Vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người ở việt nam - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ THÙY DUNG

VAI TRß CñA T¦ PH¸P
TRONG VIÖC B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI ë VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ THÙY DUNG

VAI TRß CñA T¦ PH¸P
TRONG VIÖC B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về Quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG

HÀ NỘI - 2014


1.1.2. Cách thức ghi nhận các quyền con người ............................................... 15
1.2.

Khái quát về quyền tư pháp ................................................................ 17

1.2.1. Quan niệm chung về quyền tư pháp ....................................................... 17
1.2.2. Các đặc trưng của quyền tư pháp............................................................ 19
1.2.3. Tính độc lập của quyền tư pháp .............................................................. 21
1.3.

Vai trò tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người ........................... 26

1.3.1. Mối quan hệ giữa quyền tư pháp với việc bảo vệ quyền con người......... 26
1.3.2. Các đặc trưng cơ bản của việc bảo vệ quyền con người bằng tư pháp..... 29
1.3.3. Một số vai trò cụ thể của tư pháp trong việc bảo vệ các quyền con người..... 31
1.4.

Vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người theo luật quốc tế ..... 37

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM............................. 42
2.1.

Khái quát hệ thống tư pháp ở Việt Nam ............................................. 42

2.2.

Thực trạng bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở
Việt Nam ............................................................................................... 44



MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Cả trong lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, trong mối quan hệ giữa nhà
nước với công dân, thì các nhánh quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư
pháp) đều rất dễ có xu hướng lạm dụng quyền lực, xâm hại các quyền con
người, cụ thể:
Đối với nhánh lập pháp: với nhiệm vụ là xây dựng những chính sách, quy
tắc điều chỉnh hành vi của con người, liệu hệ thống pháp luật có đầy đủ và tạo ra
cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền con người hay chưa? Các nội dung Quy định
của pháp luật thật ra là đang bảo vệ hay hạn chế quyền con người? Bởi, quyền
con người, theo học thuyết về quyền tự nhiên thì mọi cá nhân sinh ra đều được
hưởng, là bẩm sinh, vốn có của con người.
Đối với nhánh hành pháp: có một điều rất dễ nhận thấy, đó là, từ khi sinh
ra cho đến khi mất đi, tất cả những hoạt động của con người hầu như gắn liền
với các cơ quan quản lý nhà nước. Trên thực tế, vấn đề vi phạm những quyền lợi
chính đáng, thiết thân của con người trong lĩnh vực quản lý, hành chính nhà
nước là câu chuyện đã được truyền thông, báo chí phản ánh rất nhiều với những
bức tranh hiện thực muôn màu. Nhận thức được điều này, công cuộc cải cách
thủ tục hành chính đã được Đảng và nhà nước tiến hành trong hơn 10 năm qua
và đã thu được nhiều kết quả, phản hồi tích cực.
Đối với nhánh tư pháp: mặc dù chúng ta cũng đã tiến hành cải cách tư
pháp từ sau Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 về Một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, đặc biệt là Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02-06-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhưng
những kết quả đạt được còn rất ít. Chính vì những đổi mới về nhận thức, lý luận
và áp dụng trong hệ thống tư pháp các cấp còn hạn chế nên quyền con người
trong lĩnh vực tư pháp thường bị vi phạm rất nhiều.

1

2


pháp của công dân; vi phạm đến các vấn đề về dân chủ, công bằng, bình đẳng
trong xã hội; làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và nhà nước xã
hội chủ nghĩa. Đó là nguyên cớ để các thế lực thù địch tìm cách chống phá lại sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta đang tích cực triển khai những
nhiệm vụ khác nhau nhằm hiện thực hóa việc xây dựng nhà nước pháp quyền, là
một mô hình tổ chức nhà nước chống lại sự lạm quyền, đề cao, bảo vệ và tôn
trọng các quyền con người. Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi
chính quyền phải chịu sự kiểm soát của pháp luật. Nhà nước pháp quyền yêu cầu
chính quyền phải chịu sự ràng buộc bởi pháp luật để bảo vệ con người, trong đó
tư pháp là lĩnh vực có chức năng đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và bảo
vệ con người. Do đó, việc xây dựng nhà nước pháp quyền không thể tách rời với
quá trình xây dựng, cải cách nền tư pháp, hướng tới một nền tư pháp công minh,
độc lập, hiệu quả, bảo vệ các quyền con người. Chính vì vậy, để xây dựng thành
công nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, chúng ta cần phải đẩy mạnh cải cách tư
pháp, hướng tới một nền “tư pháp độc lập” nhằm “bảo vệ các quyền con người,
quyền công dân”.
Trên thực tế, thời gian vừa qua công luận đã liên tiếp đưa ra ánh sáng tình
trạng bắt người tùy tiện, bắt oan người không có tội, tạm giữ, tạm giam người
không có căn cứ, khởi tố điều tra sai, khởi tố điều tra khi không đủ căn cứ dẫn
đến xâm hại nghiêm trọng đến nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân. Do hoạt động tố tụng là việc đi ngược dòng thời gian để tìm ra sự thật
khách quan, song nhận thức của con người là có hạn nên một số trường hợp
không thể hoặc chưa thể truy ra sự thật. Tuy nhiên, dưới sức ép không để lọt tội
phạm dễ dẫn đến hiện tượng “giết nhằm hơn bỏ sót”, vậy là oan sai lại xảy ra.
Nguyễn Thanh Chấn (ở tù oan hơn 10 năm) là một điển hình của việc này.
Vì tâm lý “sợ lọt tội phạm” nên nhiều vụ án chưa đủ chứng cứ để kết tội

pháp quyền nói riêng, chẳng hạn như:

4


- Bài viết: Vai trò của tư pháp độc lập của tác giả Philippa Strum, được
dịch và in trong cuốn Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến: Một số tiểu luận
của học giả nước ngoài, NXB Lao động xã hội (2012), đã chứng minh những
đóng góp quan trọng của nhánh quyền lực tư pháp trong việc bảo vệ và thúc đẩy
các quyền con người ở Hoa Kỳ.
- Bài viết: Tầm quan trọng của tư pháp độc lập của tác giả Sandra Day
O’Connor, được dịch và in trong cuốn Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến:
Một số tiểu luận của học giả nước ngoài, NXB Lao động xã hội (2012), đã cho
thấy tính phổ biến của tư pháp độc lập trong việc bảo vệ quyền con người, thông
qua hoạt động xét xử.
- Ấn phẩm: Phương thức hoạt động của tòa án Hoa Kỳ của Bộ Ngoại giao
Hoa Kỳ (1999) bao gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả về các phương diện của
hệ thống tư pháp Hoa Kỳ, trong đó chủ yếu đều cập đến lịch sử hình thành và
phát triển của nền tư pháp Hoa Kỳ, những thành tựu của Hiến pháp Hoa Kỳ
trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Bên cạnh đó, ấn phẩm này
cũng cung cấp những kinh nhiệm quý báu trong việc bảo đảm sự vô tư, khách
quan của thẩm phán bằng hệ thống đạo đức nghề nghiệp của thẩm pháp và
phương thức kỷ luật thẩm phán trong hệ thống tư pháp Hoa Kỳ.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về tư pháp, cải cách tư pháp và
quyền con người, có thể kể ra một số nghiên cứu sau:
Một số sách, công trình nghiên cứu:
- Lê Cảm – Nguyễn Ngọc Chí (đồng chủ biên) (2004), Cải cách tư pháp ở
Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội. Tác phẩm đã tình bày những vấn đề cơ bản cần đặt ra trong

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Tác phẩm đã cung cấp một khối lượng kiến thức
trọng tâm về pháp luật về quyền con người, nhằm đưa đến cho người đọc một sự
hiểu biết toàn diện và khái quát nhất.

6


- Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân (2012), Giới
thiệu Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR, 1966), NXB
Hồng Đức, Hà Nội. Tác phẩm đã cung cấp những phân tích sâu sắc về nội hàm
của các quyền con người, đồng thời cũng trình bày sơ lược về quá trình phát
triển của các quyền con người.
- Nguyễn Đăng Dung – Phạm Hồng Thái – Lã Khánh Tùng – Vũ Công
Giao (đồng chủ biên) (2012), Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, NXB
Hồng Đức, Hà Nội.
- Gudmundur Alfredsson – Asbjorn Eide (đồng chủ biên) (1999), The
Universal Declaration of Human rights: A common standard of Achivement
(Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền 1948 – Mục tiêu chung của Nhân loại), NXB
Martinus Nijhoff.
Một số bài viết:
- Lê Cảm (2006), “Tổ chức quyền tư pháp, yếu tố quan trọng nhất đảm
bảo cho thành công của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Nhà nước
và pháp luật, (5).
- Ngô Huy Cương (2003), “Tổ chức tư pháp hướng tới Nhà nước pháp
quyền: Một số vấn đề cơ bản”, Nhà nước và pháp luật, (7).
- Nguyễn Đăng Dung (2007), “Trọng tâm của công tác cải cách tư pháp
hiện nay là bảo đảm cho nguyên tắc độc lập có hiệu lực trên thực tế”, Dân chủ
và Pháp luật, (178).
- Nguyễn Hải Ninh (2008), “Cải cách tư pháp ở Canada, Trung Quốc và
Nhật Bản”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 năm 2008.

về quyền tư pháp, quyền con người trong nhà nước pháp quyền.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những nội dung về quyền tư pháp, quyền con người
trong nhà nước pháp quyền, vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ các quyền con
người theo những tiêu chuẩn chung của pháp luật thế giới và được áp dụng trong
quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

8


5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm,
đường lối của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về hệ thống pháp luật và
quyền con người. Quan điểm của Liên hợp quốc về vai trò của tư pháp trong
việc bảo vệ các quyền con người.
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn này bao gồm: phương
pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và khảo cứu tài liệu.
Cách tiếp cận của luận văn bao gồm: triết học, chính trị học và luật học.
6. Những nét mới của luận văn
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư pháp và quyền
con người ở Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào phân tích toàn diện và
thấu đáo về mối quan hệ, vai trò của tư pháp độc lập trong việc bảo vệ, thúc đẩy
quyền con người. Luận văn này góp phần khỏa lấp khoảng trống đó, bổ sung
cho các nghiên cứu hiện hành về hai lĩnh vực này ở Việt Nam. Tuy vậy, các
công trình đã nghiên cứu sẽ là những tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác
giả trong quá trình thực hiện luận văn.
7. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học
cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề cải cách hoạt động tư pháp, nâng cao

của nó “gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của các tôn giáo, tư tưởng, tập quán
và pháp luật trong các giai đoạn lịch sử của nhân loại” [14, tr.19]. Trong thời
kì cổ và trung đại, các giáo lý của một số tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên chúa
giáo và Hồi giáo đều đã chứa đựng những tư tưởng có ý nghĩa đạo đức về bình
đẳng, hạnh phúc và tự do. Một số bộ luật cổ còn lưu giữ lại được như Bộ luật
Hammurabi cổ đại (khoảng 1780 tr.CN), Bộ luật của Cyrus Đại đế (khoảng 550
tr.CN), Bộ luật Ashoka (khoảng 273-231 tr.CN),… đã đề cập đến việc bảo vệ
các quyền lợi chính đáng của con người. Trong các tác phẩm của mình, các nhà
tư tưởng có ảnh hưởng trong thời kì này như Aristotle, Platon, Khổng Tử, Mặc
Tử,… đều đã đề cập đến những khía cạnh về sự bình đẳng, tự do và các quyền
của con người.
Tiếp theo, cho đến trước cách mạng tư sản, nhiều văn kiện như Đại
Hiến chương Anh (Magna Carta, 1215), Bộ luật về Quyền của Anh (Bill of
Rights, 1689),… đã chứa đựng những quy định nhằm bảo vệ nhân phẩm của
con người – “chịu ảnh hưởng của các tư tưởng nhân văn trong các học thuyết
tôn giáo” [14, tr.20].
Thời kỳ Khai sáng và cách mạng tư sản, tư tưởng về quyền con người đã
đánh dấu một bước phát triển mới. Nhiều tư tưởng, học thuyết tiến bộ về chính
trị – xã hội ra đời hoặc hồi sinh, nổi bật trong số đó là tư tưởng về quyền tự
nhiên (natural rights) với một số học giả tiêu biểu như Thomas Hobbes, John

11


Locke, Thomas Paine,… Họ cho rằng: “quyền con người là những gì bẩm sinh,
vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành
viên của gia đình nhân loại” [14, tr.20]. Điều này cũng có thể được hiểu rằng,
các quyền con người “không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống
văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay
nhà nước nào” [12, tr.39]. Cho nên, không một chủ thể nào, kể cả nhà nước có

Năm 1994, theo một tài liệu của Liên hợp quốc cho thấy “có đến gần 50 định
nghĩa về quyền con người đã được công bố” [12, tr.37]. Đầu tiên phải kể đến
định nghĩa được đưa ra bởi Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc –
định nghĩa này cũng thường được trích dẫn bởi nhiều nhà nghiên cứu, đó là:
“Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá
nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến
nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [12, tr.37].
GS. TS Nguyễn Đăng Dung – một người có nhiều năm kinh nghiệm
nghiên cứu trong lĩnh vực quyền con người lại đưa ra một định nghĩa như sau:
Quyền con người là những quyền cơ bản nhất của con người,
được có một cách tự nhiên, gắn bó mật thiết với con người – một động
vật cao cấp có lý trí và có tình cảm, làm cho con người khác với các
động vật khác, mà nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ
quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ những quyền đó [4].
Từ hai định nghĩa nêu trên, có thể rút ra được một số khía cạnh chung về
cách hiểu, nhận thức về quyền con người là: thứ nhất, quyền con người là những
quyền cơ bản, gắn với cá nhân con người, xuất phát từ phẩm giá vốn có của họ
mà không có bất kì sự phân biệt nào. Nhờ những quyền đó con người mới tồn tại
và phát triển được bản thân trong đời sống cộng đồng; thứ hai, các quyền con
người yêu cầu phải được pháp luật ghi nhận và bảo đảm – đây chính là công cụ
hữu hiệu nhất để bảo vệ các quyền con người, ở cả phạm vi quốc gia và quốc tế.
Về các đặc trưng của quyền con người, theo cách hiểu hiện nay của luật
nhân quyền quốc tế, quyền con người có bốn đặc trưng cơ bản, đó là:

13


Thứ nhất, tính phổ biến (universal). Theo đặc trưng này, “quyền con
người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng
cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại mà không có bất cứ sự phân

bảo đảm các quyền khác” [12, tr.43].
1.1.2. Cách thức ghi nhận các quyền con người
Trong một nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và công dân
là bình đẳng dựa trên cơ sở của pháp luật, và Hiến pháp – bản khế ước thể hiện
sự đồng thuận của những người bị trị – đóng vai trò rất quan trọng. Các quyền
con người, quyền công dân, thường là một phần trong các bản Hiến pháp. Chẳng
hạn, Bộ luật về Quyền của Mỹ (Bill of Rights, 1791) chính là 10 Tu chính án
Hiến pháp đầu tiên, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789)
chính là một phần của Hiến pháp Pháp, hay Bộ luật về Quyền của Anh (Bill of
Rights, 1689) là một nguồn của Hiến pháp Anh. Các bản Hiến pháp cổ điển này
chủ yếu quy định các quyền dân sự và chính trị. Ngày nay, các bản Hiến pháp
hiện đại đã mở rộng phạm vi các quyền con người, ghi nhận thêm cả các quyền
kinh tế, văn hóa, xã hội, và cả quyền của các nhóm yếu thế (chẳng hạn như phụ
nữ, trẻ em, người thiểu số…).
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con
người, quyền công dân được ghi nhận tại Chương II Hiến pháp 2013, chia thành
các nhóm quyền như sau: thứ nhất, các quyền dân sự, chính trị như: quyền tự do
và an ninh cá nhân; quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ
một cách bình đẳng; quyền tự do đi lại và lựa chọn nơi ở; quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin; quyền lập hội,
hội họp; quyền được bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý đất nước;… thứ hai,
các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như: quyền làm việc; quyền học tập; quyền
được chăm sóc sức khỏe; các quyền về an sinh xã hội;…
Ngoài ra, các đạo luật, luật cũng đã cụ thể hóa các quyền con người trong
Hiến pháp vào các lĩnh vực pháp lý cụ thể, chẳng hạn như quyền con người

15


trong lĩnh vực dân sự, quyền con người trong lĩnh vực hình sự, hay quyền con

Nhìn chung thì với mỗi nhà nghiên cứu, dưới các góc độ khác nhau lại chỉ
ra được những yêu cầu cần phải thực hiện nhằm đảm bảo quyền con người trên
thực tế. Tựu chung lại, có thể phân biệt thành các nhóm biện pháp sau: thứ nhất,
các biện pháp liên quan đến hoạt động lập pháp và hoạt động thi hành pháp luật;
thứ hai, các biện pháp liên quan đến chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước,
cán bộ, công chức trong việc bảo vệ các quyền con người; thứ ba, các biện pháp
xử lý vi phạm quyền con người, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân;
thứ tư, các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà nước.
Trong phạm vi của luận văn sẽ đề cập chủ yếu đến nhóm các giải pháp thứ ba,
và sẽ được trình bày cụ thể hơn ở các phần sau.
1.2. Khái quát về quyền tư pháp
1.2.1. Quan niệm chung về quyền tư pháp
Trong khoa học pháp lý, theo nghĩa truyền thống, thuật ngữ “quyền tư
pháp” thường được hiểu đơn giản là quyền xét xử. Cụ thể, đó là quyền của Tòa án
xét xử một vụ việc trên cơ sở xem xét các tính tiết thực tế, áp dụng pháp luật để
xác định hậu quả pháp lý và ra phán quyết, quyết định. Hiểu theo nghĩa này, hệ
thống cơ quan thực hiện quyền tư pháp chính là hệ thống cơ quan thực hiện quyền
xét xử, tức là hệ thống tòa án. Từ điển Black’s Law Dictionary định nghĩa, quyền
tư pháp là “thẩm quyền được trao cho tòa án và các thẩm phán xem xét và quyết
định các vụ việc và đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các vụ
việc ấy; quyền giải thích và áp dụng pháp luật khi có tranh cãi phát sinh từ việc
một điều gì đó có phù hợp hay không phù hợp với pháp luật điều chỉnh ấy” [3].
Ngày nay, cách hiểu truyền thống về quyền tư pháp vẫn được sử dụng, tuy
nhiên cũng đã xuất hiện những quan điểm về quyền tư pháp và cơ quan tư pháp
theo hướng tiếp cận rộng hơn, tổng quát hơn. Chẳng hạn như, các cơ quan công
tố ở nhiều quốc gia trên thế giới có thể trực thuộc nhánh hành pháp hay tòa án,
song ngày càng có xu hướng vận hành theo nguyên tắc độc lập giống như hệ

17




tin của người dân vào hệ thống tư pháp. Lon Fuller – một nhà nghiên cứu về lĩnh
vực nhà nước pháp quyền viết:
Nguyên tắc nhà nước pháp quyền chỉ tồn tại khi, thứ nhất, công
lý và nhân phẩm của con người được bảo đảm; thứ hai, các cơ quan
hành pháp phải có trách nhiệm thi hành các quy định của lập pháp đã
được thông qua, ngay cả trong trường hợp quy định đó là sai; thứ ba,
khi các quy định đó được các cơ quan tư pháp đảm bảo thực thi một
cách nghiêm túc; thứ tư, khi có một hệ thống cơ quan tòa án độc lập
sẵn sàng bảo vệ các bên bị xâm hại chống lại các hành vi cửa quyền
của các cơ quan chức năng của nhà nước [6, tr.79].
Với tư cách là một trong các nhánh quyền lực nhà nước, bên cạnh những
đặc điểm chung của các bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước như quyền lực
công cộng, thể hiện ý chí của nhân dân,… hoạt động tư pháp của tòa án có
những đặc trưng riêng mang tính đặc thù sau đây.
1.2.2. Các đặc trưng của quyền tư pháp
Trong một nhà nước pháp quyền, hoạt động tư pháp của hệ thống tòa án
có các đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực – quyền
nhân danh nhà nước xét xử và tuyên án. Trong nhà nước pháp quyền, không một
cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có quyền kết tội một công dân. Chỉ có tòa án
mới có quyền nhân danh nhà nước phán xét một người là có tội hay không có
tội. Điều này được thể hiện trong “nguyên tắc suy đoán vô tội” – một nguyên
tắc kinh điển trong hoạt động tư pháp được thừa nhận chung bởi nền văn minh
pháp lý nhân loại, rằng: không có ai bị coi là có tội cung như phải chịu hình
phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra,
bất kì sự giới hạn hay tước bỏ các quyền, lợi ích của cá nhân hay các tổ chức
đều phải bằng con đường hoặc thủ tục tư pháp.


đưa ra phán quyết, quyết định của mình một cách khách quan, vô tư nhất.

20


Trích đoạn Mối quan hệ giữa quyền tư pháp với việc bảo vệ quyền con người Các đặc trưng cơ bản của việc bảo vệ quyền con người bằng tư pháp Vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người theo luật quốc tế Khái quát hệ thống tư pháp ở Việt Nam Đánh giá chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status