Vai trò của tòa án trong việc bảo
vệ quyền con người ở Việt Nam
hiện nay
cho phép người bào chữa
tham gia từ khi khởi tố bị can đối với những tội xâm phạm an ninh quốc gia; bổ
sung nghĩa vụ phải thông báo cho người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung bị
can; không giới hạn số lần tiếp xúc giữa bị can với người bào chữa. Ngoài ra cần bỏ
quy định về cấp giấy chứng nhận người bào chữa tại khoản 4 Điều 56. Vì những
quy định của pháp luật này đều dẫn đến hạn chế quyền được có người bào chữa của
bị can, bị cáo.
Thứ ba, song song với việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự thì cần phải
nâng cao năng lực và trách nhiệm thi hành luật trong quá trình xét xử. Trước hết cần
xây dựng các giải pháp bảo đảm năng lực xét xử của Tòa án, như: Xây dựng pháp
luật bảo đảm cho hoạt động xét xử độc lập, nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán
và hoàn thiện các cơ chế giám sát để kịp thời phát hiện hành vi trái pháp luật và xử
lý nghiêm minh. Ngoài ra, xây dựng đội ngũ luật sư đảm bảo yêu cầu tranh tụng và
nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố cũng là những giải pháp
cần phải được tiến hành đồng bộ.
b) Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự
136
Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến
năm 2020 đã chỉ rõ cần phải “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo
hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo
đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất
lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ
quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng
hoạt động tư pháp”. Tiếp theo đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
tòa nhưng các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng được coi trọng như trong phần
xét hỏi luật sư có quyền chất vấn bên đối thủ, các đương sự có thể đặt câu hỏi đối
với nhau. Ngoài ra, đương sự được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do
các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập; tất cả các tình tiết, chứng cứ,
tài liệu dùng làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án đều được các bên tranh tụng công
khai, trực tiếp và bằng lời nói tại phiên tòa, luật sư giữ vai trò chủ động trong quá
trình tranh tụng, Toà án không được hạn chế thời gian tranh luận mà phải tạo điều
kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến của họ [65].
Việc tiếp nhận các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng trong BLTTDS Việt
Nam cũng đặt ra những vấn đề mà chúng ta cần giải quyết. Trong thực tiễn, sau khi
BLTTDS có hiệu lực pháp luật, các toà án dường như trút được một gánh nặng
trong việc chứng minh làm rõ sự thật của vụ án với quan niệm các đương sự phải tự
chứng minh cho quyền lợi của mình, nếu không tự chứng minh được sẽ bị toà án xử
bác yêu cầu. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng Việt Nam là một đất nước mà đa
phần dân số đều làm nông nghiệp, do vậy, các quy định này của BLTTDS mặc dù
không gây xáo trộn đối với các doanh nghiệp, các thị dân thành phố nhưng đối với
khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì đó lại quả là một vấn đề không nhỏ.
Người nông dân Việt Nam vốn xa lạ với pháp đình và càng xa lạ hơn với việc tự
chứng minh, do vậy, sau khi nộp đơn kiện rồi thì thường phó mặc cho toà án giải
quyết mà không biết rằng mình phải tự đi thu thập các tài liệu cần thiết để chứng
minh. Trong khi đó, theo quy định của BLTTDS hiện nay thì toà án không còn được
tự mình tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ để hoàn thiện hồ sơ vụ án như
trước đây nữa. Như vậy, hậu quả tất yếu là thời gian giải quyết vụ án sẽ bị kéo dài
138
hơn so với các quy định trước kia. Để khắc phục tình trạng này, thiết nghĩ cơ quan
có thẩm quyền nên có những quy định mang tính chuyển tiếp cho việc thực hiện. Cụ
thể là cần quy định rõ khi nhận đơn khởi kiện của đương sự, toà án phải giải thích
rõ cho đương sự về nghĩa vụ chứng minh của họ cũng như các chứng cứ, tài liệu cụ
một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, sự tiếp thu quy định của các nước về thời
điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS Việt Nam cũng còn
nhiều hạn chế. Theo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới mà điển
hình là pháp luật tố tụng dân sự của Mỹ, Pháp và Trung Quốc thì thủ tục áp dụng
các biện pháp khẩn cấp có thể được áp dụng trước khi khởi kiện hoặc trong quá
trình Toà án giải quyết một vụ kiện chính hoặc có thể được áp dụng một cách hoàn
toàn độc lập. Mặc dù, BLTTDS Việt Nam đã mở rộng hơn phạm vi áp dụng các
biện pháp khẩn cấp tạm thời so với các quy định trước kia, cho phép đương sự có
thể yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn
khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (Điều 99 BLTTDS) nhưng
không cho phép yêu cầu áp dụng biện pháp này trước khi khởi kiện vụ án. Chính vì
vậy, nhằm bảo đảm cho khả năng khôi phục quyền và lợi ích bị vi phạm thì pháp
luật tố tụng dân sự cần mở rộng quyền được yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời ngay khi phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến quyền
và lợi ích của cá nhân, tổ chức.
Thứ ba, về việc xây dựng các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn.
Một trong những yêu cầu của hoạt động xét xử dân sự trong việc bảo vệ quyền
công dân là bảo đảm tính kịp thời cho nên việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút
ngọn là cần thiết trong trường hợp những vụ án dân sự đã có đầy đủ tình tiết, chứng
cứ thể hiện rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp. Nghị quyết số 49 –
NQ/TW của Bộ chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 đã củng cố cho nhận định này và chỉ rõ cần phải tiếp tục: “Xây dựng cơ chế
xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”.
Qua tham khảo pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài có thể thấy rằng pháp luật tố
tụng dân sự của các nước trên thế giới có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
thì việc xét xử đều giao cho một Thẩm phán đảm nhiệm. Ở Việt Nam, mặc dù tại
các Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002 đều quy định rằng
140
của Luật Tố tụng hành chính khó được thực thi trong thực tiễn vì nội dung quy định
141
có tính khái quát cao và thiếu cơ sở pháp lý ràng buộc trách nhiệm của người có
nghĩa vụ đặc biệt là bên bị khởi kiện. Trong tố tụng hành chính, bên bị khởi kiện là
cơ quan công quyền vì thế vấn đề quy định nghĩa vụ pháp lý phải rõ ràng và cần có
cơ chế xử lý nghiêm minh trong trường hợp thoái thác nghĩa vụ tố tụng hành chính
trong khi đó Luật Tố tụng hành chính hiện hành chỉ quy định nghĩa vụ mà chưa hề
đề cập đến những trách nhiệm của bên bị kiện trong trường hợp không thực hiện
nghĩa vụ vì thế trong thực tiễn đã xảy ra những tình huống người bị khởi kiện không
thực hiện nghĩa vụ tố tụng khiến việc giải quyết vụ án hành chính kéo dài, phức tạp
gây thiệt hại quyền lợi của công dân, cá nhân. Chính vì thế, cần bổ sung các nghĩa
vụ sau đối với bên bị khởi kiện:
- Thứ nhất, pháp luật cần quy định: Bên bị kiện có nghĩa vụ chứng minh tính
hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện. Nếu pháp
luật tố tụng hành chính không bổ sung quy định này thì khó bảo đảm sự bình đẳng
giữa các bên trong tố tụng hành chính vì người bị khởi kiện là bên chủ động, có
quyền đơn phương ra các quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính trên
cơ sở các quy định của pháp luật nên họ có ưu thế hơn đối với bên khởi kiện trong
việc xác định tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu
kiện. Nhằm bảo đảm bên bị kiện thực hiện nghĩa vụ này, pháp luật tố tụng hành
chính cần giới hạn thời gian “trong một thời hạn nhất định kể từ khi nhận được
thông báo về việc bị khởi kiện, nếu bên bị kiện không cung cấp tài liệu, chứng cứ để
chứng minh tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện
thì tòa án có quyền coi những điều trình bày của người khởi kiện là đúng sự thật”.
- Thứ hai, cần bổ sung quy định giới hạn thời gian, nội dung của quyền “sửa
đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị
khởi kiện” (Khoản 3 Điều 51) vì thực tiễn đã xảy ra trường hợp người bị kiện lợi
(xét xử phúc thẩm bản án do Tòa phúc thẩm xét xử sơ thẩm) và TAND tối cao. Chủ
trương cải cách trên là giải pháp hữu hiệu hạn chế sự tác động của bộ máy hành
chính địa phương vào hoạt động xét xử của Tòa án đồng thời sẽ hạn chế được xu
hướng địa phương hóa hoạt động xét xử của Tòa án đang có chiều hướng gia tăng.
Tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử có tác dụng mạnh mẽ trong việc
nâng cao năng lực, chất lượng xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Tổ
143
chức hệ thống theo cấp xét xử tạo điều kiện cho Tòa án linh hoạt trong việc thành
lập các Tòa án cấp sơ thẩm. Việc từ bỏ sự ràng buộc bởi không gian của đơn vi
hành chính địa phương tạo điều kiện quy định thẩm quyền theo không gian trên cơ
sở ước lượng nhu câu xét xử của vùng miền. Điều này góp phần hạn chế tình trạng
phân tán nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất và con người cho những Tòa án cấp huyện
có số lượng án xét xử ít, nhu cầu xét xử thấp đồng thời tăng cường việc đầu tư cơ sở
vật chất, nguồn lực con người cho những vùng miền có nhu cầu xét xử cao, số
lượng án phải thụ lý và giải quyết lớn bằng việc lập nhiều Tòa án cấp sơ thẩm ở
những vùng miền này.
4.3.6. Cải cách cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm Thẩm phán
Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng và hiệu quả xét xử
của Tòa án hiện nay còn nhiều hạn chế là do đội ngũ Thẩm phán chưa đủ về số
lượng và hạn chế về trình độ khoa học pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp[95]. Chính vì
thế một trong những nhiệm vụ cần được thực hiện nhằm bảo đảm chất lượng và
hiệu quả xét xử của Tòa án là xây dựng và phát triển đội ngũ Thẩm phán đủ về số
lượng và đảm bảo trình độ pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức.
Dưới đây là một số giải pháp cần được thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu trên:
- Thứ nhất, cải cách phương thức tuyển dụng và đạo tạo cử nhân luật. Cử nhân
luật là nguồn nhân lực để tuyển dụng và phát triển Thẩm phán. Chất lượng cử nhân
luật như thế nào sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng lực và phẩm chất đạo đức của
Thẩm phán trong tương lai. Hiện nay, chương trình đạo tạo và điều kiện tuyển sinh
tham gia các khóa đào tạo nghề Thẩm phán cho nên nguồn nhân lực được tuyển
chọn và bổ nhiệm Thẩm phán bị hạn chế và khép kín trong nội bộ ngành Tòa án.
Chính điều này dẫn đến không tuyển chọn được những người có trình độ khoa học
pháp lý cao, có kinh nghiệm thực hành pháp luật đang công tác ở các lĩnh vực khác
đặt biệt là đội ngũ luật sư, luật gia và những người giảng dạy pháp luật. Như vậy,
một trong những giải pháp có thể khắc phục được tình trạng thiếu và yếu của đội
ngũ Thẩm phán là cải cách cơ chế tuyển chọn nguồn nhân lực để bổ nhiệm Thẩm
phán. Xây dựng Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán quốc gia và thay đổi trình tự đào
tạo và bổ nhiệm Thẩm phán theo quy trình:
TUYỂN
CHỌN
ỨNG VIÊN
THẨM
PHÁN
ĐÀO TẠO
NGHỀ
THẨM
PHÁN
BỔ NHIỆM
THẨM
PHÁN TẬP
SỰ
BỔ NHIỆM
THẨM
PHÁN
145
Việc xây dựng quy trình bổ nhiệm Thẩm phán như trên sẽ tạo điều kiện thuận
lợi để thu hút được những người có trình độ khoa học pháp lý, có kinh nghiệm thực
trạng án dân sự tồn đọng do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân
"Nhiều việc bên phải thi hành án là các cơ quan nhà nước không tự nguyện thi
hành, trong khi chúng ta chưa có cơ chế hữu hiệu buộc các đơn vị này phải thi
hành"; "Khối lượng công việc các cơ quan Thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành
nhiều, trong khi lực lượng mỏng, trình độ, năng lực còn nhiều bất cập, cơ sở vật
chất còn thiếu thốn dẫn đến quá tải trong việc thực hiện nhiệm vụ"[02]. Ngoài ra, sự
cứng nhắc của Tòa án trong khi ra phán quyết phải thực hiện nghĩa vụ dân sự chỉ
căn cứ trên cơ sở quy định của pháp luật mà không tính đến khả năng thi hành cũng
là một trong những nguyên nhân dẫn đến các bản án đó gần như là không thể thi
hành được. Những hạn chế đó của hoạt động thi hành án đã khiến cho một bộ phận
người dân đặc biệt là những người được thi hành án bất bình và mất niềm tin vào sự
nghiêm minh của pháp luật đặc biệt có những vụ việc thi hành án bị cơ quan thi
hành án, chấp hành viên hoặc cơ quan nhà nước cố tình không chấp hành án hoặc
thi hành không phù hợp với quy định của pháp luật, phán quyết của Tòa án khiến
cho dư luận bất bình, đồng thời đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền của người được
thi hành án. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động thi hành án dân sự là một
trong những vấn đề cấp bách cần được thực hiện nhằm bảo đảm cho các bản án,
quyết định của Tòa án được thể hiện một cách đầy đủ trong thực tiễn xã hội.
147
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Trên cơ sở các quan điểm của Đảng về cải cách hệ thống chính trị nói chung,
cải cách bộ máy nhà nước nói riêng đặc biệt những quan điểm của Đảng về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020, luận án đã xây dựng phương hướng cơ bản
nhằm bảo đảm việc đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo
vệ quyền con người có tính khoa học và phù hợp với điều kiện kinh tế và chính trị xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ việc xác định các
quan điểm cụ thể cần phải được quán triệt trong quá trình xây dựng các giải pháp và
những yêu cầu cấp thiết của nhu cầu nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ
quyền con người, các giải pháp khoa học được đề xuất đặc biệt chú trọng đến các
minh nên chế độ pháp quyền yêu cầu Tòa án phải là chủ thể trung tâm và có vị trí,
vai trò tối cao trong việc bảo vệ quyền con người. Nhà nước pháp quyền yêu cầu
Tòa án có quyền trừng phạt tất cả các chủ thể thực hiện hành vi xâm hại quyền con
người kể cả quyền lập pháp, quyền hành pháp khi thực hiện hành vi vi phạm quyền
con người đặc biệt hành vi vi phạm các quyền cơ bản của cá nhân. Nhằm bảo đảm
hiệu quả và niềm tin của xã hội vào chế độ pháp quyền thì pháp luật tố tụng Tòa án
phải được xây dựng đầy đủ, thống nhất, chặt chẽ và khoa học; tổ chức hệ thống Tòa
đáp ứng yêu cầu xét xử và quyền tiếp cận Tòa án của người dân dễ dàng, đồng thời
bảo đảm hạn chế sự tác động của cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính
nhà nước vào hoạt động của Tòa án; đội ngũ Thẩm phán đủ năng lực, trình độ và
149
phẩm chất đạo đức để xét xử vô tư, khách quan và đúng pháp luật. Ngoài ra, Nhà
nước và xã hội cần đầu tư mạnh mẽ các nguồn lực vật chất phục vụ cho hoạt động
xét xử công minh và văn minh.
Ở Việt Nam, những yếu tố hợp lý của lý thuyết nhà nước pháp quyền đã được
vận dụng vào quá trình đổi mới bộ máy nhà nước. Tòa án thiết chế trung tâm của
quyền lực tư pháp ngày càng được bảo đảm độc lập trong quá trình xét xử nhằm bảo
vệ quyền con người tốt hơn. Trong những năm qua, Tòa án Việt Nam bằng các hoạt
động xét xử hình sự, xét xử dân sự và xét xử hành chính đã ngăn chặn có hiệu quả
những hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến quyền con người, đồng thời đã khôi
phục những quyền con người bị xâm hại. Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của những
yếu tố mang tính chất lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế,
hệ thống pháp luật còn nhiều mâu thuẫn, thiếu sót, một bộ phận Thẩm phán năng
lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa tương xứng, phẩm chất đạo đức hạn chế
đã khiến cho hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng hoạt động xét xử chưa đáp ứng
được yêu cầu, mong muốn của người dân. Trong các nguyên nhân ảnh hưởng tiêu
cực đến chất lượng và hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng xét xử thì Thẩm phán,
Hội Thẩm và Tòa án chưa thực sự độc lập là một trong những nguyên nhân cơ bản
cấu của chế định tố tụng Hiến pháp;
- Tiếp tục nghiên cứu pháp luật có liên quan để sửa đổi và bô sung nhằm tạo ra
cơ sở pháp lý thống nhất, phụ hợp phục vụ việc thay đổi quy trình tuyển chọn và bổ
nhiệm Thẩm phán;
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn để xây dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức
nghề Thẩm phán.
151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐÃ
CÔNG BỐ
1. Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, Tạp chí Khoa học
pháp lý, số 01/2014, trang 6-11;
2. Nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người của Tòa án ở Việt Nam, Tạp chí
Pháp luật và phát triển, số 01/2014, trang 46-53;
3. Bảo đảm sự độc lập của Tòa án bằng Hiến pháp, Tạp chí Pháp luật và Phát
triển, số 5+6/2013, trang 65-72;
4. Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền công dân, Tạp chí TAND, số
22/2013, trang 7-11;
5. Hoàn thiện chế định quyền con người trong tố tụng hình sự thông qua hoạt
động xét xử của Tòa án, Tạp chí Kiểm sát, số 23/2013, trang 46-51.
6. Vị trí, vai trò và chức năng của tòa án ở Thái Lan hiện nay, Thông tin pháp
lý, số 13/2012, trang 2-5;
7. Mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước với các đảng phái chính trị trong nhà
nước tư sản, Thông tin pháp lý, số 10/2012, trang 14-20;
152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu bằng Tiếng Việt
1. Đào Duy Anh (2009), Từ điển Hán Việt giản yếu, Nxb. Văn Học;
2. Hoàng Thế Anh, Hiện trạng án dân sự tồn đọng, đăng trên trang web:
14. Lưu Tiến Dũng (2012), Độc lập xét xử trong Nhà nước pháp quyền ở Việt
Nam, Nxb. Tư pháp. Hà nội;
15. Trịnh Hồng Dương (1996) chủ nhiệm đề tài “Vị trí, vai trò và chức năng
của Toà án nhân dân trong bộ máy nhà nước ta qua các thời kỳ cách mạng
Việt Nam” MS: 95-98-048/ĐT. Quyễn 1, Toà án nhân dân tối cao, Hà Nội;
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1956), Chỉ thị của Bộ Chính trị số 43/CT-TW,
tháng 7 năm 1956 về việc tích cực phát huy thành tích và kiên quyết sửa
chữa sai lầm của cải cách ruộng đất đợt 5;
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW, ngày
02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời
gian tới;
18. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW, ngày
02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020;
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tóm tắt kết quả 04 năm triển
khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/02/2002 về một số nhiệm vụ
trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới;
20. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII, IX, X, XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H;
21. Đảng cộng Sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sửa đổi và phát triển năm 2011, H;
22. Phạm Hoàng Giang (2007), Vai trò của án lệ với sự phát triển của pháp
Luật hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 02;
23. Võ Trí Hảo (2003), Vai trò giải thích pháp luật của Tòa án, Tạp chí Khoa
học pháp lý, số 3;
24. Nguyễn Đức Hiệp (2004), Những yêu cầu của cải cách tư pháp và xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN đối với họat động xét xử của tòa án, Tạp
chí Pháp lý, số 09;
1966;
36. Liên hợp quốc (1966), Công ước quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội
năm 1966;
37. Lê Vương Long (2006), Những vấn đề lý luận về quan hệ pháp luật, Nxb
Tư pháp, Hà Nội;
38. Lê Vương Long (chủ biên) (2008), Trách nhiệm pháp lý, một số vấn đề lý
luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay, Nxb. CAND, Hà Nội;
155
39. Nguyễn Đình Lộc (2001), Vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ
quan tư pháp ở nước ta, Nxb Tư pháp, Hà Nội;
40. Uông Chu Lưu (2006) chủ nhiệm đề tài “Cải cách các cơ quan tư pháp,
hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu lực xét xử của Tòa
án trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” MS:
KX.04.06, Bộ Tư pháp, Hà Nội;
41. Phan Công Luận (2006), Uy tín của người Thẩm phán, Tạp chí Luật học,
số 01;
42. Nguyễn Văn Luyến (2005), Vai trò của Tòa án trong việc phòng ngừa tội
phạm, Tạp chí Luật học, số 06;
43. Đoàn Đức Lương (2007), Nâng cao năng lực xét xử các vụ án dân sự của
Tòa án trong quá trình cải cách tư pháp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số
02;
44. Mác- Anghen toàn tập, Tập 3, tập 23;
45. Dương Thanh Mai (2011), Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
XHCN trong các dự thảo văn kiện trình đại hội XI, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số Chuyên đề;
46. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3;
47. Hồ Chí Minh (2005), Bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội;
61. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2001), Hiến pháp năm 1992 sửa đổi,
bổ sung năm 2001;
62. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2013), Hiến pháp năm 2013;
63. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2009), Bộ luật Hình sự năm 1999
(và đã sửa đổi, bổ sung năm 2009);
64. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003;
65. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2011), Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004 đã sửa đổi bổ sung năm 2011;
66. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2005), Bộ luật dân sự năm 2005;
67. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2002), Luật Tổ chức Tòa án năm
2002;
157
68. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2008), Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2008;
69. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2008), Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung
năm 2008;
70. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2011), Luật trách nhiệm bồi thường
Nhà nước;
71. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2011), Luật Tố tụng hành chính;
72. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (2014), Luật đất đai năm 2014;
73. Tào Thị Quyên (2005), Cơ sở của chế độ giám sát tư pháp Hiến pháp, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp, số 10;
74. Jean Jacque Rousseau (2004), Bàn về khế ước xã hội, Nxb Chính trị pháp
lý, Hà nội;
75. Sandra Day O'Connor, Tầm quan trọng của độc lập tư pháp, (trích dẫn từ
sách Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, Nxb. Lao động - xã hội, năm
2012);