Pháp luật an sinh xã hội trong việc bảo vệ quyền con người ở việt nam hiện nay - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

---------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

HOÀNG THẾ SƠN

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

---------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

HOÀNG THẾ SƠN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ
: 60380107



Hà Nội, tháng

năm 2016

Tác giả luận văn


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1.

ASXH

An sinh xã hội

2.

BHXH

Bảo hiểm xã hội

3.

BHYT


Người lao động

9.

NSDLĐ

Người sử dụng lao động

10.

NKT

Người khuyết tật

11.

TGXH

Trợ giúp xã hội


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
STT

Tên bảng biểu, sơ đồ

Trang

1

bảo vệ thu nhập thông qua bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp ................. 27
2.2. Thực trạng quyền con người và đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực
bảo vệ và chăm sóc sức khỏe thông qua bảo hiểm y tế ......................................... 34
2.3. Thực trạng quyền con người và đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực trợ
giúp xã hội ............................................................................................................ 38

2.4. Thực trạng quyền con người trong lĩnh vực tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản43
2.5. Thực trạng quyền con người và đảm bảo quyền con người trong an sinh xã
hội đối với một số đối tượng đặc biệt .................................................................... 54
2.6. Nhận xét chung.............................................................................................. 61


Kết luận chương 2................................................................................................ 66
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN
CON NGƯỜI CỦA PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM .................. 68
3.1. Hoàn thiện Pháp luật an sinh xã hội ............................................................. 68
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền con người trong
pháp luật an sinh xã hội Việt Nam ....................................................................... 82
Kết luận chương 3 .............................................................................................. 87
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................. 89


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Con người là một thực thể của xã hội, là trung tâm của vũ trụ và là chủ thể
của mọi hoạt động kinh tế, chính trị, chính vì vậy phát huy quyền con người là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với xã hội. Quyền con người là thành quả phát
triển lâu dài trong lịch sử đấu tranh giải phóng, cải tạo xã hội và cải tạo thiên nhiên của

cao và sự đóng góp từ phía nhà nước còn ở mức thấp.
Trước những bất cập nêu trên, việc nghiên cứu pháp luật về quyền con người,
thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền con người ở Việt Nam nói chung và quá trình
thực thi pháp luật về quyền con người ở một địa phương nói riêng là phù hợp và có
ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn.
Với mục tiêu mở rộng độ bao phủ của hệ thống ASXH, nâng cao quyền được
hưởng an sinh của người dân, và đảm bảo thực thi hiệu quả pháp luật ASXH trên
thực tế; việc ghi nhận quyền con người trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ
thống ASXH ở Việt Nam ngày càng được lưu tâm xem xét và đảm bảo thực hiện.
Xuất phát từ nhận thức tầm quan trọng của quyền con người nói chung, và quyền
con người trong ASXH nói riêng, tôi chọn vấn đề “Pháp luật an sinh xã hội trong
việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
chương trình đào tạo thạc sỹ tại viện Đại học Mở Hà Nội.
2. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quyền hưởng ASXH được chính thức ghi nhận lần đầu tiên trong Tuyên
ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và được làm rõ hơn trong Công ước
quốc tế số 102/1952 về tiêu chuẩn ASXH tối thiểu. Ở góc độ nghiên cứu về quyền
con người trong pháp luật ASXH trên thế giới có một số tác phẩm tiêu biểu như:
“The strategy of the International Labor Organization – Social security for all” (Tạm
dịch: Chiến lược của Tổ chức lao động quốc tế - An sinh xã hội cho tất cả mọi người),
do Tổ chức lao động quốc tế xuất bản năm 2012; “The Human Rights approach to
Social Protection” (Tạm dịch: Quyền con người tiếp cận bảo vệ xã hội), tác giả
Magdalena Sepu’lveda và Carly Nyst, được Bộ Ngoại giao Phần Lan xuất bản 2012;
“Understanding human rights” (Tạm dịch: Tìm hiểu về quyền con người), do tác

2


giả Wolfgang Benedek Trung tâm nghiên cứu - đào tạo châu Âu về Quyền con
người và dân chủ (ETC) chủ biên, tái bản và chỉnh sửa lần thứ 3 năm 2012;...

người; đồng thời kiến nghị một số giải pháp để hoàn thiện việc quy định và thực
hiện quyền con người trong ASXH Việt Nam trong giai đoạn sắp tới, phù hợp với
thông lệ quốc tế về ASXH, đảm bảo mở rộng sự bao phủ của an sinh và nâng cao
mức độ hưởng quyền của các đối tượng trong xã hội.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận của pháp luật về quyền con người trong pháp luật An
sinh xã hội nói chung là gì? Quy định pháp luật về quyền con người trong pháp luật
An sinh xã hội là gì?
- Thực trạng thực hiện quyền con người trong pháp luật An sinh xã hội như
thể nào?
- Tại sao phải cải thiện việc thực hiện quyền con người trong pháp luật An
sinh xã hội ở Việt Nam ?
- Làm thế nào để nâng cao việc thực hiện quyền con người trong pháp luật
An sinh xã hội ở Việt Nam?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Các quan điểm, tài liệu khoa học về quyền con người, về ASXH; các quy định
của pháp luật ASXH Việt Nam, các văn bản áp dụng pháp luật có liên quan đến
ASXH; Một số Công ước, khuyến nghị của ILO và pháp luật về ASXH của một số
nước trên thế giới; Thực tiễn quản lý nhà nước và đảm bảo thực hiện quyền con
người trong ASXH.
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Luận văn nghiên cứu quyền con người trong lĩnh vực bảo vệ thu nhập thông
qua BHXH và BHTN;
+ Quyền con người trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe thông qua

4


BHYT;

trên một hệ thống giá trị toàn cầu phổ biến nhằm cống hiến cho sự linh thiêng của
cuộc sống và tạo ra một khuôn khổ để xây dựng hệ thống quyền con người, được các
quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ. Trong suốt thế kỷ XX, quyền con người đã
phát triển như một khuôn khổ đạo đức, chính trị, pháp lý và như một hướng dẫn
nhằm phát triển một thế giới tự do khỏi sợ hãi và tự do làm điều mong muốn.
Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) và Tuyên ngôn nhân quyền là hai văn
kiện quốc tế quan trọng đầu tiên về nhân quyền. Tuyên ngôn nhân quyền (1948)
được đánh giá là một trong những thành tựu to lớn của LHQ và có ý nghĩa lịch sử vì
đã đưa ra được những chuẩn mực chung cho tất cả các nước và các dân tộc về quyền
con người. Từ đó quyền con người được pháp điển hoá trong một loạt Công ước
quốc tế về nhân quyền. Tuy vậy, tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 và hai
Công ước về nhân quyền năm 1966 - Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị (ICCPR) tập trung vào các quyền cá nhân, và Công ước Quốc tế về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR). Cùng với nhau, ba văn kiện đã làm
thành Bộ luật Nhân quốc Quốc tế, và bộ luật này được sử dụng như một tiêu chuẩn
hành vi và là cơ sở để yêu cầu chính phủ các nước phải tuân thủ nhân quyền.
Nhân quyền, ở góc độ khái quát nhất, theo Liên hợp quốc có thể hiểu:“Nhân
quyền là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu ko được bảo đảm thì
chúng ta sẽ không thể sống như một con người”.(33)

6


Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy liên hợp quốc thì:“Quyền con người
là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm
chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ
bản của con người”.(2)
Ở Việt Nam các quyền cơ bản của con người cũng đã được khẳng định trong
Hiến pháp và nhiều văn bản luật và dưới luật khác, một số định nghĩa về quyền con
người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn

rằng nhân quyền hoàn toàn là ‘sản phẩm’ và công cụ của phương Tây nhằm can
thiệp vào chủ quyền của các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các nước
XHCN. Quyền con người là vấn đề phức tạp đa nghĩa, chứa đựng những mặt đối
lập, mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau. Đó là các mặt khách quan và chủ
quan, tự nhiên và xã hội, kinh tế và tinh thần, văn hoá và chính trị, đạo lý và luật
pháp. Nó cũng là sự kết hợp giữa các yếu tố quốc tế và dân tộc, giai cấp và nhân
loại.
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng
được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và
tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân
loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực
này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới
có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con
người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là
quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi
xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử. Tất cả các quốc gia văn minh đều nỗ lực
xác định và ủng hộ nhân quyền. Ở đâu cũng vậy, cốt lõi của khái niệm này là
giống nhau, đó là: nhân quyền là các quyền mà mỗi con người đều có đơn giản là
vì họ là con người. Nhân quyền cũng là những quyền bất khả xâm phạm. Nhân
quyền là của mọi người và bình đẳng cho mọi người.
* Tính chất của quyền con người:
Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các tính
chất cơ bản: đó là tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng,tính không thể phân
chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, cụ thể như sau:

8


- Tính phổ biến:
Tính phổ biến của quyền con người được thể hiện ở quyền được áp dụng

+Nhóm quyền bình đẳng như quyền bình đẳng cá nhân trước pháp luật và
được pháp luật bảo vệ.
+Nhóm quyền được tham gia quản lý các công việc của nhà nước, xã hội như
quyền bầu cử, ứng cử, quyền được hưởng các nghĩa vụ công cộng tại đất nước
mình.
Quyền dân sự, quyền chính trị có ý nghĩa là quyền tập thể, bao gồm các
nhóm quyền như quyền độc lập, chủ quyền của dân tộc, quyền bình đẳng giữa các
quốc gia dân tộc trong mối quan hệ quốc tế ...
- Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
Luật quốc tế ngày nay đã ghi nhận đầy đủ các quyền của con người trong
lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa. Đây là các quyền cá nhân và tập thể.
+ Với tư cách là quyền tập thể, quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã
hội, văn hóa được đề cập trước tiên khái niệm quyền tự quyết của các dân tộc.
Quyền tự quyết về phát triển kinh tế, văn hóa xã hội thể hiện ở một số nội dung cơ
bản là quyền tự do lựa chọn trong phát triển và quyền bình đẳng kinh tế giữa các
dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị hay trình độ phát triển.
+ Giá trị các nhân của quyền kinh tế, văn hóa xã hội liên quan tới 2 vấn đề là
sự bình đẳng giữa các cá nhân trong việc thực hiện quyền và hưởng thụ các giá trị
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và việc hình thành các tiêu chí pháp lý cụ thể và
việc thực hiện các quyền này trong đời sống xã hội. Hai vấn đề này đều chịu tác
động của cơ chế và bảo đảm cụ thể tại từng quốc gia. Đối với các quốc gia đang
phát triển thì các quyền này có ý nghĩa hết sức quan trọng và có thể trở thành tiền đề
cho việc thực hiện các quyền dân sự chính trị đã nêu.
1.1.2. Khái niệm an sinh xã hội
An sinh xã hội có nội dung rất rộng và ngày càng hoàn thiện về nhận thức và
thực tiễn thực hiện trên toàn thế giới. An sinh xã hội theo quan điểm của một số tổ
chức quốc tế cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới khác nhau.

11


12


năng tạo thu nhập vĩnh viễn (người khuyết tật), hoặc mất việc làm tạm thời (người
bị thất nghiệp), hoặc thu nhập thấp hơn mức đủ sống (người nghèo); (iii) thu nhập
tối thiểu đối với người trên tuổi lao động (người cao tuổi) và dưới tuổi lao động (trẻ
em).
Bên cạnh đó, sàn an sinh xã hội cũng nhấn mạnh đến các dịch vụ xã hội thiết yếu
cho con người, bao gồm: (i) Chăm sóc y tế cơ bản; (ii) nước sinh hoạt hợp vệ sinh; (iii)
nhà ở; (iv) giáo dục; và (v) Các dịch vụ khác tùy theo ưu tiên của từng quốc gia.
Mặc dù diễn đạt khác nhau, các quan niệm về an sinh xã hội đều có những
điểm chung sau đây:
( i) Là sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu thông qua hệ thống các
chính sách can thiệp nhằm quản lý rủi ro tốt hơn, bao gồm các rủi ro liên quan đến
nhu cầu cơ bản nhất của con người: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi
già, trẻ em, tàn tật…dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức
tối thiểu đủ sống (được luật hóa hoặc qui định).
( ii) Là các chính sách do nhà nước tổ chức thực hiện là chính, ngoài ra còn
có sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trường trong việc tổ chức
thực hiện và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội. Các chính sách này hướng đến mọi
thành viên trong xã hội, bảo đảm cho mọi thành viên được bình đẳng về tiếp cận và
chất lượng dịch vụ, tuy nhiên, nhấn mạnh đến nhóm đối tượng yếu thế (lý do chính
để có sự tham gia của nhà nước).
( iii) Là lưới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội. Do đó, phạm vi của an
sinh xã hội là bao phủ toàn dân và toàn diện (cơ bản đáp ứng được nhu cầu an sinh
xã hội của người dân một cách toàn diện).
Như vậy, có thể nói, bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo thu
nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là
thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên
trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Có thể thấy rõ ý

người có rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sự giúp
đỡ đặc biệt cho các gánh nặng gia đình… ASXH cũng khuyến khích, thậm chí bao
quát cả những loại trợ giúp như miễn giảm thuế, trợ cấp về ăn, ở, dịch vụ đi lại…

14


Hệ thống ASXH hiện đại không chỉ là những cơ chế đơn giản nhằm thay
thế thu nhập mà đã trở thành những véctơ hỗn hợp của cái gọi là “những chuyển
giao xã hội”, tức là những công cụ, những biện pháp phân phối lại tiền bạc, của cải
và các dịch vụ xã hội có lợi cho những nhóm người “yếu thế” hơn (hiểu một cách
tương đối, biện chứng nhất – TG) trong cộng đồng xã hội.
Như vậy, có thể thấy rõ ý nghĩa của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho
các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi.
- ASXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp.
Mỗi người trong xã hội từ những địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo khác
nhau… là những hiểu hiện khác nhau của một hệ thống giá trị xã hội. Nhưng vượt
lên trên tất cả, với tư cách là một công dân, họ phải được bảo đảm mọi mặt để phát
huy đầy đủ những khả năng của mình, không phân biệt địa vị xã hội, chủng tộc,
tôn giáo… ASXH tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn
những người bình thường khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết
để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà
nhập vào cộng đồng. ASXH kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người,
kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn,
giúp họ hướng tới những chuẩn mực của Chân – Thiện – Mỹ. Nhờ đó, một mặt có
thể chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt khác, có thể chống lại được tư tưởng mạnh ai
nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”… ASXH là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người
không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội… Đồng thời, giúp
mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công
bằng, bình yên.

chăm sóc y tế, không có sự hỗ trợ của gia đình đối với trẻ em và người phụ
thuộc.Thực tế hiện nay, cách hiểu về quyền con người cũng như ASXH trên thế giới
vẫn còn những điểm khác nhau và mỗi cách nhìn nhận đó đều có những ưu, nhược
điểm riêng. Tuy nhiên, căn cứ vào việc phân tích khái niệm quyền con người và
khái niệm ASXH, quyền con người trong pháp luật ASXH thường được xác định
trên từng nội dung trụ cột của ASXH.(33)
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về quyền con
16


người trong ASXH như sau: Quyền con người trong pháp luật ASXH được hiểu là
những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có, khách quan của con người trong lĩnh vực
an sinh, được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp
lý quốc tế, bao gồm nhưng không giới hạn các nội dung bảo vệ thu nhập, bảo vệ và
chăm sóc sức khỏe, trợ giúp xã hội, đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Quyền được hưởng ASXH được thừa nhận là quyền thuộc thế hệ thứ hai của
quyền con người về kinh tế - văn hóa - xã hội. Tương tự như quyền con người trong
các lĩnh vực khác, quyền con người trong ASXH là một quyền phổ quát, tự nhiên, vốn
có và khách quan của con người, không có sự phân biệt đối xử hay kỳ thị vì những
nguyên nhân về dân tộc, tôn giáo, giới tính, độ tuổi,… Sự bảo vệ của hệ thống ASXH
của nhà nước được thiết lập trên nhiều tầng khác nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau để
đảm bảo an sinh phù hợp với từng đối tượng. Chủ thể hưởng ASXH có quyền tham gia
quan hệ pháp luật ASXH từ khi sinh ra cho đến khi chết đi. Mặc dù để được hưởng các
quyền lợi về an sinh, mỗi người phải đáp ứng một số điều kiện nhất định, nhưng đó
không phải là sự giới hạn phạm vi tham gia quan hệ pháp luật an sinh, mà chỉ để “đảm
bảo công bằng, trên cơ sở nhu cầu của đối tượng trong hoàn cảnh thực tế của họ, hoặc
sự đóng góp của nhóm đối tượng đó, phù hợp với trình độ quản lý rủi ro của Nhà
nước”. Mỗi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia một hoặc nhiều nhóm trong
quan hệ pháp luật ASXH phù hợp với điều kiện của họ.
Tuy rằng pháp luật thừa nhận ASXH là một quyền con người phổ biến,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status