Một số giải pháp marketing-mix nhằm nâng cao mức độ thỏa mãn khách hàng đối với sản phẩm thuốc nhỏ mắt politincol của công ty cổ phần dược phẩm Hà Nội - Pdf 26

MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây thị trường thuốc trên thế giới cũng như Việt
Nam phát triển rất sôi động. Ở Việt Nam với đường lối kinh tế mở cửa và
khuyến khích các thành phần kinh doanh dược phẩm trong nước đã tạo nên
một thị trường thuốc phong phú, đa dạng, cạnh tranh ngày một gay gắt với
các doanh nghiệp dược thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong nước và
các doanh nghiệp dược nước ngoài. Khách hàng có thể tha hồ lựa chọn trong
vô số hàng hóa và dịch vụ được trưng bày la liệt. Khách hàng có quyền lực
hơn bao giờ hết, họ có thể kiểm soát việc sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ ở đâu,
vào lúc nào, như thế nào, đồng nghĩa với nó là họ sẽ có nhiều sự lựa chọn, họ
ít khi trung thành với một nhãn hiệu nào đó. Nhu cầu tiêu dùng ngày một gia
tăng nhanh chóng và không ngừng đòi hỏi cao là một thách thức không dừng
đối với tất cả các doanh nghiệp muốn tồn tại , duy trì và phát triển trong thời
hiện đại.
Một trong những vấn đề mấu chốt có thể trở thành nhân tố chủ yếu đem
lại thành công trong cơ chế thị trường hiện nay là các công ty không ngừng
tìm cách nâng cao mức độ thỏa mãn khách hàng nhằm giữ chân và gia tăng
lượng khách hàng trung thành cũng như thu hút khách hàng mới. Do đó làm
thế nào để nâng cao mức độ thỏa mãn khách hàng là một vấn đề cấp thiết và
được quan tâm mạnh mẽ của tất cả các doanh nghiệp trên thế giới hiện nay
nói chung và Việt Nam hiện nay nói riêng.
Mặt khác, vấn đề tồn tại đối với môi trường hiện nay là ô nhiễm không
khí: rác thải, bụi bẩn, khói nhà máy, khu công nghiệp, phương tiện đi lại giao
thông đông đúc đặc biệt là ở các thành phố lớn. Điều đó đã gây ra rất nhiều
căn bệnh về mắt như: đau mắt hột, viêm giác mạc, loét bờ mi, viêm mống
mắt Nhu cầu bảo vệ đôi mắt được tất cả mọi người quan tâm và chú trọng.
2
Trên thị trường hiện có đa dạng các nhãn hiệu thuốc nhỏ mắt tại các
doanh nghiệp trong và ngoài nước. Trong đó, Công ty cổ phần dược phẩm Hà

pháp Marketing-mix nhằm nâng cao mức độ thỏa mãn khách hàng đối với
sản phẩm thuốc polytincol của công ty Dược phẩm Hà Nội.
Nội dung nghiên cứu:
Cuộc nghiên cứu được đặt ra với những nội dung cụ thể đó là nghiên
cứu sự thỏa mãn của khách hàng đối với sản phẩm thuốc nhỏ mắt polytincol
đồng thời tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của khách hàng khi sử dụng sản
phẩm thuốc nhỏ mắt nói chung, thuốc nhỏ mắt polytincol nói riêng.
Tìm hiểu những đánh giá, thái độ của khách hàng đối với sản phẩm
polytincol và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về thời gian cũng như nhân lực nên
hạn chế phạm vi trên địa bàn thành phố Hà Nội vì Hà Nội là thành phố năng
động, phát triển cao của cả nước, trình độ hiểu biết cũng như nhu cầu và đòi
hỏi sự thỏa mãn thể hiện rõ nét nhất.
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những khách hàng cá nhân đã từng
mua và sử dụng thuốc nhỏ mắt để biết được những cảm nhận và kì vọng sau
khi tiêu dùng sản phẩm.
Nghiên cứu, tìm hiểu về khách hàng tổ chức là các bệnh viện. Những
người có ảnh hưởng lớn đến việc mua thuốc của khách hàng đó là bác sỹ,
người kê đơn thuốc và bán thuốc bởi đặc thù của sản phẩm thuốc là khách
hàng thường tin và mua theo chỉ dẫn của bác sỹ, của những người bán thuốc.
Do đó việc nghiên cứu đối tượng khách hàng này cũng đóng một vai trò khá
quan trọng trong việc tìm hiểu mức độ hài lòng của khách hàng.4
Phương pháp nghiên cứu:
Đối với dữ liệu thứ cấp:
Gồm các dữ liệu được lấy trên các website của công ty cổ phần Dược
phẩm Hà Nội.

Thêm nữa, xét tính kinh tế, cuộc điều tra bị ràng buộc bởi nguồn lực hạn chế
cả về tài chính và nhân lực, thời gian dành cho cuộc nghiên cứu khá khiêm
tốn
Phỏng vấn cá nhân chuyên sâu 5 khách hàng là bác sỹ, hoặc ban lãnh
đạo ra quyết định mua hàng của bệnh viện hoặc tổ chức.
Chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận, được trình bày theo 3 phần
sau:
I. Giới thiệu chung về công ty cổ phần Dược phẩm Hà Nội
II. Phân tích thực trạng mức độ thỏa mãn khách hàng đối với sản
phẩm politincol
III. Đề xuất một số giải pháp marketing-mix nhằm nâng cao mức độ
thỏa mãn khách hàng với sản phẩm politincol.
6
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM HÀ
NỘI (HANOIPHARMA).
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
1.1.1 Quá trình hình thành
Công ty Cổ Phần Dược Phẩm Hà Nội – Hanoi Pharmaceutical Joint
Stock Company có trụ sở chính tại số 170 Đường La Thành, Phường Ô Chợ
Dừa, Quận Đống Đa, Hà Nội. Công ty được thành lập vào ngày 01/01/2003
theo quyết định số 1524/QĐ- UB của Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội
trên cơ sở ban đầu là xí nghiệp Dược Phẩm Hà Nội, nay chuyển sang hình
thức cổ phần hoá và lấy tên là công ty Cổ Phần Dược Phẩm Hà Nội. Công ty
chiụ sự quản lý trực tiếp của uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội và cơ quan
quản lý chuyên môn là Sở Y Tế Hà Nối. Công ty được thành lập với số vốn
điều lệ là 7,9 tỷ đồng, với 206 lao động trong đó số công nhân sản xuất là 126
người, cán bộ quản lý là 80 người.
Công ty thay đổi lại bản đăng ký kinh doanh lần cuối vào 04/10/2006.
Công ty sản xuất kinh doanh các mặt hàng dược ( Tân dược và Đông

triển sản xuất và mở rộng chức năng kinh doanh dược phẩm đạt kết quả khá
cao. Doanh số sản xuất và kinh doanh của công ty năm 2008 đạt gần 300 tỷ
đồng. Hiện nay công ty đang có một hệ thống cơ sở vật chất hiện đại cũng với
việc nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP đang hoàn thiện, hứa hẹn
một sự phát triển về cả lượng và chất trong tương lai
1.2 Bộ máy tổ chức quản lý, lĩnh vực sản xuất kinh doanh;
1.2.1 Bộ máy tổ chức quản lý
Bộ máy quản lý của công ty Cổ Phần Dược Phẩm Hà Nội được tổ chức
8
theo mô hình chức năng do đại hội đồng cổ đông đứng đầu. Tiếp đến là hội
đồng quản trị. dưới đó là các phòng ban.
- Giám đốc: Là người trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh và chịu
trách nhiệm về mọi mặt hoạt động của công ty do Hội đồng quản trị tuyển
chọn, bổ nhiệm và miễn nhiệm.
- Phó giám đốc: Là người giúp giám đốc trong công việc điều hành của
công ty, được uỷ quyền trực tiếp.
Nhiệm vụ và chức năng của phó giám đốc là:
Điều hành sản xuất của công ty theo kế koạch đã được duyệt sao cho
đảm bảo chất lượng sản phẩm và an toàn về người, cùng thiết bị.
Điều hành việc thực hiện các kế hoạch phục vụ cho việc sản xuất như:
Kế hoạch tiến độ kỹ thuật làm mặt hàng mới, kế hoạch công tác dược chính,
9
kế hoạch an toàn lao động, kế hoạch an toàn lao động, kế hoạch huấn luyện
đào tạo.
Thay mặt giám đốc giải quyết những công việc được uỷ quyền.
- Trưởng phòng tổ chức - hành chính: Phụ trách toàn bộ các vấn đề
liên quan đến tổ chức - hành chính như: Quản lý nguồn nhân lực, phụ trách
công tác tuyển dụng, công tác đào tạo.
- Trưởng phòng kế toán tài vụ: Phụ trách công tác kế toán tài chính cho
công ty. Là người có quyền hành và trách nhiệm cao nhất phòng kế toán. Kế

Tổ chức đấu thầu, chộn thầu mua nguyên liệu, phụ liệu, bao bì phục vụ
sản xuất.
Thực hiện bán buôn, đấu thầu các lô hàng hoá do công ty sản xuất, phân
phối trang thiết bị y tế theo nhu cầu thị trường.
Quản lý hoạt động của các quầy hàng, các đại lý, chi nhánh theo quy
định, quy chế của công ty.
Tổ chức nghiên cứu thị trường, đề xuất cải tiến kỹ thuật đáp ứng yêu cầu
chất lượng và thị hiếu của khách hàng.
- Phòng kế toán tài vụ.
Chức năng của phòng là làm tham mưu cho giám đốc và phó giám đốc
về vấn đề tài chính của công ty. Thực hiện chức năng hạch toán trên cơ sở ghi
chép sao chụp phản ánh trung thực các hoạt động của công ty theo nguyên tác
tài chính. quản lý toàn bộ vốn, nguồn vốn, giám sát việc sử dụng vốn và quản
lý vốn theo chế độ hiện hành. Đồng thời phân tích số liệu thu được so sánh
giữa các kỳ báo cáo, tìm nguyên nhân tăng giảm giá thành, tham mưu cho
giám đốc quyết định phương hướng sản xuất, chiến lược sản phẩm, chiến lược
đầu tư, lựa chọn công nghệ.
Quản lý tài sản hữu hình ( nhà xưởng, máy móc, thiết bị vật tư, hàng hoá,
tiền bạc, thiết bị văn phòng…) có hệ thống, thực hiện thu chi theo nguyên tắc,
11
chế độ hiện hành.
- Phòng kỹ thuật: Có chức năng làm tham mưu cho ban giám đốc và
giám sát về toàn bộ hoạt động kỹ thuật của công ty dưới sự chỉ đạo của ban
giám đốc mà trực tiếp là phó giám đốc kỹ thuật.
- Phòng nghiên cứu:
Nghiên cứu nâng cấp tiêu chuản của công ty. Theo dõi độ ổn định của
thuốc. Hướng dẫn, đào tạo kiểm nghiệm phân xưởng, hệ thống kiểm soát ban
chuyên trách, học sinh sinh viên thực tập.
Tổ chức học tập, nghe báo cáo, tham quan những cơ sở tiên tiến cho cán
bộ trong phòng và đồng nghiệp.

dụng.
- Liên doanh Việt Mỹ (KIMBLY – CLARK)
Chuyên sản xuất kinh doanh hàng vệ sinh và các sản phẩm dùng khi xa
nhà.
Trong nước: Liên kết sản xuất một số mặt hàng thuốc với các xí nghiệp
dược trong nước.
1.3 Đánh giá môi trường kinh doanh và các nguồn lực của công ty
1.3.1 Môi trường kinh doanh của công ty
1.3.1.1 Môi trường vĩ mô
1.3.1.1.1 Môi trường văn hóa, xã hội
Thị trường dược phẩm Việt Nam hiện nay rất sôi động có xu hướng phát
triển mạnh, hứa hẹn nhiều tiềm năng thu hút sự quan tâm của các nhà kinh
doanh dược phẩm trong nước và nước ngoài. Ngành dược Việt Nam tăng
trưởng bình quân 13%/năm riêng công ty có tốc độ tăng trưởng bình quân
20%/năm (Nguồn : Đề án đảm bảo cung ứng và bình ổn giá thuốc- Bộ y tế-
Tr7). Hiện nay số thuốc đang lưu hành tại thị trường Việt Nam vào khoảng
8000 mặt hàng các loại ( Nguồn: Cục quản lý dược – Bộ y tế). Việt Nam có
13
thị trường dược lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng
bình quân đứng thứ ba.
Một điều nữa là tình hình thuốc giả đang làm rối loạn thị trường hiện
nay. Năm nào cũng có những trường hợp thuốc của nước ngoài đã bị đình chỉ
lưu hành trên thị trường Việt Nam, do quá “đắt” hoặc không đảm bảo chất
lượng… Đó là chưa kể những món hàng nhập lậu ngành Y tế không thể kiểm
soát chất lượng. Và người bệnh thường chỉ dựa vào cách phát âm khi mua
thuốc nên dễ bị nhầm lẫn, thuốc mạo với thuốc thật. Hơn nữa mẫu mà bao bì
lại tương tự nên người tiêu dùng càng khó phân biệt. Mặt khác thuốc là mặt
hàng đặc biệt ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Trong khi thị trường
hiện nay rất phức tạp vì thuốc mạo đã đang và sẽ còn gây ra những hậu quả
nghiêm trọng cho sức khoẻ cộng đồng, gây ra những tổn thất về tiền bạc cho

nhà máy dược phẩm trong cả nước. Hiện nay, thuốc ngoại nhập vẫn chiếm vị
trí quan trọng khi cung ứng tới 60% trị giá thuốc cho thị trường thuốc trong
nước, trong đó có nhiều loại thuốc đặc trị, chuyên khoa sâu, thuốc có công
nghệ cao mà Việt Nam chưa sản xuất được. Bên cạnh đó, đối với thuốc được
sản xuất trong nước và các doanh nghiệp dược nội địa vẫn còn phụ thuộc tới
90% nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc được nhập từ nước ngoài.
Năm 2009, Thị trường dược phẩm Việt Nam đạt 27.361 tỷ đồng (tương
đương 1,54 tỷ USD), tổng trị giá tiền thuốc sử dụng 1,696 tỷ USD (tăng
18,97% so với năm 2008), tiền thuốc bình quân đầu người 19,77 USD (tăng
20,18% so với năm 2008). Dự báo tiền thuốc sử dụng tăng gấp đôi sau 5 năm
(năm 2014: 33,8 USD/người). Thị trường dược phẩm Việt Nam đạt 2 tỷ USD
vào năm 2011 và tốc độ tăng trưởng 17%-19% mỗi năm. Có thể nói hiện tại
và những năm sau Việt Nam là thị trường béo bở cho các doanh nghiệp thuốc
trong và ngoài nước đầu tư và phát triển.
- Tỷ giá hối đoái :
15
Tỷ giá hối đoái là một trong số những ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp dược phẩm
trong nước hiện nay, khi mà nguyên liệu sản xuất thuốc 90% được nhập từ
nước ngoài. Tỷ giá hối đoái tác động đến cả cung cầu về tiền và từ đó tác
động đến giá cả hàng hóa. Tỷ giá cao sẽ khuyến khích xuất khẩu và ngược lại,
tỷ giá thấp sẽ khuyến khích nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu.
Với bất kỳ một tỷ giá nào biến động bất lợi trong thời gian các công ty
xuất hàng hoặc nhập hàng dược cũng đều ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận
của người kinh doanh và mức giá trên thị trường. Như vậy, hoạt động sản
xuất kinh doanh tân dược cũng như các mặt hàng khác chịu sức ép từ cả hai
phía của việc tăng hay giảm tỷ giá hối đoái.
-Tỷ lệ lạm phát :
Tỷ lệ lạm phát Việt Nam là 11,75% năm 2010 làm cho giá trị đồng thu
nhập giảm xuống và như vậy ảnh hưởng đến chi tiêu cho gia đình. Khi gía trị

1-2009 được phép nhập thuốc trực tiếp vào Việt Nam. Nhưng với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài không có đại diện
thương mại tại Việt Nam chỉ được quyền nhập khẩu và không có quyền phân
phối dược phẩm. Bộ Y tế đang phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng
hướng dẫn quy định theo nguyên tắc: doanh nghiệp nước ngoài được quyền
nhập khẩu, sau đó thực hiện việc cung cấp thuốc cho doanh nghiệp Việt Nam
theo điều kiện về chuyên môn, kỹ thuật để đáp ứng chất lượng thuốc.
Ngoài ra, để được nhập khẩu thuốc trực tiếp, doanh nghiệp dược nước
ngoài phải đầu tư vào lĩnh vực dược tại Việt Nam, như đầu tư vào sản xuất,
dịch vụ bảo quản hoặc dịch vụ kiểm nghiệm dược phẩm.
Bên cạnh đó, một trong những biện pháp để thúc đẩy phát triển ngành
công nghiệp dược trong nước, hạn chế phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, ngành
dược dự kiến tăng mạnh số lượng các nhà máy sản xuất thuốc trong nước đạt
17
tiêu chuẩn GMP-WHO lên hơn 55%. Đồng thời tập trung phát triển, xây dựng
những nhà máy chuyên sản xuất nguyên liệu, kháng sinh để phục vụ cho
doanh nghiệp sản xuất trong nước.
1.3.1.1.4 Môi trường công nghệ
Ngành công nghiệp dược phẩm phụ thuộc khá nhiều vào công nghệ, máy
móc và các trang thiết bị. Dược phẩm là lĩnh vực đòi hỏi vốn cao, chi phí cố
định lớn. Các công nghệ phức tạp, đắt tiền chủ yếu được nhập khẩu từ các
nước phát triển như Pháp, Đức, Mỹ
Gần đây, dược phẩm sản xuất Việt Nam đã và đang phải đối mặt với tỷ
lệ hàng giả, hàng nhái, sản phẩm sao chép lớn. Theo báo cáo thống kê gần
đây, tỷ lệ các sản phẩm giả mạo trong năm 2009 tăng gấp ba lần so với 2005
Hiện nay, một số doanh nghiệp trong nước đã mua công thức từ nước ngoài,
dựa vào lợi thế về nguồn lao động, nguyên liệu trong nước rẻ để sản xuất sản
phẩm chất lượng cao mà hợp lý với người tiêu dùng. Đây là xu hướng tích
cực mới trong lĩnh vực dược phẩm Việt Nam
Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra cơ hội lớn để tiếp cận công nghệ hiện

nào cũng không chỉ có sự cạnh tranh của những công ty trên địa bàn đó mà
còn có sự tham gia của các công ty ở các miền khác. Ta thấy tình hình cạnh
tranh ở miền Nam là gay gắt hơn cả với 21 tỉnh thành mà có tới hơn 410
doanh nghiệp dược.
1.3.1.2.2 Sức ép từ nhà cung cấp
HaNoiPharma chịu sức ép từ phía cung cấp chính là nguồn nguyên vật
liệu từ các địa phương, đặc biệt là nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước
ngoài là Đức, Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ. Nhìn chung, công ty có mối quan hệ
tốt đối với nhà cung cấp, số lượng hàng hóa mua vào ngày càng gia tăng theo
các năm. Do mối quan hệ hợp tác khá lâu dài, bền vững nên trong những thời
điểm cần thiết phải huy động một khối lượng lớn hàng hóa công ty cũng có
19
thể có được. Chính vì vậy, công ty luôn giữ được một khoảng cách khá an toàn
không để có những ảnh hưởng lớn đến hoạt động chung của công ty. Mối quan
hệ này cũng đã tạo điều kiện tốt cho nguồn đầu vào của công ty được ổn định.
1.3.2 Nguồn lực của công ty
1.3.2.1 Nguồn lực về tài chính:
Xí nghiệp dược phẩm Hà Nội được thành lập năm 1965; trải qua nhiều
năm hoạt động, xí nghiệp đã lớn nên cả về quy mô và nguồn lực cũng như
nguồn vốn. Xí nghiệp dược phẩm Hà Nội được thay đổi khá nhiều tên khác
nhau, và hình thức hoạt động.
Năm 1993, xí nghiệp dược phẩm Hà nội được chính thức thành lập theo
quyết định số 784/QĐ – UBND ngày 22/2/1993 của thành phố Hà Nội. Lúc
này, xí nghiệp haọt động với số vốn kinh doanh là 4512,4 triệu đồng. Trong
đó vốn cố định là 3097,8 triệu đồng và vốn lưu động là 1128,3 triệu đồng, vốn
khác 286,3 triệu đồng.
Năm 2003, xí nghiệp dược phẩm Hà Nội chuyển sang là công ty cổ phần
dược phẩm Hà Nội với số vốn điều lệ là 7,9 tỷ đồng. Công ty thay đổi bản
đăng ký kinh doanh lần cuối vào ngày 04/10/2006 cũng với số vốn điều lệ 7,9
tỷ đồng.

16
38
31
7
63,4%
25,4%
11,2%
45,2%
10,1%
8,2%
18,2%
15,3%
3,0%
Tổng 208 132 76 100% 63,5% 36,5%
( nguồn: phòng tổ chức - hành chính)
Từ bảng số liệu trên ta thấy, tổng số lao động là 208 trong đó riêng nữ là
132 chiếm tỷ trọng 63,5%. Đây là một tỷ lệ khá cao phù hợp với đặc điểm sản
xuất của công ty đòi hỏi sự khéo léo, chính xác và nắm chắc yêu cầu kỹ thuật
chứ không đòi hỏi yêu cầu nặng nhọc.
21
Bảng 1.3: Trình độ học vấn, kinh nghiệm của lao động trong các phân
xưởng ( năm 2009)
Phân xưởng Số lượng Trình độ Thâm niên công
tác
ĐH CĐ CN <5 năm >5 năm
1- PX viên
2- PX tiêm
3- PX đông dược
4- PX mắt ống
5- PX bao bì

Tổng số 112 12 26 74 73 79
( nguồn: phòng tổ chức- hành chính)
Nhìn chung,chất lượng lao động của công ty như vậy là chưa cao vì số
lượng lao động đạt trình độ là trung cấp khá nhiều. Trong khi đó hiện nay, số
lao động có trình độ đại học, cao đẳng về dược là khá nhiều.
Theo trưởng tổ chức hành chính thì công ty cổ phần Hà Nội đang từng
bước thay đổi về cơ cấu nhân sự cũng như chất lượng lao động. Công ty có kế
hoạch tuyển thêm nhân sự chủ yếu trình độ đại học để thay thế một số vị trí,
và thêm vào một số vị trí mới.
1.3.2.3 Đặc điểm về công nghệ và thiết bị
Xuất phát từ đặc điểm sản xuất của công ty Dược phẩm Hà Nội ta thấy
việc sản xuất ở đây phần lớn là cơ giới hoá. Do đó, máy móc đóng một vai trò
hết sức quan trọng trong việc sản xuất kinh doanh của công ty. Nó thể hiện
qua quy trình sản xuất.
Nhân thức được vấn đề này, ban lãnh đạo công ty tìm nguồn vốn bổ sung
cho quỹ phát triển của công ty, đầu tư vào mua sắm một số thiết bị sản xuất
nhằm đảm bảo cho sự phát triển của công ty có đủ sức cạnh tranh trên thương
trường hiện nay.
Trong gần ba năm (2005-2008), Hà Nội Công ty cổ phần đã thực hiện xây
22
dựng nhà máy mới đáp ứng được ba tiêu chuẩn GMP (Good Manufacturing
Practice), GLP (Good Laboratory Practice), GSP ( Good Safety Practice) tại
Khu công nghiệp Vĩnh Phúc hoàn thành vào tháng Chín, 2009.
Trong thực tế, GMP là một hệ thống tiêu chuẩn để đánh giá và đảm bảo
rằng các loại thuốc được sản xuất và kiểm soát theo tiêu chuẩn chất lượng để
hạn chế rủi ro như nhãn không đúng, không đầy đủ hoặc quá nhiều hoạt chất.
Trong khi đó, GLP (Good Laboratory Practice) thường dùng để chỉ một hệ
thống kiểm soát quản lý cho các phòng thí nghiệm để đảm bảo sự thống nhất
và độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu. GSP (Good Safety Practice) để cải
thiện an toàn lao động.

1 Doanh thu bán hàng 45.539.588.362 40.452.130.630
2 Các khoản giảm trừ doanh thu 206.296.598 157.134.862
3 Doanh thu thuần bán hàng và
cung cấp dịch vụ
45.333.291.764 40.294.995.768
4 Giá vốn hàng bán 35.807.568.160 32.132.662.499
5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và
cung cấp dịch vụ
9.525.723.604 8.162.333.269
6. Doanh thu hoạt động tài chính 1.151.578.473 5.396.318.032
7. Lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh
3.489.421.260 5.477.926.299
8. Lợi nhuận khác 10.543.374.142 44.089.959.803
9. Tổng lợi nhuận trước thuế 13.543.374.142 49.567.886.102
10. Lợi nhuận sau thuế 12.473.793.459 40.894.219.220
11. Lãi cơ bản trên cổ phiếu 6.111 20.316
( Nguồn: Phòng kế toán-HaNoiPharma)
Lợi nhuận năm 2009 của công ty tăng gấp 3 lần năm 2008. Nộp ngân
sách nhà nước mỗi năm khoảng trên 800 triệu đồng. Đặc biệt, hoạt động của
công ty đa dạng, phong phú, rộng khắp song tập trung chủ yếu là thuốc tân
dược chiếm trên 80% doanh số bán của công ty
Các chỉ số sinh lời (Đơn vị: triệu đồng)
24
Chỉ tiêu
Năm
2008 2009 2010
Lợi nhuận trước thuế 13.543 44.089 40.321
Lợi nhuận thuần 3.489 5.478 4.124
Tỷ suất doanh thu lợi nhuận (%) 0,25 0,249 0,2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status