Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam hiện nay - Pdf 26

Phần Mở đầu
1.Lý do chọn đề tài
Bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới , Việt Nam đang có những bước
chuyển mình mạnh mẽ , chúng ta đã ngày càng thực hiện những chính sách thông
thoáng hơn để tăng cường thu hút nguốn vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triể
kinh tế - xã hội đất nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được xem như là
một trọng những “ đốt xương sống” của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Vai trò
của nguồn vốn FDI được thể hiện rất rõ qua việc đóng góp vào các yếu tố quan
trọng của tăng trưởng như bổ sung nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu,
chuyển giao công nghệ, tăng nguồn thu GDP , ngoại tệ , cơ sở vật chất, việc làm
cho người lao động , cải thiện đời sống nhân dân…v.v góp phần thúc đẩy Việt
Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhờ có sự đóng góp quan trọng
của FDI mà Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều
năm qua và được biết đến là quốc gia có tốc độ phát triển nhanh có nhiều đổi
mới, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng thế giới
Tuy nhiên trong thời gian hai năm trở lại đây tình hinh thu hút nguốn vốn
FDI có phần chững lại, điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để tìm hiểu về
vấn đề này đề tài “Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) tại Việt Nam hiện nay” được thực hiện với mục tiêu cụ thể là tìm
hiểu về thực trạng sử dụng nguồn vốn FDI ở Việt Nam và tình hình thu hút FDI
hiện nay , qua đó đóng góp những giải pháp để nâng cao hiệu quả những giải
pháp thu hút nguồn vốn FDI.
2.Mục tiêu nghiên cứu đề tài.
1
Mục tiêu : nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vôn
FDI tại Việt Nam , tìm ra những nguyên nhân , hạn chế của vấn đề này. Đồng
thời đưa ra những giải pháp để tăng cường thu hut đầu tư FDI.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng : được xác định là nguồn vốn FDI tại Việt Nam và tình hình sử
dụng và thu hút nguồn vốn này.
Phạm vi nghiên cứu : Được xác định tại Việt Nam trong thời gian chủ yếu

chứng khoán, trái phiếu hoặc các công cụ tài chính khác. Nhà đầu tư tài chính
thông thường chỉ nhắm vào mục đích mua và bán chứ ít làm tăng giá trị thực của
công ty mà họ đầu tư vào.
Đầu tư trong kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu
hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy
định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đầu tư, trong kinh tế học , chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng
lực sản xuất tương lai. Đầu tư, vì thế, còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích
3
lũy tư bản và chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được gọi
là đầu tư trong kinh tế.
Như vậy có thể khái quát định nghĩa về đầu tư như sau : Đầu tư là một hình
thức bỏ ra , hy sinh những nguồn lực hiện tại ( tiền , vốn , của cải vật chất …v.v.)
nhằm đạt được những kết quả có lợi cho chủ đầu tư trong tương lai.
Về mặt địa lý Đầu tư được chia làm :
 Hoạt động đầu tư trong nước
 Hoạt động đầu tư nước ngoài
Về FDI, tổ chức thương mại thế giới ( WTO:World Trade Organization )
có định nghĩa như sau : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà
đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước
thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để
phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà
đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và
các tài sản được gọi là “công ty con” hay chi nhánh công ty ”.
Vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài là gì ? Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một
hình thức đầu tư dài hạn mà trong đó nhà đầu tư bỏ vốn tài sản trong nước để đầu
tư vào một nước khác để tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể với
mục đích kiếm lợi nhuận và các mục tiêu kinh tế - xã hội khác . Nhà đầu tư ở đây
có thể là cá nhân hoặc tổ chức ( công ty , tập đoàn ), họ tự mình chịu trách nhiệm

nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào
có năng suất cận biên cao mới được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có
những hoạt động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất
cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp
1.3.2.Chu kỳ sản phẩm.
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì
sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩm
mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Theo lý
thuyết của nhà kinh tế học Nhật Bản Akamatsu Kaname thì một sản phẩm được
sáng chế và sản xuất đầu tiên tại các nước đầu tư , sau đó xuất khẩu ra thị
trường ngoài nước nhằm tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn.Ở Các nước nhập khẩu thị
trường dành cho sản phẩm này tăng lên do những đặc tính và ưu điểm của sản
phẩm , sau đó nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập
khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài(giai đoạn sản
phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong
nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện(giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa).
Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
1.3.3.Lợi thế đặc biệt của các tập đoàn đa quốc gia
Các nhà kinh tế học Stephen H. Hymes, John H. Dunning, Rugman A. cho
rằng các tập đoàn , công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc trưng (chẳng
hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước
ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư,
6
những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có những điều kiện cho phép họ phát
huy các lợi thế của họ như lao động , đất đai và thể chế và tình hình chính trị.
Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu
tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị
trường tiêu thụ tiềm năng ta dễ dàng nhận ra lợi ích của việc này!
Ví dụ như các công ty phần mềm máy tính như Microsolt , Apple đầu tư
rất mạnh vào thị trường Trung Quốc nhờ điều kiện lao động rẻ, điều kiện chính

Trong tăng trưởng kinh tế , vốn là một trong bốn yếu tố cùng với Lao động
, công nghệ và tài nguyên là những yếu tố quyết định đến sự tăng trường và phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn,
nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ
muốn có cả vốn từ nước ngoài như vốn ODA hay FDI
1.4.2.Tiếp thu công nghệ và phương pháp quản lý.
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng kinh tế dù thiếu vẫn có thể
huy động được phần nào bằng những chính sách tiết kiệm . Tuy nhiên, công nghệ
và phương pháp quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI
từ các tập đoàn đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí
quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều
năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và
8
bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng
lực tiếp thu của đất nước được đầu tư
1.4.3.Tham gia quan hệ thương mại và sản xuất toàn cầu
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn
đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các công ty xí nghiệp khác trong
nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công
lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng
lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu. Bên cạnh đó các công
ty xí nghiệp trong nước cũng có điều kiện để phát triển quan hệ thương mại khi
tham gia vào hệ thống phân phối của các công ty , tập đoàn đa quốc gia này.
1.4.4.Tăng số lượng việc làm và đào tạo lao động.
Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt
được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn
nhiều lao động bản địa. Thu nhập của một bộ phận dân cư bản địa được cải thiện
sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương đó . Trong quá trình
thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là
mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp

tăng khối lượng đầu tư vào.
1.5.2.Phân theo tính chất dòng vốn
10
1.5.2.1.Vốn chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp
do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào
các quyết định quản lý của công ty.
1.5.2.2.Vốn tái đầu tư
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động
kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
1.5.2.3.Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có
thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
1.5.3.Phân theo động cơ nhà đầu tư
1.5.3.1.Vốn tìm kiếm tài nguyên
Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và
dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng
giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn
nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như
các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của
nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài
nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.
1.5.3.2.Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở
nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá lao động rẻ, giá các yếu tố sản xuất
như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất
11
kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v Hiện nay các nước đang phát triển ở Đông
Nam Á hay Châu Phi là những đối tượng của nguồn vốn này
1.5.3.3.Vốn tìm kiếm thị trường

qua luật đầu tư và luật doanh nghiệp. Luật đầu tư năm 2005 được coi là đạo luật
có nhiều tiến bộ và là đạo luật tinh thần hội nhập kinh tế quốc tế xóa bỏ những
phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài không phù hợp với
thông lệ quốc tế, từng bước pháp điển hóa các nội dung cơ bản về đầu tư của hệ
thông pháp luật đầu tư trong nước và hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nó thể hiên được ý chí và tinh
thần phát triển cũng như đã cân nhắc đến nhu cầu của cộng đồng kinh tế thế giới.
Đây là một trong những yếu tố đảm bảo và hấp dẫn quan trọng bậc nhất của môi
trường đầu tư trong nước cũng như thu hút các nguồn vốn FDI.
Ngoài pháp luật về đầu tư được đổi mới , Nhà nước còn có những chính
sách cụ thể trong vấn đề này như cho phép các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam có thể đầu tư gián tiếp vào việt Nam thông qua hình thức mua cổ phiếu sau
khi thị trường chứng khoán hoạt động năm 2000 , điều nay cũng cho thấy những
động thái mới mẻ về chính sách dành cho các nhà đầu tư nước ngoài, và các hoạt
động khác như cho các nhà đầu tư nước ngoài có quyền mua trái phiếu nhà
nước , bỏ qua dần các quan ngại về sự mất kiểm soát dần đối với các doanh
nghiệp có vốn nhà nước.
13
2.1.2.Dân số , lao động và thị trường.
Dân số và lao động nước ta là một trong những yếu tố góp phần thu hút
mạnh mẽ đố với các nhà đầu tư , đặc biệt là các nguồn vốn tìm kiếm thị trường
cũng như hiệu quả đầu tư. Nước ta có dân số đông ( đứng thứ 13 trên thế giới với
86 triệu người năm 2009 ) và vẫn đang phát triển khá nhanh, dân số trẻ , năng
động tạo ra một thị trường lớn đầy tiềm năng cho bất kỳ các sản phẩm nào. Hiện
nay chi phí cho lao động ở nước ta vẫn còn khá rẻ so với các nước trên thế giới ,
ngoài ra với dân số trẻ , nước ta lại có một nguồn lao động dồi dào , chất lượng
lao động đang ngày càng được cải thiện khi chi phí , cũng như sự quan tâm của
nhà nước cho giáo dục và đào tạo nghề ngày càng tăng
2.1.3.Tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý
Nước ta nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng : bao gồm

theo tỷ
giá
(tỷ
USD)
GDP tỷ giá
theo đầu
người
(USD
Tăng
trưởn
200
7
71,4 823 8,5%
200
8
89,83 1024 6,2%
15
200
9
92,84 1040 5,3%
201
0
102,2 1200 6,5%
Nguồn :Wikipedia
Xem bảng 2.1 ta thấy Kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá đều đặn dù các
năm 2008 – 2009 có nhiều biến động do tình hình kinh tế thế giới. Trong đó năm
2007 đạt mức tăng trưởng kinh tế cao nhất trong vòng 10 năm 2001 – 2010. Đến
năm 2010 nền kinh tế việt Nam bắt đầu trở lại đà tăng trưởng và theo các chuyên
gia dự kiến , trong năm 2011 là 7 – 7,5%.Tuy nhiên trong bối cảnh lạm phát và
giá xăng dầu tăng cao như hiện nay , nhà nước cần có những biện pháp ổn định

năm để thực hiện việc đền bù. Thậm chí một số khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng
tương đối hoàn chỉnh, thu hút được nhiều nhà đầu tư nhưng vẫn chưa thực hiện
xong việc đền bù, giải phóng mặt bằng. Đây chính là yếu tố làm giảm sức hấp
dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt nam cũng như làm giảm tiến độ
triển khai các dự án đầu tư nước ngoài ; thứ hai là chính sách thuế : Các văn bản
về thuế được ban hành rất nhiều nhưng không có hệ thống và luôn thay đổi. Vì
lợi nhuận của nhà đầu tư có liên quan đến việc nộp thuế nên khi mức thuế thay
đổi gây khó khăn cho họ trong việc lập kế hoạch kinh doanh. Mức thuế suất lợi
17
tức tỏ ra ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài gồm 4 mức: 25%, 20%, 15%,
10% nhưng đối với các nhà đầu tư trong nước có 3 mức: 25%, 35%, 45%. Việc
quy định mức thuế như vậy cũng gây nên bất bình đẳng trong việc đóng thuế của
các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, các loại thuế
áp dụng đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn chồng chéo, nhà đầu
tư nước ngoài phải đóng 10 loại thuế như các doanh nghiệp Việt nam và nhiều
loại lệ phí khác.
2.2.2.Chất lượng lao động
Với các nhà đầu tư quốc tế mong muốn tìm kiếm hiệu quả đầu tư thì các
yếu tố đầu vào của chi phí sản xuất vẫn luôn là mục đích hàng đầu, trong đó lao
động là yếu tố đầu vào , là nhân tố đảm bảo năng suất lao động cao hay thấp. Nếu
chất lượng lao động không cao thì năng suất sẽ thấp và giá thành cho sản phẩm sẽ
cao , lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm sút. Chính vì vậy các doanh nghiêp FDI
ở Việt Nam luôn quan tâm và tìm cách để nâng cao năng suất lao động cho doanh
nghiệp của mình.
Hiện nay chất lượng lao động Việt Nam vẫn ở mức thấp, năm 2010 , lao
động qua đào tạo nước ta mới chiếm khoảng 29 %. Hầu hết các doanh nghiệp
FDI đã đầu tư vào Việt Nam đều đánh giá về lao động Việt Nam chăm chỉ , chịu
khó học hỏi và tiếp thu nhanh , tuy nhiên kỷ luật lao động vẫn còn chưa tốt và
trình độ tay nghề cũng như chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế. Nâng cao chất
lượng lao động Việt Nam vẫn đang là “đề tài nói mãi” của các doanh nghiệp ,

19
Trong hơn 20 năm qua, nước ta đã có rất nhiều các tập đoàn, các công ty
đa quốc gia tới và đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, Châu Á chiếm 69% trong đó
khối ASEAN chiếm 19%, châu Âu chiếm 26% trong đó EU chiếm 10%, các
nước Châu Mỹ chiếm 5% riêng Mỹ chiếm 3,6%.
Từ năm 2000 đến năm 2008 nước ta đã thu hút được 8028 dự án với số
vốn đăng ký lên tới 116 tỷ USD và số vốn thực hiện lên tới hơn 40 tỷ USD, Tỷ
trọng giải ngân đạt 33% Bên cạnh đó là quy mô mỗi dự án đăng ký không
ngừng tăng lên, năm 2000 bình quân vốn đăng ký trên mỗi dự án chỉ đạt 7.26
triệu USD và giảm dần tron trong năm 2001 , 2002 sau đó tăng dần cho đến năm
2008 là % 51, 47 triệu USD
Bảng 2.2.Số liệu đăng ký FDI và giải ngân FDI từ năm 2000 đến 2008
TÌNH HÌNH FDI TỪ NĂM 2000
ĐẾN 2008 (ĐVT: Triệu USD)
Năm Số dự án Đăng ký Giải ngân
2000 391 2838.9 2413.5
2001 555 3142.8 2450.5
2002 808 2998.8 2591.0
2003 791 3191.2 2650.0
2004 811 4547.6 2852.5
2005 970 6839.8 3308.8
2006 987 12004.0 4100.1
2007 1544 21347.8 8300.0
2008 1171 64011.0 11500.0
20
Nguồn : Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu

Từ năm 2000 đến năm 2005 Đăng ký 23.55 tỷ USD, giải ngân 16.26. Tỷ
trọng 69% , đây là giai đoạn mà tốc độ giải ngân nguồn vốn FDI cao nhất từ năm
1988 đến nay khi chúng ta bắt đầu thu hút đầu tư nước ngoài và có luật đầu tư

2009 , 2010 khi nền kinh tế thế giới có nhiều bất ổn rồi lại đang phải dần phục
hồi nên dòng vốn FDI giảm đi và tốc độ giải ngân chậm là điều không thể tránh
khỏi
2.4.Cơ cấu vốn FDI
2.4.1.Cơ cấu vốn FDI phân theo lãnh thổ
Cơ cấu FDI phân theo lãnh thổ ở Việt Nam hiện nay tương đối mất cân
bằng Hiện nay FFDI chủ yếu tập trung vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và
phía Bắc, các tỉnh vùng sâu, vùng xa mặc dù vẫn có bóng dáng của các doanh
nghiệp FDI nhưng tỉ trọng rất thấp. Các dự án FDI chưa khai thác tiềm năng, lợi
thế của các vùng; chưa có dự án đầu tư vào khoa học - công nghệ cao. Một số dự
án trồng rừng nguyên liệu, chế biến nông sản đạt hiệu quả thấp. Trong khi đó lại
có khá nhiều dự án tác động nghiêm trọng đến cảnh quan, môi trường tự nhiên
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm các tỉnh, thành khu vực Đông
Nam Bộ : Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng
Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang . có vai trò rất quan trọng,
đóng góp lớn nhất cho kinh tế Việt Nam, chiếm gần 60% thu ngân sách, trên 70%
22
kim ngạch xuất khẩu và là khu vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài hàng đầu cả
nước. Vùng trọng điểm phía nam thu hút 5.293 dự án với tổng vốn đầu tư 44,87
tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký, trong đó, tp Hồ Chí Minh dẫn đầu cả
nước (2.398 dự án với tổng vốn đăng ký 16,5 tỷ USD) chiếm 36,9% tổng vốn
đăng ký của vùng
Vùng kinh tế trọng điểm phía băc tính đến hết năm 2007 có 2.220 dự án
còn hiệu lực với vốn đầu tư trên 24 tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 27% tổng
vốn đăng ký cả nước và 24 % tổng vốn thực hiện của cả nước; trong đó Hà Nội
đứng đầu (987 dự án với tổng vốn đăng ký 12,4 tỷ USD) chiếm 51% vốn đăng ký
và 50% vốn thực hiện của cả vùng
Vùng kinh tế trọng điểm trung bộ thu hút được 491 dự án với tổng vốn
đăng ký 8,6 tỷ USD ( năm 2007 ) qua 20 năm thực hiện Luật Đầu tư, chiếm 6%
tổng vốn đăng ký của cả nước, trong đó Phú Yên (39 dự án với tổng vốn đăng ký

Điều này là do nhiều nguyên nhân : về khách quan : Thứ nhất là do việc cơ cấu
lại một số ngành kinh tế như chuyển các dự án công nghiệp chế biến nông - lâm
sản, thức ăn gia súc của ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp. Thứ hai,
các dự án FDI vào hạ tầng, bất động sản tăng quá nhanh trong khi số dự án đầu tư
vào nông nghiệp dậm chân tại chỗ khiến sự chênh lệch về tỷ lệ trong cơ cấu vốn
càng dãn rộng . Thứ ba, đầu tư vào ngành nông nghiệp hiện nay được các nhà
đầu tư đánh giá là có nhiều rủi ro cao vì thời tiết và khí hậu trong những năm đầu
thế kỉ XX hiện nay có nhiều xáo trộn : mưa lũ , hạn hán thiên tai xẩy ra nhiều. Về
24
chủ quan : đó là chưa có chiến lược thu hút FDI hiệu quả trong nông nghiệp,
chậm chạp trong đề xuất các dự án FDI ưu tiên kêu gọi đầu tư, thiếu cơ chế phối
hợp giữa ngành và các địa phương trong đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, tháo gỡ
vướng mắc cho các dự án FDI chưa tốt… Nhiệm vụ này của các nhà xúc tiến đầu
tư trong nông nghiệp và thực sự họ làm chưa tốt là nguyên nhân khiến các nhà
đầu tư nước ngoài thờ ơ với lĩnh vực nông nghiệp.
Các doanh nghiệp FDI hiện nay đã giảm bớt những nhu cầu đầu tư cho
hoạt động sản xuất , chế biến so với giai đoạn trước. Thí dụ như năm 2010 , có
một số doanh nghiệp Mỹ đã đến TP. Hồ Chí Minh để tìm kiếm cơ hội đầu tư.
Đây là những DN lớn quan tâm tới hạ tầng, y tế, công nghệ thông tin, giáo dục,
năng lượng đều là những lĩnh vực Việt Nam ưu tiên đầu tư. Có lẽ đã đến thời
điểm Việt Nam lựa chọn được các nhà đầu tư chứ không để đầu tư ồ ạt thiếu định
hướng như trước đây. Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, ngành dịch vụ -
gồm dịch vụ tài chính, y tế và giáo dục – sẽ phát triển rất nhanh trong thập niên
tới. Các doanh nghiệp FDI vốn rất nhanh nhạy với kinh tế thị trường nên việc
chuyển hướng đầu tư để sinh lợi nhuận cao là điều tất yếu của sự phát triển.
2.5.Những ảnh hưởng từ nguồn FDI đối với Tăng trưởng và phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam
2.5.1.Ảnh hưởng tích cực
Đóng góp vào tăng trưởng GDP và đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Vốn FDI là nguồn quan trọng để phát triển kinh tế. Ví dụ trong giai đoạn 5 năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status