,
hình thành nên những khái niệm, phạm trù về sự phát triển kinh tế - xã hội của các
quốc gia hay của một quốc gia.
Nghiên cứu cơ bản trong kinh tế học có tính trừu tượng và tổng kết khái quát
thực tiễn cao độ để nâng lên thành lý luận, thành học thuyết, tư tưởng phát triển
xuyên suốt cả một thời kỳ lịch sử của một quốc gia, thậm chí nhiều quốc gia trờn
thế giới.
Nghiên cứu cơ bản trong kinh tế tạo nền tảng khoa học cho sự phát triển khoa
học của các chuyên ngành kinh tế, cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Trên cơ sở nền tảng
của nghiên cứu cơ bản trong kinh tế học, các môn khoa học chuyên ngành kinh tế,
kinh doanh có được cơ sở lý thuyết định hướng phát triển.
Nghiên cứu cơ bản trong khoa học kinh tế cũng là cơ sở cho nghiên cứu ứng
dụng và triển khai trong quản lý kinh tế và kinh doanh. Lý thuyết kinh tế đúng sẽ
dẫn dắt nền kinh tế phát triển, xã hội phồn vinh. Lý thuyết kinh tế sai dẫn đến thực
tiễn kinh tế đất nước bị trì trệ. Thực tiễn đã minh chứng điều đó. Thực tiễn phát
triển của khoa học kinh tế cho thấy rằng, nghiên cứu cơ bản chủ yếu được thực hiện
ở các quốc gia cỳ nền kinh tế phát triển cao. Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất chinh là điều kiện, tiền đề
quan trọng nhất để trên cơ sở đó làm xuất hiện các học thuyết, lý luận kinh tế. Thực
tiễn phát triển kinh tế-xã hội luôn đặt ra yêu cầu tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý
luận để đáp ứng yêu cầu phát triển không ngừng của thực tiễn. Và chính việc áp
dụng, triển khai lý luận kinh tế mới lại là nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế
nhanh hơn ở các nền kinh tế phát triển.
- Ở các nước có nền kinh tế phát triển đã hình thành một đội ngũ các nhà kinh
tế học và kinh doanh có trình độ cao, có khả năng nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đề
Chuyển giao công nghệ: là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng
một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao sang bên nhận công
nghệ (Luật chuyển giao công nghệ). Hoạt động nghiên cứu chuyển giao công nghệ
trong các trường đại học khối kinh tế có thể tồn tại dưới hình thức sau đây:
- Chuyển giao các đề tài khoa học đã được bảo vệ phục vụ cho nghiên cứu,
đào tạo về kinh tế của các trường đại học. Hoạt động này được phản ánh thông qua
hai hình thức: một là xuất bản các đề tài khoa học và thương mại hóa sản phẩm
nghiên cứu của nhà trường; hai là công bố các bài viết trên các tạp chí khoa học của
trường và phát hành rộng rãi trên phạm vi cả nước. Thông qua hoạt động này, các
trường đại học xã hội hóa kết quả nghiên cứu để xã hội ứng dụng vào công tác đào
tạo, nghiên cứu và quản lý.
12
- Mở các lớp bồi dưỡng kiến thức kinh tế, kinh doanh cho cán bộ các doanh
nghiệp hoặc thực hiện các đề tài, dự án nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh và đổi
mới quản trị doanh nghiệp.
-Chuyển giao công nghệ đào tạo: hoạt động này được thực hiện dưới hình
thức tổ chức các chương trình đào tạo liên kết.
1.1.2. Đặc trưng của hoạt động KH-CNkhoa học và công nghệ trong trường đại học
kinh tế
Trường đại học khối kinh tế vừa là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực vừa
là trung tâm nghiên cứu khoa học về lĩnh vực kinh tế. Hoạt động KH - CN trong
trường đại học kinh tế vừa có những đặc điểm chung như hoạt động KH - CN trong
xã hội, lại vừa có những nét đặc trưng. Đó là:
Thứ nhất, hoạt động KH -CN trong các trường đại học kinh tế mang tính liên
ngành.
Nghiên cứu khoa học (NCKH) trong nhà trường tập hợp các cán bộ nghiên
cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên tham gia NCKH,
bao gồm nghiên cứu các vấn đề của khoa học cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển
khai công nghệ cao nhằm đáp ứng những nhu cầu trước mắt và lâu dài của nền kinh
tế quốc dân.
thực tế cần có sự hợp tác giữa trường đại học với các tổ chức sản xuất kinh doanh.
Sự kết hợp KH-CN - đào tạo - sản xuất kinh doanh mang lại những tác dụng
như chuẩn bị kiến thức đón đầu cho nội dung giảng dạy, đảm bảo trình độ khoa học
cao cho quá trình đào tạo, gắn lý luận với thực tiễn, trên cơ sở đó nâng cao chất
lượng đào tạo đại học, đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho xã hội.
Qua hoạt động thực tiễn nhà trường phát huy được tiềm lực KH-CN phục vụ xã hội,
thể và chức năng quan trọng, trường đại học cũng giải quyết được những vấn đề nảy
sinh trong thực tiễn, đóng góp vào sự phát triển của KH-CN và sự ra đời của các
ngành nghề mới. Việc kết hợp “Nghiên cứu khoa học - Đào tạo - Sản xuất kinh
doanh” làm tăng chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ nghiên cứu của trường đại
học, đồng thời tận dụng tối đa cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường và thúc
đẩy hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động KH-CN, đào tạo. Trên cơ sở
đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các trường đại học vươn lên đáp ứng những mục
tiêu và nhiệm vụ của mình trong sự phát triển của đất nước.
Thứ ba, sản phẩm của hoạt động KH-CN trong trường đại học không những
phục vụ xã hội mà cũng phục vụ trực tiếp cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực
khoa học.
Khác với các đơn vị nghiên cứu KH-CN khác, sản phẩm hoạt động KH-CN
trong các trường đại học thường đa dạng hơn, bao gồm hai nhóm chính là: sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu phát triển KH-CN của xã hội và sản phẩm phục vụ nhu
cầu đào tạo của nhà trường.
14
Đối với các đơn vị nghiên cứu khác trong xã hội như viện nghiên cứu, các
trung tâm nghiên cứu, sản phẩm KH-CN chủ yếu là các phát minh, sáng chế, những
quy trình công nghệ, phục vụ cho quá trình quản lý, sản xuất kinh doanh. Trong
khi đó, đối với các trường đại học khối kinh tế, sản phẩm nghiên cứu KH-CN không
dừng lại ở đó. Điều có ý nghĩa quan trọng là sản phẩm hoạt động KH-CN phục vụ
trực tiếp cho quá trình đào tạo của các trường đại học, là hệ thống mục tiêu, chương
trình, học liệu phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu.
Trường đại học là những cơ sở đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho
Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, việc tham gia hoạt động KH-CN làm
cho lực lượng khoa học trẻ này có điều kiện để một mặt, lĩnh hội được cáv kiến
thức cơ bản cần thiết, mặt khác họ am hiểu cả phạm vi ứng dụng kiến thức đó; họ
được rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực tiễn, phương pháp lao động khoa học cần thiết
cho hoạt động nghề nghiệp sau này.
Việc tổ chức cho các cựu sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp ra
trường tham gia các hoạt động NCKH không chỉ đơn giản là tăng số lượng và chất
lượng nguồn nhân lực KH-CN mà điều quan trọng hơn là thông qua đó, nối dài bàn
tay của nhà trường tới mọi lĩnh vực hoạt động của thực tiễn sản xuất kinh doanh,
đóng góp cụ thể và đáp ứng kịp thời nhu cầu đa dạng về KH-CN trong cuộc sống.
1.1.3. Vai trò, chức năng của hoạt động KH-CN trong trường đại học kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, với xu thế hội nhập và cạnh tranh mạnh
mẽ, sứ mạng của trường đại học được thay đổi căn bản. Trường đại học kinh tế vừa
là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa là trung tâm nghiên cứu khoa
học của đất nước về lĩnh vưc kinh tế và quản trị kinh doanh. Tuy nhiên, mức độ kết
hợp và thực hiện hai nhiệm vụ chủ yếu này cũng tuỳ thuộc vào từng trường đại học
và điều kiện cụ thể ở từng nước. Vai trò của các trường đại học trong việc tạo ra các
sản phẩm KH-CN được thể hiện ở việc đóng góp về KH-CN cho xã hội của nhà
trường thông qua nhiều phương thức nhưng chủ yếu được thể hiện qua hai kênh
chính thức, đó là:
Thứ nhất, cung cấp các tri thức khoa học, những hiểu biết về kinh tế- xã hội,
quản lý, quản trị kinh doanh. Việc cung cấp đó được thực hiện thông qua qua nguồn
lực được đào tạo hay qua các kênh thông tin khác như sách báo, tài liệu, hội thảo
khoa học, các công trình khoa học được công bố.v.v. Thông qua kênh này, ý nghĩa
chuyển giao KH-CN được thể hiện rõ nét là cung cấp và tăng cường nguồn nhân lực
có chất lượng cao cho sự phát triển nền kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao dân trí
cho mọi đối tượng lao động.
Thứ hai, cung cấp các dịch vụ KH-CN; chuyển giao các kết quả nghiên cứu về
KH-CN để ứng dụng trong thực tế cả thị trường trong nước và quốc tế. Trong điều
kiện nền kinh tế mở hiện nay, kênh chuyển giao này là vô cùng quan trọng, vì nó
1.2. Các tổ chức KH-CNkhoa học và công nghệ trong trường đại học kinh tế
1.2.1. Phân loại các tổ chức KH-CNkhoa học và công nghệ trong trường đại học
kinh tế
Thông thường trong các trường đại học kinh tế có các tổ chức KH-CN như:
Viện, Trung tâm, Khoa, Bộ môn. Bên cạnh đó còng có các tổ chức cùng hoạt động
17
Khoa học và Công nghệ như Tạp chí, Nhà Xuất bản. Để thuận lợi cho nghiên cứu
đánh giá về các tổ cức KH-CN có thể phân chia các tổ chức KH-CN của các trường
Đại học Kinh tế theo một số tiêu chí sau:
a. Phân loại theo tư cách pháp nhân
Theo tư cách pháp nhân các tổ chức KH-CN trong trường đại học kinh tế
được phân chia làm hai loại:
+ Tổ chức có tư cách pháp nhân đầy đủ
+ Tổ chức không có tư cách pháp nhân đầy đủ.
a1. Các tổ chức có tư cách pháp nhân đầy đủ: Theo pháp luật Việt Nam thì
pháp nhân là những tổ chức có tư cách tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội. Một
tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện như (1). Được thành
lập hợp pháp; (2). Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3). Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ
chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (4). Nhân danh mình tham gia các
quan hệ pháp luật một cách độc lập. Tổ chức có tư cách pháp nhân có con dấu
riêng, có tài khoản hoạt động và được giao dịch hợp pháp với các tổ chức, cá nhân
khác ví dụ: các công ty, doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, đơn vị sự nghiệp khoa
học, vv.
a2. Các tổ chức không có tư cách pháp nhân đầy đủ: Là các đơn vị hoạt động
KH-CN trực thuộc, được trường đại học thành lập, nhằm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của trường đại học theo quy định pháp luật. Các tổ chức này có cơ cấu tổ
chức chặt chẽ, nhưng không có tài sản độc lập, không có con dấu, tài khoản riêng,
các hoạt động của nó phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ được phân công của Hiệu
trưởng trường đại học hoặc của khoa, bộ môn thuộc trường đại học đó, do Hiệu
trưởng quy định.
tiễn nhằm đưa ra những giải pháp mới, vật liệu mới, công nghệ mới, những hệ
thống và dịch vụ mới, từ đó mở rộng phạm vi và quy mô của các nghiên cứu ứng
dụng vào thực tiễn đời sống và sản xuất.
b2. Tổ chức chuyên về đào tạo.
Các tổ chức nằm trong nhóm này hoạt động trọng tâm về lĩnh vực đào tạo bao gồm:
Các hoạt động đào tạo mang tính chuyên ngành (thuần tuý): Các tổ chức khoa
học và công nghệ KH-CNtrong trường đại học thực hiện chức năng đào tạo chuyên
môn thuần tuý theo chuyền ngành gắn với tên gọi của các tổ chức đó. Ví dụ, Khoa
tài chính ngân hàng đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực tài chính ngân hàng, Khoa
Marketing đào tạo chuyên sâu về các nghiệp vụ chuyên sâu liên quan đến
marketing, v.v.
Các hoạt động đào tạo không mang tính chuyên ngành: Các tổ chức khoa học
và công nghệ KH-CN trong trường đại học thực hiện hoạt động đào tạo gắn với
nhiệm vụ được giao, phù hợp với lĩnh vực, chuyên môn của tổ chức đó. Chẳng hạn,
các tổ chức này có thể mở các khoá đào tạo, bồi dưỡng kiến thức bổ sung hoặc nâng
cao cho các đối tượng khác nhau theo nhu cầu của thị trường. Ví dụ, Viện nghiên
19
cứu Kinh tế và Phát triển thuộc trường Đại học Kinh tế quốc dân, thực hiện các
chương trình đào tạo sau đại học, mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về quản lý kinh tế
và quản trị kinh doanh, về phương pháp nghiên cứu kinh tế cho các cán bộ nghiên
cứu, giảng dạy, cán bộ quản lý ở tầm vĩ mô và vi mô.
b3. Tổ chức chuyên về tư vấn và chuyển giao.
Ngoài những nhiệm vụ được giao, các tổ chức KH-CN trong trường đại học,
còn cung cấp dịch vụ tư vấn trong các lĩnh vực, ngành nghề có liên quan đến
chuyên môn của tổ chức mình. Đây là các hoạt động có nguồn thu tài chính, ngoài
nguồn kinh phí được trường đại học cấp hàng năm theo kế hoạch ngân sách hàng
năm của trường.
c. Phân loại theo mức độ tự chủ và không tự chủ
Theo cách phân chia này, các tổ chức khoa học và công nghệKH-CN trong
trường đại học được phân chia thành các hình thức sau:
tính mùa vụ, thông thường các tổ chức này được thành lập gắn liền với thực hiện
một nhiệm vụ, hoạt động KH-CN cụ thể nào đó. Các tổ chức dạng này thường gặp
là các nhóm đề tài, nhóm dự án, nhóm tư vấn.
SƠ ĐỒ 1.2: QUAN HỆ GIỮA CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU
1.2.2 Vai trò của các tổ chức KH-CNkhoa học và công nghệ trong trường đại học
kinh tế
a. Vai trò của các tổ chức KH_CNkhoa học và công nghệ trong trường đại học
kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, với xu thế hội nhập và cạnh tranh mạnh
21
Nghiên cứu cơ bản thuần
tuý
Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu nền
tảng
Nghiên cứu
ứng dụng
Triển khai thực
nghiệm
Nghiên cứu cơ bản
định hướng
Triển khai trong
phòng thí nghiệm
Triển khai bán
đại trà
Nghiên cứu
chuyên đề
mẽ, trường đại học vừa là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu
cầu lao động của thị trường, vừa là trung tâm nghiên cứu khoa học của đất nước, sứ
mạng của các tổ chức khoa học và công nghệ trong trường đại học đã có những thay
Đa dạng hóa phương thức chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh
22
-Hoạt động triển khai công nghệ dưới dạng dự án sản xuất thử nghiệm: Loại
hình này có thể thực hiện ở tất cả các lĩnh vực khoa học, tuy nhiên chủ yếu thích
ứng với các khối kỹ thuật.
-Triển khai thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ trực tiếp với các
doanh nghiệp. Các tổ chức KH-CN cần có nhiều hình thức giới thiệu để ứng dụng
vào thực tế thông qua hợp đồng sản xuất, chuyển giao công nghệ, khuyến khích
việc liên kết giữa các nhà khoa học trong trường đại học với các doanh nghiệp.
-Hoạt động tư vấn KH-CN: Nội dung hoạt động tư vấn là việc chuyển giao
hàm lượng tri thức KH-CN của nhà khoa học trong từng tổ chức KH-CN hoặc của
trường đại học với các doanh nghiệp và đơn vị sản xuất kinh doanh, hướng vào việc
lựa chọn, làm chủ quy trình kỹ thuật và công nghệ, đi thẳng vào công nghệ tiên tiến;
tư vấn về quy hoạch phát triển kinh tế xã hội từng vùng và cả nước, lập dự án đầu
tư, khảo sát, thiết kế, lập tổng dự toán, thẩm định dự án; tư vấn các vấn đề xa hội ở
tầm vĩ mô và vi mô,
-Thành lập doanh nghiệp khoa học trong các trường đại học. Đây là xu hướng
phát triển của các trường đại học trên thế giới trong những năm gần đây; từng bước
chuyển các tổ chức KH-CN thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và phát triển
công nghệ sang cơ chế tự trang trải kinh phí được hoạt động theo cơ chế doanh
nghiệp; phát triển nhanh doanh nghiệp KH-CN trong các trường đại học.
Ươm tạo công nghệ trong các trường đại học
Việc thực hiện các nhiệm vụ ươm tạo trong các trường đại học sẽ tạo ra các
sản phẩm có khả năng ứng dụng cao, giá thành hạ, thiết thực phục vụ kinh tế - xã
hội; đồng thời góp phần thúc đẩy công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển
giao công nghệ trong giai đoạn hội nhập, gắn nhà trường với doanh nghiệp. Thực
hiện các nhiệm vụ ươm tạo công nghệ là mô hình thích hợp trong các trường đại
học, cần được triển khai nhân rộng vì những kết quả đem lại là khá toàn diện. Tuy
nhiên, để mô hình này thực sự phát triển rộng rãi, cần có sự hỗ trợ của nhà nước
cũng như của các doanh nghiệp. Một số kết quả ươm tạo công nghệ muốn đưa vào