Đảm bảo pháp lý về quyền con người ở Việt Nam hiện nay - Pdf 11

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài:
Hiện nay quyền con người và đảm bảo thực hiện quyền con người đã
trở thành một vấn đề thu hút sự chú ý rộng rãi của dư luận quốc tế cũng như
tại Việt Nam bởi vì chiến tranh, xung đột, nạn khủng bố, đói nghèo, dịch
bệnh, thiên tai, ma túy, tội phạm xuyên quốc gia … đang tiếp tục đe dọa đến
quyền sống, quyền phát triển của hàng triệu người trên thế giới. Là một dân
tộc đã trải qua hàng thế kỷ đấu tranh giành độc lập và đang phấn đấu để phát
triển nhanh, mạnh mẽ và bền vững, Việt Nam cho rằng cần phải giải quyết
một cách toàn diện tất cả các quyền con người và hoàn thiện đảm bảo pháp lý
để thực hiện và bảo vệ tối đa các quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Trong các đảm bảo pháp lý về quyền con người, các qui định của pháp
luật về quyền con người có vị trí vai trò hết sức quan trọng. Pháp luật đảm
bảo và tôn trọng tất cả các quyền con người phù hợp với nguyên tắc và chuẩn
mực quốc tế về quyền con người. Pháp luật cùng với các thiết chế tổ chức
hoạt động của bộ máy nhà nước và cơ chế đảm bảo thực hiện tạo thành một
tổng thể hệ thống đảm bảo pháp lý về quyền con người và được đảm bảo thực
hiện trên quy mô toàn xã hội bằng chính quyền lực và hoạt động của bộ máy
nhà nước.
Trong quá trình đổi mới và hội nhập thế giới, thực hiện từng bước có
hiệu quả việc mở rộng, phát huy dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, trong bối cảnh quốc tế còn tồn tại nhiều
chế độ chính trị - xã hội khác nhau và vấn đề quyền con người vẫn bị lợi dụng
để thực hiện “chính sách đối ngoại nhân quyền” áp đặt đối với các nước nhỏ
1
và còn nhiều khó khăn như Việt Nam thì càng cần thiết phải nhìn nhận đúng
đắn và có tinh thần xây dựng về vấn đề đảm bảo pháp lý thực hiện và bảo vệ
quyền con người. Việc nghiên cứu thực trạng đảm bảo pháp lý về quyền con
người, đánh giá đúng những thành tựu, ưu điểm; làm rõ những khuyết điểm,

4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện Luận văn này, chúng tôi vận dụng những quan điểm duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về nhà nước pháp quyền và về
quyền con người. Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp hệ
thống; phương pháp tiếp cận lịch sử và phương pháp so sánh. Các số liệu
minh họa trong Luận văn được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như: trong các
báo cáo tổng kết, các bài viết trên các trang thông tin điện tử, các ấn phẩm
chuyên ngành và công cộng
5. Kết cấu của Luận văn:
Luận văn gồm: Mục lục; Mở đầu; Phần nội dung gồm 3 chương; Kết
luận; Danh mục tài liệu tham khảo. Cụ thể như sau:
Mục lục
Mở đầu
Chương 1. Khái quát về đảm bảo pháp lý về quyền con người
Chương 2. Thực trạng đảm bảo pháp lý về quyền con người ở Việt
Nam
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện đảm bảo pháp
lý về quyền con người ở Việt Nam hiện nay
3
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư - Tiến sỹ Bùi Xuân Đức, các thầy
cô giáo trong Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các bạn, đồng
nghiệp, gia đình đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này.
4
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ
ĐẢM BẢO PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. Quyền con người và đảm bảo pháp lý về quyền con người

con người là quyền tự nhiên, bẩm sinh thì vẫn là quan niệm phiến diện, chưa
đầy đủ về quyền con người. Quan niệm đó đã tuyệt đối hóa quyền con người
với tư cách là quyền của thực thể sinh học - tự nhiên thuần túy từ đó dẫn tới
tuyệt đối hóa cá nhân trong mối quan hệ cộng đồng xã hội, coi quyền con
người là bất biến, không phụ thuộc vào không gian, thời gian, quốc gia, dân
tộc. Quan niệm này cũng phủ nhận tính giai cấp, tính xã hội, tính đặc thù của
quyền con người.
Quan niệm thứ hai đặt con người và quyền con người trong tổng hòa
các mối quan hệ xã hội.
Theo quan niệm này, quyền con người là một giá trị nhân loại. Quyền
con người không phải là một khái niệm trừu tượng, cũng không chỉ mang tính
tự nhiên bẩm sinh mà luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột,
chống bất công trong xã hội, chịu sự giới hạn của chế độ kinh tế và nhất là
của chế độ chính trị, xã hội. Tính đúng đắn của quan niệm này là ở chỗ đã coi
quyền con người là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con người trong tổng
hòa các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm con người là thực
thể xã hội, quyền con người chỉ là quyền lợi của người với tư cách là thành
viên xã hội thì cũng là phiến diện bởi vì như thế sẽ dẫn đến phủ nhận quyền
con người với tư cách là con người. Từ đó sẽ dẫn đến sai lầm buộc cá nhân
con người phải hòa tan trong xã hội, quyền con người hoàn toàn phụ thuộc và
được định đọat bởi nhà nước. Quan niệm này cũng dẫn đến quan điểm coi
quyền con người chỉ là vấn đề của mỗi quốc gia, không thừa nhận tính phổ
biến của quyền con người.
6
Quan điểm biện chứng của học thuyết Mác - Lênin đã khắc phục được
tính phiến diện trong nhận thức về con người và quyền con người ở các quan
niệm nêu trên.
Học thuyết Mác - Lênin xem xét con người với tư cách là sản phẩm của
tự nhiên và xã hội. Con người là một thực thể tự nhiên nhưng là một thực thể
tự nhiên con người trong cộng đồng xã hội. Trong cái tự nhiên của con người

- Quyền con người vừa có tính phổ biến vừa có tính riêng biệt, đặc thù. Tính
phổ biến thể hiện ở chỗ quyền con người là những giá trị chung, phổ biến
cho tất cả mọi người không phân biệt quốc tịch, dân tộc, giới tính, giai cấp,
địa vị xã hội phản ánh nhu cầu tự nhiên khách quan của con người. Tính
riêng biệt, đặc thù thể hiện ở chỗ quyền con người là những giá trị đặc thù,
riêng có ở mỗi quốc gia, dân tộc do điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống,
văn hóa, đạo đức của quốc gia đó qui định và bị hạn chế bởi các chế định
pháp lý và đời sống thực tế.
- Quyền con người vừa có tính nhân loại vừa có tính giai cấp. Trong xã hội
còn giai cấp và đấu tranh giai cấp thì quyền và tự do của con người luôn
luôn bị chi phối bởi chính thiết chế tổ chức, chế độ chính trị - xã hội của xã
hội. Mỗi chế độ xã hội trong lịch sử mặc dù in đậm dấu ấn giai cấp trong
vấn đề quyền con người nhưng đều phải thừa nhận những giá trị phổ biến
nhất định của quyền con người và dù muốn dù không cũng đều phải thực
hiện một phần ít hoặc nhiều về quyền con người. Như vậy, trong tư duy
nhân loại về quyền con người thì nội dung của nó tất yếu có hai yếu tố cơ
bản: một là, những nhu cầu, khát vọng và khả năng của con người; hai là,
8
những nhu cầu khát vọng ấy phải được chế độ xã hội và nhà nước, pháp
luật thừa nhận.
- Quyền con người vừa là quyền bình đẳng đối với mọi người, vừa là quyền
ưu tiên đối với những nhóm, giới, những bộ phận nhất định trong xã hội.
Trong xã hội không thể có sự bình quân về quyền như nhau bởi vì mỗi con
người có khả năng khác nhau về trí tuệ, thể chất, hoàn cảnh .v.v. do đó, họ
không thể có khả năng như nhau trong việc thực hiện hay hưởng thụ quyền.
- Quyền con người là một phạm trù pháp lý vì vậy nó gắn liền với một pháp
luật cụ thể, phải được thể hiện trong pháp luật, được pháp luật ghi nhận và
bảo vệ. Quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, là
những đặc quyền vốn có nhưng tự bản thân chúng chưa phải là quyền mà
chúng phải được đặt trong mối quan hệ xã hội và cộng đồng xã hội cùng

Tóm lại, nhận thức khái niệm quyền con người với đầy đủ bản chất,
thuộc tính của nó như trên cho thấy đây là một khái niệm rất phức tạp và cho
đến nay giữa các nhà khoa học - luật gia trong và ngoài nước vẫn còn nhiều
cách hiểu khác nhau về khái niệm quyền con người. Quyền con người là một
phạm trù tổng hợp, vừa là chuẩn mực tuyệt đối mang tính phổ biến, vừa là sản
phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát
triển, quyền con người không thể tách rời, đồng thời cũng không hoàn toàn
phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời quyền con
người là một tổng thể những quyền gắn bó với nhau trong mối quan hệ biện
chứng. Quyền con người, “Đó là quyền cá nhân và quyền của dân tộc cộng
đồng, quyền chính trị - dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền của cá nhân
đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội ” [29]. Trong thời đại ngày nay, quyền con
người không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển.
10
Theo PGS. TS. Nguyễn Đăng Dung, quyền con người:
Đó là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự
nhiên gắn bó mật thiết với con người - một động vật cao cấp có lý
trí, và có tình cảm làm cho con người khác với các động vật khác,
mà nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng
bậc nhất của mình là phải bảo vệ những quyền đó. [7, tr.112]
GS. TS. Trần Ngọc Đường đã viết: “Quan niệm nhân quyền vừa khẳng
định cơ sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyền, đồng thời cũng thừa nhận
thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con người thuộc một
quốc gia, một dân tộc.” [12]
PGS. TS. Nguyễn Văn Động đưa ra một số nhận xét chung về quyền
con người như sau:
a) Là những giá trị quý báu được thừa nhận chung bởi toàn thế giới,
đồng thời gắn bó chặt chẽ với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá
nhân, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và cả cộng đồng quốc tế;
b) Trực tiếp liên quan tới các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh

kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền thừa kế, quyền học
tập, phát minh, sáng chế, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được bảo
hộ hôn nhân gia đình, những quyền mang tính chất ưu tiên như: quyền
trẻ em, quyền người già, người cô đơn không nơi nương tựa .v.v.
Nội dung quyền con người đã được cộng đồng quốc tế ngày càng nhận
thức đầy đủ và toàn diện, được phát triển và cụ thể hóa trong các Tuyên bố và
Công ước quốc tế về quyền con người. Đây chính là căn cứ quan trọng nhất
làm cho các quyền con người được tôn trọng và bảo vệ, trở thành chuẩn mực
12
chung trong việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân cho từng quốc
gia. Việc ghi nhận và đảm bảo quyền công dân trong hệ thống pháp luật của
mỗi quốc gia chính là thể hiện việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người.
1.1.2. Khái niệm đảm bảo pháp lý về quyền con người
Theo cách phân biệt giữa quyền con người và vấn đề đảm bảo pháp lý
về quyền con người thì khái niệm đảm bảo pháp lý về quyền con người là sự
ghi nhận về mặt lập pháp, thực thi về mặt hành pháp và bảo vệ về mặt tư pháp
của các quốc gia, các thể chế và chế độ chính trị nhất định.
Theo nhận thức chung, đảm bảo pháp lý cho các quyền con người mà
phần quan trọng trong đó là các quyền hiến định của công dân là điều kiện,
môi trường pháp lý thuận lợi do pháp luật tạo ra trên cơ sở hệ chính trị - pháp
lý tiến bộ, để công dân vừa thực sự được hưởng quyền vừa sử dụng đúng
quyền mà hiến pháp đã qui định.
Đảm bảo pháp lý là khái niệm mà nội dung của nó bao quát gần như
toàn bộ đời sống pháp luật của nhà nước và xã hội, trong đó gồm các yếu tố
quan trọng như: qui định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của chủ thể pháp luật
và thủ tục, trình tự thực hiện quyền, nghĩa vụ đó; chủ thể pháp luật mang
quyền, nghĩa vụ pháp lý; hoạt động của chủ thể pháp luật nhằm thực hiện
quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình, yếu tố hệ tư tưởng chính trị - pháp lý của
giai cấp công nhân, văn hóa pháp lý và hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giải
thích, giáo dục pháp luật. Ở cấp độ cụ thể, đảm bảo pháp lý có thể được xem

Năm là, luôn đáp ứng kịp thời, nhanh nhạy những đòi hỏi chính đáng,
nhu cầu thiết yếu, cấp bách về mặt xã hội của con người trong xã hội đang
biến đổi nhanh chóng và phát triển không ngừng, có tính tới khả năng thực tế
của đất nước.
14
Sáu là, luôn phù hợp với các Điều ước quốc tế về quyền con người mà
Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Pháp luật có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện và bảo vệ
quyền con người nhưng để phát huy vai trò quan trọng đó, phải thể chế hóa
quyền con người thành các qui định cụ thể trong hệ thống pháp luật và có cơ
chế bảo đảm cho các qui định đó được thực hiện trên thực tế. Thể chế hóa
quyền con người trong hệ thống pháp luật là tổng hợp các nhiệm vụ: cụ thể
hóa quyền con người thành các quyền, nghĩa vụ cụ thể của công dân và những
người không phải là công dân (người nước ngoài, người không quốc tịch)
hoặc những người đang bị tước quyền công dân; qui định hình thức, biện
pháp xử lý hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân; qui định về tổ
chức, họat động của bộ máy nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
các cơ quan, tổ chức và cán bộ công chức nhà nước liên quan đến việc thực
hiện và bảo vệ quyền con người; xây dựng hệ thống các thủ tục tố tụng; cụ thể
hóa Công ước quốc tế về quyền con người đã tham gia, ký kết.v.v. Có thể
nhận thức rằng quá trình thể chế hóa quyền con người, xây dựng các thiết chế
bảo đảm thực hiện nó trong hệ thống pháp luật cũng chính là quá trình xây
dựng đảm bảo pháp lý về quyền con người. Toàn bộ quá trình trên tạo thành
đảm bảo pháp lý về quyền con người.
Từ sự phân tích nêu trên, đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người
được hiểu là: hệ thống các qui định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công
dân gắn với các thiết chế bảo đảm thực hiện nó trong hệ thống pháp luật và cơ
chế bảo đảm cho các qui định và thiết chế đó được thực hiện trên thực tế.
1.2. Cơ cấu và nội dung của đảm bảo pháp lý về quyền con người
Theo khái niệm trên thì đảm bảo pháp lý về quyền con người có cơ cấu

quyền con người và được thể hiện trong lịch sử lập hiến của mỗi quốc gia
cũng như lịch sử phát triển của các Công ước quốc tế về quyền con người.
Chỉ có thông qua pháp luật, quyền con người mới được xã hội thừa nhận và
bảo vệ, giá trị xã hội của quyền con người mới được ghi nhận một cách đầy
đủ và toàn diện.
Thứ hai, pháp luật là công cụ sắc bén của nhà nước trong việc thực hiện
và bảo vệ quyền con người. Pháp luật là công cụ của nhà nước, có tính bắt
buộc chung đối với toàn xã hội và với mọi cá nhân sống trong xã hội. Vì thế,
những qui định về quyền con người, quyền công dân cùng với những thiết chế
nhằm thực hiện, bảo vệ nó trong hiến pháp và pháp luật cũng bắt buộc mọi
thành viên trong xã hội, kể cả các cơ quan, tổ chức nhà nước, cán bộ công
chức nhà nước phải nghiêm chỉnh thi hành. Mặt khác, tính sắc bén của pháp
luật trong việc thực hiện, bảo vệ quyền con người còn thể hiện ở chỗ các qui
định về quyền con người trong pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng bộ
máy nhà nước, khi cần thiết nhà nước có thể sử dụng những biện pháp giáo
dục, thuyết phục hoặc nặng hơn là các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo cho
quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của công dân được thực hiện và bảo vệ.
Thêm vào đó, nhờ có hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật mà mọi hành vi vi
phạm quyền con người, quyền công dân đều bị phát hiện và xử lý kịp thời.
Như vậy, thông qua pháp luật và nhờ những thuộc tính của pháp luật,
quyền con người được đảm bảo thực hiện một cách nhanh chóng, có hiệu quả
và trên qui mô toàn xã hội. Có thể khẳng định rằng, sẽ không có một công cụ,
phương tiện nào có được các lợi thế như pháp luật trong việc tổ chức, quản lý
xã hội cũng như trong vấn đề thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền
công dân.
17
Thứ ba, pháp luật tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật là đại lượng mang giá trị phổ
biến, là chuẩn mực của sự công bằng, là cơ sở để đo hành vi của mọi người,
mọi cơ quan, tổ chức, công chức nhà nước và là căn cứ để công dân đánh giá

là cơ sở pháp lý để xây dựng một xã hội có cơ cấu tổ chức và chế độ chính trị
hướng đích tôn trọng quyền con người, đảm bảo thực hiện và bảo vệ quyền
con người. “Nhân quyền chiếm một vị trí quan trọng trong Hiến pháp của mỗi
quốc gia. Vì xét cho cùng, việc Hiến pháp qui định việc tổ chức nhà nước
theo mô hình, thể thức nhất định cũng là để nhằm đảm bảo nhân quyền” [7,
tr.114].
Phát triển kinh tế là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo
thực hiện quyền con người. Tuy nhiên, phát triển kinh tế cũng cần phải có
đường lối, chính sách, cơ chế quản lý phù hợp và phải được cụ thể hóa trong
pháp luật. Pháp luật tạo khuôn khổ, hành lang pháp lý và môi trường pháp lý
thuận lợi cho tất cả họat động sản xuất, kinh doanh, đồng thời đảm bảo cho
nền kinh tế phát triển theo con đường đã định sẵn, hạn chế các mặt tiêu cực
của cơ chế. Bên cạnh đó, pháp luật cũng gắn việc phát triển kinh tế với việc
thực hiện các chính sách xã hội, bảo vệ môi trường.v.v. và đặc biệt là ngay
trong quá trình phát triển kinh tế, những nội dung quyền con người về kinh tế
cũng đòi hỏi phải được qui định và đảm bảo bằng pháp luật.
Ngoài mối quan hệ giữa pháp luật với các điều kiện chính trị, kinh tế kể
trên, mối quan hệ pháp luật - văn hóa giáo dục cũng cần được chú ý trong
việc đảm bảo thực hiện quyền con người. Đường lối phát triển văn hóa giáo
dục của mỗi quốc gia được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật nhằm bảo
đảm cho con người phát triển tự do và toàn diện về mặt thể chất và tinh thần.
19
Pháp luật tạo khuôn khổ, môi trường văn hóa tiên tiến nhưng vẫn đậm đà bản
sắc dân tộc bằng cách vừa giữ gìn văn hóa truyền thống vừa tiếp thu văn minh
nhân loại để tạo điều kiện cho công dân được tiếp xúc, nghiên cứu, học tập,
nâng cao tri thức của bản thân. Mặt khác, pháp luật còn có vai trò giáo dục
mạnh mẽ đối với mọi thành viên trong xã hội, hình thành văn hóa pháp lý ở
mỗi công dân, làm cho mọi người biết sống và làm việc theo pháp luật.
Thứ năm, pháp luật là phương tiện thực hiện sự cam kết và hòa nhập
giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đảm bảo thực hiện quyền con

các quyền con người, quyền công dân được chia thành năm nhóm tương ứng
với năm lĩnh vực quan hệ xã hội cơ bản mà Hiến pháp điều chỉnh là: chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Nhóm một - Các quyền về chính trị, gồm: Quyền tham gia quản lý Nhà
nước và xã hội, thảo luận các vấn đề chung của cả Nhà nước và địa phương,
kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tố chức trưng cầu ý
dân (Điều 53); bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước theo
qui định của pháp luật (Điều 54); khiếu nại, tố cáo với các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền về những việc làm sai trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân
nào (Điều 74).
Nhóm hai - Các quyền về dân sự, gồm: Quyền tự do đi lại và cư trú ở
trong nước, ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo qui định của pháp
luật (Điều 68); tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập
hội, biểu tình theo qui định của pháp luật (Điều 69); tự do tín ngưỡng, tôn
giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 70); bất khả xâm phạm về
danh dự, nhân phẩm (Đièu 71); bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 73); được
21
đảm bảo an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín (Điều 73); thừa kế
hợp pháp (Điều 58).
Nhóm ba - Các quyền về kinh tế, gồm: Quyền lao động (Điều 55); tự do
kinh doanh theo qui định của pháp luật (Điều 57); sở hữu về thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản
khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (Điều 58).
Nhóm bốn - Các quyền về văn hóa, gồm: Quyền học tập (Điều 59);
nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sang kiến, cải tiến kỹ
thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia
các hoạt động văn hóa khác, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp (Điều
60).
Nhóm năm - Các quyền về xã hội, gồm: Quyền được sống (Điều 71);

Sự phối hợp trong một thể thống nhất của quyền lực nhà nớc nhằm tránh độc
quyền, lạm dụng quyền lực, nhằm đảm bảo cho quyền lực thực sự là của dân,
do dân và vì dân; đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền của công dân.
Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội. Tuy nhiên, trong quá trình lập pháp
có nhiều cơ quan khác của nhà nớc và tổ chức xã hội cùng tham gia trên cơ sở
thực hiện các thẩm quyền: kiến nghị về dự án luật soạn thảo và trình dự án
luật, thẩm định, thẩm tra, cho ý kiến vào dự án luật. Mục đích của quá trình
lập pháp dân chủ nhằm tạo ra hành lang pháp lý để cân đối giữa bảo vệ các
quyền cơ bản của công dân và nhu cầu quản lý nhà nớc, quản lý xã hội.
Sự tham gia của nhân dân trong lập pháp đợc bảo đảm thực hiện thông
qua hoạt động của cơ quan lập pháp - đồng thời là cơ quan đại biểu cao nhất
23
trong quá trình lập pháp dân chủ. Về khía cạnh chủ động thực hiện quyền
công dân, đó chính là thực hiện Điều 6 Hiến pháp nm 1992 sa i [19]:
Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nớc thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng
của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trớc nhân
dân.
Trong cơ chế pháp lý đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ công
dân, Quốc hội là cơ quan có vị trí cao nhất vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, Quốc hội đợc hình thành một cách dân chủ thông qua chế độ
phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín trên toàn quốc và
quyền ứng cử, một trong những quyền dân sự chính trị quan trọng nhất thuộc
về các công dân. Vì lẽ đó, Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất có vai trò
quan trọng trong cơ chế đảm bảo thực hiện mối quan hệ giữa nhà nớc và công
dân.
Thứ hai, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nớc cao nhất, có nhiệm vụ
và quyền hạn làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật, thực
hiện quyền giám sát tối cao, các quyền quyết định các chính sách quan trọng
của quốc gia, quyết định tổ chức nhà nớc - là những vấn đề quan hệ trực tiếp

của các cơ quan dân cử cũng nh mối quan hệ của những cơ quan này với các
cơ quan khác của nhà nớc.
Cơ quan hành pháp bao gồm Chính phủ và Uỷ ban nhân dân (UBND)
các cấp tạo thành hệ thống các cơ quan chấp hành và hành chính trực tiếp thực
hiện chức năng quản lý nhà nớc. Cơ quan hành pháp thực thi quyền hành
pháp. Quyền hành pháp đợc thực hiện bởi các thẩm quyền: ban hành chính
sách quản lý, ra quyết định quy phạm hành chính bằng hoạt động lập quy, áp
dụng pháp luật bằng việc ra quyết định hành chính cá biệt, cụ thể, thực hiện các
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status