Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người - Pdf 26

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Lời mở đầu.
Vấn đề quyền con người là một vấn đề lớn của toàn nhân loại. Chính vì
lẽ đó mà cộng đồng quốc tế nói chung và mỗi quốc gia nói riêng cần có
những quy định và những cam kết về quyền con người. Để thực hiện đầy đủ
các cam kết này, các quốc gia đều phải tăng cường việc tổ chức và bảo đảm
việc thực hiện quyền con người một cách quy củ. Bên cạnh đó cần chú trọng
việc giáo dục cho các tổ chức và đặc biệt là các cá nhân hiểu rõ và tích cực
thực hiện quyền con người.
“Văn hóa quyền con người có được sức mạnh lớn nhất từ những mong
muốn và hiểu biết của mỗi cá nhân. Trách nhiệm bảo vệ quyền con người là
thuộc về các Nhà nước. Nhưng chính những hiểu biết, tôn trọng và mong
muốn về quyền con người của mỗi cá nhân là điều mang lại kết cấu và sức
bật hàng ngày cho quyền con người.”
Sérgio Vieira De Mello
( Cao ủy quyền con người Liên Hợp Quốc, 2003).
Là thành viên tích cực của các công ước quốc tế về quyền con người,
Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực để thực hiện các cam kết của mình. Trong
những năm qua, việc tổ chức truyên truyền về quyền con người ở Việt Nam
cũng đã dần khởi sắc. Tuy vậy, vấn đề quyền con người ở Việt Nam hiện nay
vẫn còn nhiều rối ren. Công tác quản lý việc bảo đảm thực hiện quyền con
người diễn ra lỏng lẻo và chưa sâu xát.
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản
và thực tiễn quyền con người ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra
những hướng giải quyết cụ thể nhằm đưa vấn đề quyền con người ở Việt Nam
lên một tầm cao mới, tốt đẹp và hiệu quả hơn.
1
1. Lý do chọn đề tài.
Trong xã hội hiện đại, khi khái niệm quyền con người được nhận thức
như một giá trị chung của nhân loại thì cùng với đó, hầu như tất cả các quốc

công tác bảo đảm và bảo vệ quyền con người, áp dụng pháp luật về các vấn
đề liên quan tới nhân quyền của các nhà quản lý, các nhà làm luật cũng như
của người dân đã dần đi vào nề nếp, đúng pháp luật. Tuy nhiên Việt Nam vẫn
là một quốc gia chủ yếu sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh doanh, thương
mại, dịc vụ còn chưa phát triển mạnh. Đồng thời, lãnh thổ Việt Nam tập trung
nhiều thành phần dân cư, trình độ dân trí không đồng đều nên công tác tuyên
truyền giáo dục ý thức pháp luật nhất là pháp luật về việc bảo đảm và bảo vệ
quyền con người còn gặp nhiều khó khăn… Chính vì vậy, khái niệm về nhân
quyền ở Việt Nam vẫn còn mờ nhạt. Để đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu thực
tiễn của hoạt động áp dụng pháp luật trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con
người, đồng thời, nhằm khắc phục những hạn chế trong hoạt động này từ phía
các cơ quan có thẩm quyền ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân, tổ chức tạo cơ
sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội cũng như tìm kiếm những giải pháp hữu
ích nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật việc thực hiện quyền con người trong
thời gian tới, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Vai trò của pháp luật trong việc
bảo đảm và bảo vệ quyền con người” làm đề tài nghiên cứu khoa học.
2. Mục đích nghiên cứu: Tiểu luận làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
và thực tiễn hiệu quả áp dụng pháp luật trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền
con người trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay. Tìm ra các giải pháp cơ bản
nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề nhân quyền.
3.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
- Đề tài: “Vai trò của pháp luật đối với việc bảo về và bảo đảm quyền
con người ở Việt Nam hiện nay” không phải là một đề tài mới. Trên thực tế,
3
đã có một số các tài liệu đề cập đến vấn đề này nhưng chủ yếu các tác giả đều
tập trung vào việc nghiên cứu các vấn đề lý thuyết chứ ít đi vào thực tế khách
quan trên từng địa phương có cư dân sinh sống, đặc biệt là các khu vực vùng
sâu vùng xa.
4. Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận:
Với khuôn khổ của tiểu luận tác giả đề cập: Hoạt động áp dụng pháp

a. Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm:
Chủ nghĩa duy tâm quan niệm “Con người” là một thực thể linh hồn,
cái giá trị lớn nhất ở con người là phần hồn, phần hồn là cái sống mãi, cái
vĩnh hằng, còn phần xác chỉ là cái gì ngắn ngủi thoảng qua, nó rồi cũng nhanh
chóng ra đi - trở về với đất mẹ. Quan niệm duy tâm về con người đã ảnh
hưởng đến một bộ phận không nhỏ, khiến họ khước từ cuộc sống hiện thực,
một cuộc sống phải sản xuất, đấu tranh để tồn tại vì hạnh phúc con người, để
hướng về một thế giới hư vô, phó thác cuộc đời cho số phận.
5
b. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình:
Chủ nghĩa duy vật siêu hình quan niệm “Con người” là một sinh vật,
cái giá trị nhất ở con người là cái sinh vật, bản chất người là bản chất sinh vật.
Còn những cái như tình cảm, ước mơ, hoài bão chỉ là thứ trừu tượng, mơ
hồ không có giá trị hiện thực. Với quan niệm coi bản chất con người là sinh
vật, chủ nghĩa duy vật siêu hình về con người đẩy tới việc giải quyết vấn đề
con người chỉ là sự thỏa mãn về nhu cầu vật chất, nhu cầu sinh vật của con
người, kích thích con người lao vào cuộc sống vật chất tầm thường, đẩy một
bộ phận người chạy theo lối "sống gấp" - lối sống theo nhịp điệu hối hả, sống
tranh thủ, gấp gáp, sống nhanh lên sống vượt lên thời gian, vượt ra không
gian, sống ích kỷ, sống chỉ biết mình, không biết đến đồng loại
Cả hai cách tiếp cận trên về con người đều dẫn đến chủ nghĩa cực đoan
về con người: Họ đã từ tuyệt đối hóa đến thần bí hóa mặt tinh thần của con
người, hạ thấp mặt sinh vật (phần xác) và ngược lại.
Theo chúng tôi, con người là một thể thống nhất giữa mặt vật chất và
mặt tinh thần, bao gồm cả phần hồn và phần xác.
1.1.2 Quan niệm về quyền con người.
Như đã nói ở trên, quyền con người là một khái niệm đã xuất hiện từ rất
lâu trên Thế giới. Tuy nhiên phải sau Chiến tranh thế giới thứ 2, khi 48 quốc
gia với thành viên Liên Hợp Quốc đã nhất trí thông qua Tuyên ngôn Thế giới
về nhân quyền, khái niệm quyền con người mới được chính thức hợp pháp

xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô (Pháp), Xpinôda (Hà lan), I. Can tơ,
Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxơn (Mỹ)… Những điều viết về quyền con
người trong Hiến pháp 1791 của Pháp, Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ đều
theo quan điểm quyền tự nhiên. Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý
nghĩa phản kháng. Nó là tư tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự
xã hội bất công, bất bình đẳng (xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến
7
sau này). Vì thế, không chỉ trong quá khứ, mà cả ngày nay thuyết này vẫn có
ý nghĩa nhất định. Như vậy, theo quan điểm này thì: “Các quyền con người
không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của
bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay Nhà nước nào; và
không một chủ thể nào có thể ban phát hay hủy bỏ những quyền này”.
Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách
là sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên. Nhưng nhược
điểm của nó là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do
đó, không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về
quyền con người.
Trong Tuyên ngôn độc lập của nước CHXHCN Việt Nam năm 1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã một lần nữa khẳng định: “Tất cả mọi người
đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể
xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc.”
1.1.2.2. Khuynh hướng ‘thực định”:
Trái với khuynh hướng quyền tự nhiên, khuynh hướng thực định lại coi
quyền con người có nguồn gốc pháp lý. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là
các nhà nghiên cứu Edmund Burke (1729 - 1797), Jeremy Bentham (1748 -
1832), lại cho rằng các quyền con người không phải là những gì bẩm sinh
vốn có một cách tự nhiên mà phải do các Nhà nước qui định trong pháp luật.
Chỉ những gì pháp luật quy định và dùng để điều chỉnh những hành vi hay
quan hệ xã hội của con người cho phép con người làm hay không làm thì mới

Tuy vậy, nếu coi quyền con người chỉ có nguồn gốc kinh tế thì vẫn chưa
thực sự đầy đủ và sâu sắc. Quyền con người còn bao hàm những yêu cầu về
danh dự, nhân phẩm, về đời sống tinh thần, tình cảm của con người…, nghĩa
là những điều ít nhiều có liên hệ với phạm trù kinh tế nhưng nó vẫ nằm ngoài
nằm ngoài phạm trù này.
9
1.1.2.4. Khuynh hướng “quan niệm”:
Các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng này lại cho rằng quyền con
người là tất cả những gì mà con người cho là cần thiết và có giá trị đối với
cuộc sống của chính bản thân mỗi con người. Như vậy có nghĩa là quyền lợi,
nhu cầu, lợi ích và những giá trị tinh thần đều có thể trở thành quyền con
người nếu như người ta quan niệm như vậy.
Đề cập tới mặt chủ quan, khía cạnh giá trị của quyền con người là điều
cần thiết. Bởi, khác với các quan hệ xã hội hiện thực luôn hiện ra trước nhận
thức con người như cái gì đó độc lập, khách quan không tuỳ thuộc vào quan
niệm có trước, quyền con người trước khi trở thành hiện thực, thành nguyên
tắc mà quan hệ giữa người với người, giữa nhà nước và cá nhân phải tuân
theo, phải trở thành quan niệm của chính con người, nghĩa là được con người
coi là cái thiết yếu, cái cần phải như vậy – cần cho sự tồn tại, sự phát triển
toàn diện của con người không chỉ về đời sống vật chất và cả về đời sống tinh
thần nữa. Trong thực tế, quyền con người luôn gắn với quan niệm chủ quan,
với các giá tự như vậy, cho nên, một mặt, chúng ta phải thừa nhận những
quan niệm mang tính dân tộc về quyền con người, và mặt khác , nhiều khi
chúng ta phải đối mặt với tình trạng là đôi khi nhân danh quyền con người,
các cá nhân, các nhóm người, vì lợi ích riêng của mình đã đưa ra những đòi
hỏi vô lý, trái với lợi ích chung của cả cộng đồng người. Do đó, vấn đề quyền
con người thường trở thành vấn đề gây tranh cãi trên trường quốc tế, nhất là
khi nó được lồng vào một động cơ chính trị nào đó.
Tuy vậy, không có quan điểm, khuynh hướng nào có đủ khả năng phủ
nhận hoàn toàn các khuynh hướng khác bởi lẽ về hình thức, hầu hết các văn

có sự xuất hiện của nó.
a. Trong lĩnh vực chính trị.
Trước tiên, chúng ta phải hiểu chính trị theo nghĩa: “Chính trị là một
lĩnh vực hoạt động rộng lớn và hết sức quan trọng, nó quyết định vận mệnh
11
của đất nước và sự phát triển của xã hội và con người. Trình độ xử lý các tình
huống chính trị một cách khoa học và nghệ thuật không chỉ đem lại sự độc lập
và ổn định chính trị mà còn là điều kiện cho việc phát triển kinh tế - văn hóa -
xã hội, phát triển con người, xây dựng và phát triển đất nước. Bản chất chính
trị, lý tưởng chính trị, trình độ hoạt động chính trị hướng tới một xã hội nhân
đạo, nhân văn, tất cả vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội và con người, nói
lên văn hóa chính trị của một nền chính trị”
1
.
Sau khi hiểu rõ được bản chất của Chính trị, chúng ta có thể dễ dàng
thấy được vị thế của con người ẩn chứa trong đó. Từ xưa đến nay, bất kỳ một
Nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển bền vững đều phải dựa vào lòng tin
và công sức của nhân dân. Chính cái đó là nền tảng vững chắc cho sự tồn
vong của bất cứ quốc gia nào. Muốn được như vậy thì tất cả các diễn biến
Chính trị trong nước người dân đều phải được nắm rõ và phải có quyền được
tham gia đóng góp ý kiến.
Ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Nhật, việc trưng cầu ý dân
trong hoạt động Chính trị là rất phổ biến và mang tầm quan trọng cao. Bất cứ
việc gì liên quan đến sự tồn vong và phát triển của quốc gia đều được Chính
phủ quyết định theo nguyện vọng của nhân dân. Công việc đó đã tạo lối mòn
trong việc quản lý đất nước và dần đưa các quốc gia này tiến tới nền dân chủ
cao, ổn định.
Tại Việt Nam, xưa, Nguyễn Trãi đã từng viết: “ Chèo thuyền cũng là
dân, lật thuyền cũng là dân”. Cho đến hiện nay, trong các Nhà nước, đặc biệt
là các Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, con người luôn được đưa lên tầm cao nhất.

thông tin” hoặc ngăn cấm tra tấn hay các hình thức đối xử tàn bạo, vô nhân
đạo, hạ nhục nhân phẩm người khác. Các tổ chức phi Chính phủ này hoạt
động theo một nguyên tắc nhất quán và có tầm ảnh hướng sâu sắc tới hoạt
động thực hiện quyền con người trên toàn Thế giới, như Hội liên hiệp quốc tế
Helsinki (IHF), Nhóm khủng hoảng quốc tế (ICG) hay Tổ chức quan sát nhân
13
quyền đã có ảnh hưởng đến các Chính phủ và cộng đồng quốc tế thông qua
các bản báo cáo có chất lượng nhờ có sự giám sát và tìm hiểu thực tế. Một
cách tiếp cận khác rất có hiệu quả của các tổ chức phi chính phủ là soạn thảo
“báo cáo bóng” song song với báo cáo chính thức của quốc gia tới các cơ
quan giám sát quốc tế về quyền con người. Theo Ủy ban an ninh con người :
“Các tổ chức xã hội dân sự giúp tăng cường tiếng nói cho những người không
có quyền lực về kinh tế và chính trị. Trong các chiến dịch theo chủ đề liên
quan đến thương mại, bạo lực với phụ nữ, quyền con người và vi phạm về
môi trường, có thể kể ra một số xã hội dân sự quốc tế đã thu hút sự chú ý của
thế giới về sự đe doạ tới an ninh con người. Các tổ chức phi chính phủ có thể
trao quyền và huy động các tổ chức xã hội dân sự trong nước họ thông qua
giáo dục, dựa trên các quyền nhằm củng cố sự tham gia của công dân vào quá
trình kinh tế, chính trị và bảo đảm rằng sự sắp xếp của các cơ quan đó là phù
hợp với nhu cầu của con người”.
2
.
Các quyền con người trong lĩnh vực dân sư, kinh tế bao gồm:
- Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước
pháp luật.
- Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân.
- Quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện.
- Quyền về xét xử công bằng.
- Quyền về tự do đi lại, cư trú.
- Quyền được bảo vệ đời tư.

việc nghiên cứu chuyên sâu quyền con người trong lĩnh vực này là công việc
hết sức phức tạp và tốn nhiều thời gian của các nhà nghiên cứu. Thực hiện
quyền con người trong giải quyết các vấn đề xã hội, một mặt, nhằm đảm bảo
tôn trọng và thực hiện các quyền dân sự, chính trị như: quyền hôn nhân và gia
đình; quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, và các quyền kinh tế xã hội cơ
bản của mọi công dân, bao gồm: quyền lao động việc làm; quyền có mức
sống thoả đáng; quyền được giáo dục; quyền được chăm sóc sức khoẻ; quyền
15
được tham gia vào đời sống văn hoá và được hưởng thụ các giá trị văn hoá,
tiến bộ của khoa học; quyền được hưởng an toàn xã hội, kể cả bảo hiểm xã
hội. Mặt khác, thực hiện các vấn đề xã hội là chú trọng quan tâm đến quyền
của những người có công với nước, trong đó đặc biệt phải kể đến những gia
đình thương binh, liệt sỹ; đồng thời, tạo cơ hội bình đẳng, hỗ trợ các nhóm
yếu thế trong xã hội tiếp cận và hưởng thụ quyền, đó là nhóm những người
sống ở vùng nông thôn nghèo; vùng dân tộc thiểu số; những người có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn như người già yếu, cô đơn, người nhiễm HIV/AIDS,
người khuyết tật, trong đó có người nhiễm chất độc da cam
d. Quyền con người trong lĩnh vực tự do dân chủ.
“ Cũng với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa một quan hệ
mới giữa xã hội, nhà nước và cá nhân hình thành. Đó là quan hệ dựa trên sự
tôn trọng quyền tự do của con người, coi sự tự do của mỗi người là điều kiện
phát triển tự do cho tất cả mọi người”
3
. Phát triển tự do dân chủ là điều kiện
quan trọng nhất đối với việc bảo vệ quyền con người, đó cũng là yếu tố chủ
đạo trong vấn đề nhân quyền. Mỗi con người nắm được sự tự do của bản thân
sẽ có đủ năng lực để nhận biết và thực hiện quyền lợi của bản thân. Trong
lĩnh vực này, các quyền cơ bản được pháp luật ghi nhận như quyền tự do báo
chí, tự do ngôn luận, tự do đi lại, tự do cư trú, Đây có thể được coi là lĩnh
vực rộng nhất trong nghiên cứu quyền con người, nó bao trùm một phần nào

Ðiều 4: Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và
buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.
- Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên minh Châu Âu năm
2000 tuyên bố:
Điều 1: Nhân phẩm của con người là bất khả xâm phạm. Nó phải được
tôn trọng và bảo vệ.
Điều 2: Tất cả mọi người có quyền được sống, không ai có thể bị kết án
tử hình hoặc thi hành án tử hình.
17
- Trong “Lời mở đầu” - Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị có viết: “Xét rằng, chiếu theo những nguyên tắc công bố trong Hiến
Chương Liên Hiệp Quốc, việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền
bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình
nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới.Nhìn nhận rằng
những quyền này xuất phát từ phẩm giá bẩm sinh của con người.Nhìn nhận
rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, lý tưởng về một con
người tự do được hành xử những quyền dân sự và chính trị cũng như được
giải phóng khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, chỉ có thể đạt được nếu hội đủ những
điều kiện thuận tiện để con người được hưởng những quyền dân sự và chính
trị cũng như những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá. Xét rằng nghiã vụ của
các quốc gia hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc là phát huy sự tôn
trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của
con người.Nhận định rằng con người có nghiã vụ đối với những người khác
cũng như đối với cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn trọng
những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này”.
* Bảo đảm các quyền dân sự, chính trị:
So với pháp luật thời phong kiến, pháp luật hiện đại đã dần thể hiện một
bước phát triển mới trong việc pháp điển hóa các quyền con người, với việc
khẳng định khái niệm và sự tôn trọng các quyền con người cũng như bổ sung
một loạt các quyền và tự do mới trên tất cả các lĩnh vực. Xét trên lĩnh vực dân

nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trong đó có thể kể như Luật thương mại
thống nhất Mỹ; Luật tôn giáo Mỹ; Luật giáo dục Việt Nam; Luật báo chí
Anh; Luật đầu tư Campuchia; Luật lao động Canada;
Nội dung bảo đảm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được cụ thể trong các
quyền tiêu biểu nhất:
19
+ Bảo đảm quyền làm việc: quyền làm việc được ghi nhận trong các bản
Hiến pháp và được Hiến pháp quy định. Như tại Việt Nam, Hiến pháp 1992
nêu rõ: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có
kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Điều 55). Bên
cạnh đó, các Nhà nước cũng tập trung vào khía cạnh hỗ trợ các doanh nghiệp,
mở rộng hợp tác Quốc tế, đào tạo nghề và xuất khẩu lao động,
+ Bảo đảm quyền được tiếp cận với giáo dục: Ngay từ khi Chiến tranh
thế giới thứ 2 kết thúc, chính phủ các quốc gia đã hết sức quan tâm đến quyền
được tiếp cận với giáo dục của nhân dân, xác định giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Đây là cơ sở tư tưởng cho việc hiện thực hóa quyền được tiếp cận với
giáo dục của nhân dân trong thời kỳ mới.
Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật các quốc gia đã cho ra đời các quy
định, luật, bộ luật bảo vệ quyền được học tập của công dân như Đạo luật tổ
chức giáo dục Hoa Kỳ, Luật giáo dục Việt Nam,
+ Bảo đảm quyền được chăm sóc y tế: Từ khi đổi mới đến nay, cũng
giống như các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác, có sự chuyển đổi về hướng tiếp
cận việc bảo đảm quyền được chăm sóc y tế từ chế độ bao cấp hoàn toàn của
Nhà nước sang hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, đa dạng hóa các
loại hình dịch vụ y tế, thực hiện chế độ BHYT, tạo điều kiện để mọi người
dân được chăm sóc sức khỏe.
+ Quyền được bảo đảm xã hội: Thành công nổi bật nhất trong việc thực
hiện quyền được bảo đảm xã hội từ khi sau chiến tranh thế giới đến nay là
việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo – một chủ trường và quyết
sách lớn của các Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. Xuất phát từ quan

này là nghiên cứu, dự thảo các văn kiện của Liên Hợp Quốc, điều tra các
sai phạm về nhân quyền.
21
• Trung tâm quyền con người: là đầu mối của Liên Hợp Quốc trong lĩnh
vực nhân quyền với các hoạt động cung cấp dịch vụ văn phòng và trợ giúp cho
những cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu quyền con người.
• Hội đồng kinh tế xã hội và các ủy ban trực thuộc: hoạt động chính của
các cơ quan này là đưa ra các khuyến nghị nhằm thúc đẩy việc tôn trọng và
tuân thủ các quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người.
• Ủy ban vị thế của phụ nữ: được thành lập và bắt đầu hoạt động vào
năm 1946, có cách thức tổ chức và hoạt động giống Ủy ban quyền con người.
Các cơ quan, tổ chức trên là các cơ quan quan trọng nhất trong bộ máy
quản lý quyền con người của Liên Hợp Quốc, chúng tạo nên một khối liên kết
vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi và xuyên suốt cho quá trình xây dựng và
thực hiện pháp luật, đặc biệt là pháp luật về nhân quyền.
• Văn phòng cứu trợ nhân đạo cộng đồng châu Âu (ECHO): là nơi
cung cấp tài chính cho các hoạt động cứu trợ nhân đạo lớn nhất thế giới. Các
hoạt động của tổ chức này bao gồm việc đánh giá các nhu cầu nhân đạo ở các
khu vực dễ bị thiên tai, phân bổ các quỹ hàng hóa và dịch vụ như là thực
phẩm, nơi ở, các nhu cầu về y tế, các nguồn nước sạch, các hệ thống vệ sinh
và sửa chữa khẩn cấp, Cùng với đó là xây dựng các dự án phòng ngừa thảm
họa và giảm nhẹ nguy cơ ở các khu vực dễ xảy ra thiên tai.
• Liên đoàn chống phỉ báng (ADL): Bảo vệ các quyền nhân thân của
con người như quyền được giữ hình ảnh cá nhân, quyền được bảo vệ nhân
phẩm,
• Tổ chức ân xá quốc tế (AI): là một tổ chức phi chính phủ quốc tế,
hoạt động nhằm giải thoát tất cả tù nhân lương tâm; nhằm bảo đảm các tù
chính trị được xử công bằng và công khai; nhằm bãi bỏ án tử hình, tra tấn, và
các hình thức đối xử khác với tù nhân mà họ cho là tàn bạo; nhằm chấm dứt
các vụ ám sát chính trị và mất tích cưỡng bức; chống lại mọi sự vi phạm nhân

23
+ Một số tổ chức xã hội khác:
• Ủy ban nhân quyền liên Mỹ: được thành lập năm 1959, nhiệm vụ
chính là thúc đẩy việc tuân thủ và bảo vệ nhân quyền tại châu Mỹ. Ủy ban này
đã lập ra nhiều chức báo cáo viên và một chức báo cáo viên đặc biệt để giám
sát việc tuân thủ Công ước nhân quyền của các nước thành viên.
• Ủy ban châu Âu về ngăn ngừa tra tấn (CPT): nằm dưới sự chỉ đạo
chung của Hội liên hiệp ngăn ngừa tra tấn, ủy ban này chuyên giải quyết các
vấn đề liên qua tới tra tấn (vũ lực hoặc tinh thần) diễn ra tại các nước thuộc
liên minh châu Âu.
• Hội đồng kinh tế và xã hội (ECOSOC): hội đồng này được lập ra
trước hết là nhằm đảm bảo sự phát triển của kinh tế, xã hội; tiếp theo là bảo
đảm các quyền con người trong lĩnh vực này.

- Biện pháp chính trị.
Một nền chính trị ổn định là cái nôi nuôi dưỡng tốt cho sự phát triển
nhân quyền. Liên Hợp Quốc xác định xây dựng và bảo vệ nền hòa bình thế
giới cũng chính là bảo đảm tốt nhất cho con người và những quyền lợi chính
đáng của họ. “Luật bầu cử” tại các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp, được xây
dựng và thông qua đã tạo cơ sở cho việc bảo đảm thực hiện quyền công dân
diễn ra dề dàng và có hệ thống hơn.
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, để có được một nền chính
trị như vậy thì việc chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ chính trị cho các nhà
chức trách, các viên chức chính phủ, là cần thiết. Trong những năm vừa
qua, công tác đào tạo chính trị diễn ra phổ biến như việc tổ chức, thành lập
các lớp đào tạo chính trị từ trung cấp đến cao cấp nhằm nâng cao trình độ
chính trị cũng như trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ chính trị.
- Biện pháp kinh tế.
Kinh tế chính là yếu tố lớn trong qua trình tuyên truyền và mở rộng
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status