MỤC LỤC Nội dung
Trang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 - 3
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẢM BẢO PHÁP LÝ VỀ QUYỀN
CON NGƢỜI
4
1.1.
Quyền con ngƣời và đảm bảo pháp lý về quyền con ngƣời
4
1.1.1.
Quyền con người
4
1.1.2.
Khái niệm đảm bảo pháp lý về quyền con người
12
1.2.
Cơ cấu và nội dung của đảm bảo pháp lý về quyền con
ngƣời
14
1.2.1.
Đảm bảo quyền con người bằng việc qui định thành pháp luật
15
1.2.2.
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO PHÁP LÝ VỀ QUYỀN
CON NGƢỜI Ở VIỆT NAM
44
2.1.
Thực trạng đảm bảo quyền con ngƣời thông qua các qui
định của pháp luật
44
2.2.
Thực trạng đảm bảo pháp lý về quyền con ngƣời qua hoạt
động của các cơ quan nhà nƣớc
52
2.3.
Thực trạng đảm bảo pháp lý về quyền con ngƣời qua hoạt
động giải quyết khiếu nại, tố cáo
63
2.4.
Thực trạng đảm bảo pháp lý về quyền con ngƣời qua hoạt
động của các cơ quan tƣ pháp
66
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
ĐẢM BẢO PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CON NGƢỜI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
70
3.1.
Tính cấp thiết phải hoàn thiện đảm bảo pháp lý về quyền
con ngƣời ở nƣớc ta hiện nay
70
3.1.1.
3.3.2.
Nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan nhà nước
86
3.3.3.
Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo
89
3.3.4.
Đẩy mạnh đổi mới, cải cách hệ thống cơ quan tư pháp
91
KẾT LUẬN
95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96-100 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài:
Hiện nay quyền con người và đảm bảo thực hiện quyền con người đã
trở thành một vấn đề thu hút sự chú ý rộng rãi của dư luận quốc tế cũng như
tại Việt Nam bởi vì chiến tranh, xung đột, nạn khủng bố, đói nghèo, dịch
bệnh, thiên tai, ma túy, tội phạm xuyên quốc gia … đang tiếp tục đe dọa đến
quyền sống, quyền phát triển của hàng triệu người trên thế giới. Là một dân
tộc đã trải qua hàng thế kỷ đấu tranh giành độc lập và đang phấn đấu để phát
triển nhanh, mạnh mẽ và bền vững, Việt Nam cho rằng cần phải giải quyết
một cách toàn diện tất cả các quyền con người và hoàn thiện đảm bảo pháp lý
để thực hiện và bảo vệ tối đa các quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
b. Nhiệm vụ
Với mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
- Khái quát về lịch sử hình thành, nội dung cơ bản của quyền con người;
Làm rõ khái niệm và nội dung đảm bảo pháp lý về quyền con người;
Khái quát lịch sử phát triển các đảm bảo pháp lý về quyền con người ở
Việt Nam từ năm 1945 đến nay;
- Phân tích thực trạng đảm bảo pháp lý về quyền con người ở nước ta về
các mặt đã đạt được và một số vấn đề đang đặt ra;
- Nêu tính tất yếu phải hoàn thiện đảm bảo pháp lý về quyền con người;
đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện
đảm bảo pháp lý về quyền con người ở nước ta hiện nay.
3
3. Phạm vi nghiên cứu của Luận văn:
Đảm bảo pháp lý về quyền con người là một lĩnh vực rất rộng, liên
quan đến nhiều lĩnh vực khoa học. Luận văn này không có tham vọng giải
quyết tất cả mọi vấn đề mà chỉ tập trung vào một số vấn đề pháp lý cơ bản
nhất là: nghiên cứu đảm bảo pháp lý về quyền con người thông qua các qui
định của pháp luật về quyền công dân và cơ chế tổ chức, hoạt động của các cơ
quan trong bộ máy nhà nước để đảm bảo các quyền đó được thực hiện trong
thực tế.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện Luận văn này, chúng tôi vận dụng những quan điểm duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về nhà nước pháp quyền và về
quyền con người. Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp hệ
thống; phương pháp tiếp cận lịch sử và phương pháp so sánh. Các số liệu
minh họa trong Luận văn được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như: trong các
chính trị học, kinh tế học, luật học vì thế nó là khái nhiệm rộng và phức tạp.
Ngay từ thời cổ đại, thị dân ở một số thành phố Ai Cập đã sử dụng các quyền
như quyền tự do ngôn luận, quyền bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp
luật. Các triết gia thời đó cho rằng, các quyền tự nhiên thuộc sở hữu của tất cả
mọi người. Trong lịch sử nhân loại trước thế kỷ XVII đã hình thành 2 quan
niệm chủ yếu, khác nhau về quyền con người.
Quan niệm thứ nhất, trường phái pháp luật tự nhiên với các nhà tư
tưởng bậc thầy đại diện tiêu biểu như Spinoza, Locke, Kant, Hobbes xuất phát
từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên, vì vậy quyền con người là
quyền “bẩm sinh”, “đặc quyền” và là “quyền tự nhiên không thể tách rời”,
gắn với cá nhân con người và đặc quyền này do có pháp luật tự nhiên đứng
trên, cao hơn pháp luật nhà nước. Thuyết pháp luật tự nhiên với quan niệm về
quyền tự nhiên, bẩm sinh của con người đã đã thấm nhuần trong Tuyên ngôn
thế giới về nhân quyền, 1948 và các văn bản pháp lý khác về quyền con
người. Chẳng hạn, Điều 1 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, 1948 khẳng
định: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và các quyền”
[21, tr.22];
hay trong Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp, 1789 nhấn mạnh:
“Mục đích của các tổ chức chính trị là việc giữ gìn các quyền tự nhiên và
không thể bị tước bỏ của con người; các quyền này là quyền tự do, quyền sở
hữu, quyền được an toàn và chống áp bức.”
[21, tr.14]
6
Mặc dù, thuyết pháp luật tự nhiên đã xác lập về mặt tư tưởng nguyên
tắc bảo vệ quyền con người trước quyền lực, có giá trị nhân đạo và có ý nghĩa
tích cực trong nhận thức về quyền con người nhưng nếu chỉ quan niệm quyền
con người là quyền tự nhiên, bẩm sinh thì vẫn là quan niệm phiến diện, chưa
có mặt xã hội và trong cái xã hội của con người có mặt tự nhiên. Như vậy,
con người là một thực thể tự nhiên, đồng thời là thực thể xã hội và vì thế
quyền con người về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội.
C. Mác cho rằng, con người là sản phẩm cao nhất của tiến trình vận
động và phát triển của lịch sử. Vì thế, ngay từ đầu quyền con người là một
thụộc tính tự nhiên. Bản chất đó thể hiện nổi bật ở quyền được sống, quyền tự
do, quyền được sáng tạo, phát triển, quyền được đối xử như con người, xứng
đáng với con người.
Mặt khác, trong mọi trường hợp, con người luôn luôn là động vật xã
hội. Việc giải quyết nhu cầu của mỗi cá nhân chỉ có thể là đúng khi đặt nó
trong quan hệ xã hội bởi vì, chỉ có trong cộng đồng thì mỗi cá nhân mới có
những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình, chỉ có
trong cộng đồng mới có thể có tự do cá nhân. Như vậy, ngoài bản chất tự
nhiên, con người còn mang bản chất xã hội. Quyền con người ngay từ khi có
xã hội loài người, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội. Sự
xuất hiện giai cấp, nhà nước cùng với sự xung đột giai cấp là bước ngoặt
trong sự biến đổi tương quan giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của
quyền con người. Trong điều kiện xuất hiện giai cấp và xung đột giai cấp thì
bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp và bản tính tự nhiên của quyền con
người phải chịu sự chi phối của giai cấp giữ địa vị thống trị trong xã hội.
8
Từ sự phân tích về bản chất quyền con người ở trên, có thể thấy nó có
những thuộc tính rất phức tạp và dường như luôn luôn là sự thống nhất giữa
các mặt đối lập, đó là:
- Quyền con người là những giá trị gắn với mỗi con người vừa với tư cách là
cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội. Vì vậy, quyền con người vừa
mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng.
- Quyền con người vừa là những giá trị vĩnh hằng vừa là những đại lượng
biến đổi gắn với quá trình phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế -
những đặc quyền vốn có nhưng tự bản thân chúng chưa phải là quyền mà
chúng phải được đặt trong mối quan hệ xã hội và cộng đồng xã hội cùng
với thiết định trật tự của nó. Để trở thành quyền, những quyền và tự do của
con người cần có pháp luật. Chỉ có thông qua pháp luật thì các giá trị của
con người với tư cách là tự nhiên và xã hội mới trở thành quyền được xác
định và mới đảm bảo trở thành hiện thực trong thực tiễn.
Nếu quyền con người gắn với hệ thống pháp luật nhất định thì trong
một quốc gia, quyền con người được thể hiện chủ yếu ở quyền công dân và
được qui định trong Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó. Cần nhận thức
rằng, không có sự đối lập giữa quyền con người và quyền công dân. Không
thể có quyền công dân bên ngoài quyền con người và ngược lại, không thể có
quyền con người mà lại không bao hàm quyền công dân trong đó. Quyền
công dân chính là quyền con người trong một xã hội cụ thể, trong một chế độ
xã hội - chính trị nhất định cùng với các điều kiện kinh tế, văn hóa, truyền
thống, lịch sử, các giá trị đạo đức và đặc biệt với một nền pháp luật cụ thể do
nhà nước đó thừa nhận, qui định. Cũng không thể quan niệm một cách trừu
tượng rằng, một cá nhân con người vừa có quyền con người vừa có quyền
10
công dân một cách tách biệt hoàn toàn. Ở mỗi quốc gia, việc ghi nhận và đảm
bảo thực hiện tốt các quyền công dân chính là đã thực hiện nội dung cơ bản
của quyền con người.
Quyền con người và quyền công dân trong mối quan hệ thống nhất biện
chứng đều ghi nhận các quyền của cá nhân nhưng chúng là những khái niệm
không đồng nhất cả về chủ thể lẫn nội dung. Quyền con người là khái niệm
rộng hơn quyền công dân bởi vì nó vừa ghi nhận trạng thái pháp lý về quyền
cá nhân ở phạm vi quốc tế, vừa là quyền công dân ở trong phạm vi từng quốc
gia nhất định. Do vậy, nội dung, số lượng và chất lượng quyền công dân ở
mỗi quốc gia thường không giống nhau. Về phương diện chủ thể, quyền con
người cũng rộng hơn, ngoài những cá nhân là công dân, chủ thể quyền con
a) Là những giá trị quý báu được thừa nhận chung bởi toàn thế giới,
đồng thời gắn bó chặt chẽ với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá
nhân, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và cả cộng đồng quốc tế;
b) Trực tiếp liên quan tới các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh
thần của con người (từ ăn, ở, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí ) và góp
phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách, tính
nhân đạo và nhân văn của con người;
c) Các quyền con người tạo thành một hệ thống thống nhất, quan hệ
tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau, đồng thời vừa là tiền đề,
điều kiện của nhau, vừa là hệ quả của nhau [10, tr.52]
TS. Trần Quan Tiệp đưa ra định nghĩa ngắn gọn, khá đầy đủ và cụ thể
về quyền con người như sau: “Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự
nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.” [5, tr.14]
12
Nhận thức khái niệm quyền con người còn bao hàm cả việc xác định
nội dung cơ bản của nó. Nội dung cơ bản của quyền con người gắn với lịch sử
đấu tranh cho quyền con người, được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật
quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia, trước hết là trong các Công ước quốc
tế về quyền con người và Hiến pháp, văn bản luật có giá trị cao nhất của mỗi
quốc gia. Dưới góc độ khoa học pháp lý, quyền con người, quyền công dân
được chia thành các nhóm chính như sau:
- Các quyền và tự do dân chủ về chính trị bao gồm: quyền tham gia quản
lý nhà nước và xã hội; quyền bầu cử, ứng cử; quyền bình đẳng nam nữ;
quyền tự do ngôn luận; quyền tự do báo chí; quyền được thông tin;
quyền được lập hội; quyền biểu tình, bãi công; quyền tự do tín ngưỡng
.v.v.
- Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân) bao gồm: quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng và sức khỏe, danh
quan trọng như: qui định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của chủ thể pháp luật
và thủ tục, trình tự thực hiện quyền, nghĩa vụ đó; chủ thể pháp luật mang
quyền, nghĩa vụ pháp lý; hoạt động của chủ thể pháp luật nhằm thực hiện
quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình, yếu tố hệ tư tưởng chính trị - pháp lý của
giai cấp công nhân, văn hóa pháp lý và hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giải
thích, giáo dục pháp luật. Ở cấp độ cụ thể, đảm bảo pháp lý có thể được xem
như toàn bộ những tiền đề tư tưởng chính trị - pháp lý và biện pháp pháp lý
thống nhất, nhằm bảo đảm cho con người - công dân được hưởng quyền một
cách đúng đắn trong các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Xuất phát từ quan điểm hệ thống, những tiền đề chính trị - pháp lý và
biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo các quyền hợp pháp của con người - công
dân trong các lĩnh vực quan hệ xã hội ở Việt Nam do pháp luật điều chỉnh
14
được tập hợp trong một hệ thống thống nhất và có những đặc điểm cơ bản
sau:
Một là, được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công, đói
nghèo và làm cho con người có được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, bình
đẳng, an toàn.
Hai là, xuất phát từ chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế theo
phương châm "tất cả từ con người, cho con người, vì con người"; quyền và lợi
ích chính đáng của con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát
triển.
Ba là, do pháp luật qui định và bảo đảm thực hiện mà nội dung chủ yếu
của nó bao gồm các qui định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể pháp luật;
trình từ, thủ tục, hình thức thực hiện quyền, nghĩa vụ ấy; biện pháp tổ chức
của nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể pháp luật sử dụng
dựng đảm bảo pháp lý về quyền con người. Toàn bộ quá trình trên tạo thành
đảm bảo pháp lý về quyền con người.
Từ sự phân tích nêu trên, đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người
được hiểu là: hệ thống các qui định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công
dân gắn với các thiết chế bảo đảm thực hiện nó trong hệ thống pháp luật và cơ
chế bảo đảm cho các qui định và thiết chế đó được thực hiện trên thực tế.
1.2. Cơ cấu và nội dung của đảm bảo pháp lý về quyền con ngƣời
Theo khái niệm trên thì đảm bảo pháp lý về quyền con người có cơ cấu
và bao gồm những nội dung cơ bản sau đây: 16
1.2.1. Đảm bảo quyền con người bằng việc qui định thành pháp luật
Trong các điều kiện, nhân tố đảm bảo thực hiện quyền con người như:
chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục và pháp luật thì pháp luật có vị trí, vai
trò quan trọng hàng đầu. Pháp luật là tiền đề của quyền con người và ngược
lại, quyền con người lại là thước đo, phản ánh nội dung và bản chất tiến bộ
của pháp luật. Hoạt động lập pháp đảm bảo quyền con người là khởi đầu, là
xuất phát điểm và căn cứ pháp lý cho mọi hoạt động bảo vệ tiếp theo. Có thể
nói, quyền con người và pháp luật có mối quan hệ không thể tách rời, bởi vì:
Thứ nhất, pháp luật là phương tiện chính thức hóa giá trị xã hội của
quyền con người. Quyền con người được xã hội thừa nhận và bảo vệ, nó là
những giá trị được xã hội hóa và do vậy nó phải thông qua phương tiện pháp
luật, được biểu hiện dưới hình thức pháp luật. Nếu không có sự thừa nhận của
xã hội thông qua pháp luật thì những quyền tự nhiên vốn có của con người
chưa trở thành quyền. Ngược lại, quyền con người khi đã được qui định trong
pháp luật sẽ trở thành quyền pháp định, là ý chí chung của xã hội, được quyền
lực nhà nước bảo vệ.
Ngay từ thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, Salon, nhiếp chính quan
người Hy Lạp đã nói: “Ta giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của
Như vậy, thông qua pháp luật và nhờ những thuộc tính của pháp luật,
quyền con người được đảm bảo thực hiện một cách nhanh chóng, có hiệu quả
và trên qui mô toàn xã hội. Có thể khẳng định rằng, sẽ không có một công cụ,
phương tiện nào có được các lợi thế như pháp luật trong việc tổ chức, quản lý
xã hội cũng như trong vấn đề thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền
công dân.
18
Thứ ba, pháp luật tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật là đại lượng mang giá trị phổ
biến, là chuẩn mực của sự công bằng, là cơ sở để đo hành vi của mọi người,
mọi cơ quan, tổ chức, công chức nhà nước và là căn cứ để công dân đánh giá
các hành vi từ phía nhà nước, đấu tranh để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của mình. Trong quan hệ với nhà nước, công dân vừa là
người chủ nhà nước, vừa là đối tượng bị quản lý và ở khía cạnh này quyền và
lợi ích hợp pháp của họ dễ bị xâm hại.
Trong họat động của bộ máy nhà nước thì họat động của các cơ quan
quản lý hành chính nhà nước và các cơ quan tư pháp rất dễ có nguy cơ làm
phương hại đến quyền con người, quyền công dân bởi vì các quyết định và
các phán quyết của các cơ quan này đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi
ích của công dân. Mặt khác, trong quan hệ với các cá nhân được nhà nước
trao quyền, sự xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng
thường xuyên diễn ra. Sự xâm hại đó có thể do lỗi vô ý do trình độ năng lực
non kém của cán bộ công chức nhà nước nhưng nhiều khi là do lỗi cố ý bởi sự
thiếu tinh thần trách nhiệm hay do sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận
cán bộ công chức nhà nước, những người trực tiếp thi hành công vụ. Để tránh
tình trạng trên, pháp luật phải là vũ khí sắc bén và duy nhất để công dân đấu
tranh tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật phải tạo cơ
sở pháp lý vững chắc bằng cách qui định chặt chẽ và đầy đủ về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, công chức nhà
trên, mối quan hệ pháp luật - văn hóa giáo dục cũng cần được chú ý trong
việc đảm bảo thực hiện quyền con người. Đường lối phát triển văn hóa giáo
dục của mỗi quốc gia được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật nhằm bảo
đảm cho con người phát triển tự do và toàn diện về mặt thể chất và tinh thần.
20
Pháp luật tạo khuôn khổ, môi trường văn hóa tiên tiến nhưng vẫn đậm đà bản
sắc dân tộc bằng cách vừa giữ gìn văn hóa truyền thống vừa tiếp thu văn minh
nhân loại để tạo điều kiện cho công dân được tiếp xúc, nghiên cứu, học tập,
nâng cao tri thức của bản thân. Mặt khác, pháp luật còn có vai trò giáo dục
mạnh mẽ đối với mọi thành viên trong xã hội, hình thành văn hóa pháp lý ở
mỗi công dân, làm cho mọi người biết sống và làm việc theo pháp luật.
Thứ năm, pháp luật là phương tiện thực hiện sự cam kết và hòa nhập
giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đảm bảo thực hiện quyền con
người ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.
Sau Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, 1948 của Đại hội đồng Liên
Hợp Quốc đã có hàng loạt Công ước quốc tế về quyền con người được thông
qua. Điều đó chứng tỏ cộng động quốc tế không thể chậm trễ hơn trong việc
xem xét những vấn đề bức xúc về quyền con người như: đấu tranh chống tội
phạm, khủng bố; vấn đề môi trường; giải quyết đói nghèo và các vấn đề xã
hội; thực hiện quyền sống trong hòa bình; quyền của phụ nữ; quyền trẻ em
.v.v. đã trở nên có tính toàn cầu. Hành động cụ thể, trước tiên ở đây là mỗi
nước phải cụ thể hóa những qui định của pháp luật quốc tế phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh nước mình và phải tìm mọi biện pháp để thực hiện cam kết
đó. Ban hành, sửa đổi hệ thống pháp luật quốc gia phù hợp với các tiêu chuẩn
và qui định của các Công ước quốc tế mà nước mình đã tham gia, ký kết là
thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm thực hiện, bảo vệ quyền con người đối với
công dân nước mình trước cộng đồng quốc tế. Thêm vào đó, trong điều kiện
quan hệ quốc tế ngày càng đa dạng thì việc các quốc gia ký kết các Hiệp định
tương trợ tư pháp cũng sẽ tạo thêm một cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề
giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 70); bất khả xâm phạm về
danh dự, nhân phẩm (Đièu 71); bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 73); được
22
đảm bảo an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín (Điều 73); thừa kế
hợp pháp (Điều 58).
Nhóm ba - Các quyền về kinh tế, gồm: Quyền lao động (Điều 55); tự do
kinh doanh theo qui định của pháp luật (Điều 57); sở hữu về thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản
khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (Điều 58).
Nhóm bốn - Các quyền về văn hóa, gồm: Quyền học tập (Điều 59);
nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sang kiến, cải tiến kỹ
thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia
các hoạt động văn hóa khác, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp (Điều
60).
Nhóm năm - Các quyền về xã hội, gồm: Quyền được sống (Điều 71);
được bảo vệ sức khỏe (Điều 61); nghỉ ngơi (Điều 56); bình đẳng nam, nữ
(Điều 63); được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình (Điều 64); quyền của
phụ nữ được hưởng chế độ thai sản (Điều 63); được hưởng chế độ bảo hiểm
xã hội (Điều 56); quyền về nhà ở (Điều 62); quyền của trẻ em (Điều 65);
quyền của thanh niên (Điều 66); quyền của thương binh, bệnh binh, gia đình
liệt sĩ, người và gia đình có công với nước được hưởng chính sách ưu đãi và
chế độ khen thưởng, chăm sóc của Nhà nước (Điều 67); quyền của người già,
người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp
đỡ (Điều 67).
Có thể nói, đảm bảo pháp lý về quyền con người trước tiên chính là
đảm bảo thực hiện quyền con người bằng việc qui định thành pháp luật, trên
phương diện pháp luật.