Pháp luật bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THỊ PHƯƠNG NGA PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trịnh Đức Thảo

HÀ NỘI – 2008
81
Mục lục

CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬTBẢO VỆ QUYỀN
TRẺ EM 1
1.1 TRUYỀN THỐNG BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM TRONG LỊCH
SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM 1
1.2 MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN TRONG ĐƢỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƢỚC TA VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM 2
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẶC THÙ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI
TRẺ EM 7
1.3.1 Khái niệm trẻ em và quyền trẻ em trong hệ thống các quyền con ngƣời 7
1.3.1.1 Khái niệm trẻ em trong pháp luật quốc tế 7
1.3.1.2 Khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt nam 9
1.3.2 Khái niệm pháp luật về trẻ em 9

TRẺ EM 52
CHƢƠNG 3 THỰC TRẠNG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ THỰC HIỆN 90
3.1 KHÁI QUÁT NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM Ở
NƢỚC TA 90
3.1.1. Phê chuẩn và nội luật hoá các nguyên tắc của Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em
90
3.1.2 Xây dựng một hệ thống pháp luật tƣơng đối đồng bộ về bảo vệ quyền trẻ em
trong các lĩnh vực quan hệ xã hội 91
3.1.3 Hoạch định và tổ chức thực thi nhiều chƣơng trình hành động quốc gia về chăm
sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em 59
3.2 NHỮNG HẠN CHẾ CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ TRẺ EM 94
3.3 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM VIỆT NAM
TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 61
3.4 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM VIỆT NAM
TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG 101
3.5 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM VIỆT NAM
TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 106
3.5.1 THỰC TRẠNG NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 106
3.5.2 TÌNH HÌNH TRẺ EM BỊ TỘI PHẠM XÂM HẠI 109
3.6 CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG TRẺ EM PHẠM TỘI 113
3.6.1 NHÓM NGUYÊN NHÂN XUẤT PHÁT TỪ GIA ĐÌNH 73
3.6.2 NHÓM NGUYÊN NHÂN XUẤT PHÁT TỪ NHÀ TRƢỜNG 116
3.6.3 NHÓM NGUYÊN NHÂN XUẤT PHÁT TỪ XÃ HỘI 117
3.6.4 SỰ BẤT CẬP TRONG HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
QUYỀN TRẺ EM VÀ HỆ THỐNG CƠ QUAN BẢO VỆ PHÁP LUẬT 120
3.7 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM 121
3.7.1 NHỮNG NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU CHỦ YẾU TRONG CHIẾN LƢỢC CHĂM

1
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM

1.1 TRUYỀN THỐNG BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM
TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM

Dân tộc ta từ ngàn xưa đã có truyền thống coi trọng gia đình, thương yêu,
tôn trọng trẻ em. Truyền thống đó đã đi vào ca dao, tục ngữ và cả trong pháp luật,
từ xa xưa ông cha ta đã có câu “con hơn cha là nhà có phúc”, hay “dạy con từ
thuở còn thơ”. Tuy cuộc sống đầy khó khăn, vất vả song các bậc cha mẹ, ông bà
đều dành cho trẻ em một sự quan tâm đặc biệt.
Ngược dòng thời gian, chúng ta bắt gặp một sự quan tâm, ưu ái đặc biệt đối
với trẻ em trong bối cảnh một xã hội phong kiến. Bộ Luật Hồng Đức dưới triều
đại vua Lê Thánh Tông, một trong những bộ luật tầm cỡ thế giới với nhiều quy
định pháp lý tiến bộ, mang đậm tính nhân văn và đạt trình độ cao về kỹ thuật pháp
lý là một minh chứng sống cho truyền thống quý báu này.
Quốc triều hình luật là một bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất trong lịch sử
nhà nước pháp luật phong kiến Việt nam. Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến
bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp lý hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời;
có những điểm tiếp cận với kỹ thuật pháp lý hiện đại [1], làm cho nhiều nhà
nghiên cứu đã "đi từ sự ngạc nhiên này đến sự ngạc nhiên khác"[2].
Điều 16 Bộ Luật Hồng Đức quy định: “những người từ 15 tuổi trở xuống,
phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc bằng tiền, phạm tội thập ác thì không
theo luật này; trẻ em từ 10 tuổi trở xuống phạm tội phản nghịch, giết người đáng
phải tội chết thì cũng phải tâu để Vua xét định, ăn trộm và đánh người bị thương

mà bán, thì người chồng sau, người viết thay văn tự và người chứng kiến đều xử
phạt 60 trượng, biếm 2 tư. Người biết sự việc mà cứ mua thì xử phạt 80 trượng và
mất số tiền mua, ruộng phải trả lại cho con. Vợ sau mà bán điền sản của con vợ
trước thì cũng xử tội như thế”.
Một số ví dụ về các quy định trong Bộ Luật Hồng Đức đã cho thấy tính
nhân văn của bộ luật và truyền thống của dân tộc được thể hiện trong bộ luật về

3
bảo vệ trẻ em. Đương nhiên, chúng ta không thể đặt vấn đề so sánh với pháp luật
hiện đại bởi “mọi sự so sánh đều khập khiễng”, song có thể nói, hiếm có một bộ
luật nào vào thời bấy giờ trên thế giới lại có thể quy định về bảo vệ và chăm sóc
trẻ em nhiều và sâu sắc, tiến bộ đến như vậy. Mặc dù pháp luật phong kiến chủ
yếu bảo vệ tầng lớp địa chủ, áp bức nông dân với những điều luật và hình phạt hà
khắc song vẫn có những quy định mang đậm tính nhân văn, bảo vệ trẻ em trong
một bối cảnh xã hội hết sức đói nghèo và lạc hậu.
Chúng ta ngày nay nên học tập kinh nghiệm quý báu của người xưa “trong
việc qui định trách nhiệm pháp lý giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là
trách nhiệm pháp lý của cha mẹ đối với con cái; kết hợp giáo dục đạo đức với
giáo dục pháp luật trong các môi trường: gia đình, đoàn thể, cộng đồng dân cư
và xã hội”[3].

1.2 MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN TRONG ĐƢỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA
ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC TA VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC
TRẺ EM
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một truyền thống và đường lối nhất
quán, xuyên suốt trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước ta. Đường lối của
Đảng về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được thể hiện rất rõ nét, sinh
động, thấm đượm chủ nghĩa nhân văn và phát triển phù hợp xu hướng của thế
giới hiện đại. Điều đó đã được khẳng định ngay từ ngày đầu mới thành lập (3-2-
1930) dù trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, Đảng ta vẫn giành mối quan tâm

tưởng xã hội chủ nghĩa"
Từ đó đi đến việc phải "trồng người" - phải giáo dục, rèn luyện ngay từ khi
còn nhỏ.
"Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến trẻ em, Người đã
từng viết trong di chúc rằng: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho
các cháu thanh niên và nhi đồng”. Với cả cuộc đời đi làm cách mạng, phục vụ tổ
quốc, đồng bào, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không quên truyền bá tư tưởng bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vì “ngày nay các cháu là nhi đồng, ngày sau các
cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại
cho dân tộc ta một di sản tư tưởng vô cùng quý báu trong đó có những quan điểm
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Điều này đã được thể hiện ngay trong

5
chương trình Việt Minh mang dấu ấn rất đậm nét, đặc thù của tư tưởng Hồ Chí
Minh, một nhà lãnh tụ cách mạng, nhà văn hoá lớn của dân tộc và thời đại.
Tư tưởng nhân văn, phát triển đối với trẻ em nói chung và quyền trẻ em
nói riêng đã được cương lĩnh hoá trong chương trình Việt Minh và sau đó Cách
mạng tháng Tám thành công đã được thể chế hoá trong đạo luật cơ bản đầu tiên
là Hiến pháp năm 1946. Điều này được minh chứng qua những quy định mang
tính pháp lý cao nhất lúc bấy giờ là Hiến pháp năm 1946 có ghi rằng “Nền sơ học
cưỡng bách và không học phí, ở các trường sơ học địa phương quốc dân thiểu số
có quyền học bằng tiếng của mình; Học trò nghèo được Chính phủ giúp” (Điều
15, Hiến pháp 1946)
Đến bản Hiến pháp lần thứ hai ra đời 1959 đã quy định và là một minh
chứng cho sự nhất quán về đường lối, chính sách trong vấn đề về trẻ em của Đảng
ta. Từ những năm 1960, Đảng ta đã có nhiều chính sách về toàn dân bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng ngay cả trong thời kỳ đất nước còn chiến
tranh, hai miền chia cắt.

đã thể hiện một nhân sinh quan, một nhận thức toàn diện đối với vấn đề trẻ em
trong các vấn đề xã hội.
Với quan điểm coi quyền trẻ em là một bộ phận quan trọng của quyền con
người, Hiến pháp 1992 đã thể hiện việc đặt mối quan hệ quyền trẻ em với quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân, với quyền con người. Trong số 34 điều (từ điều
49 đến điều 82) của chương V "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân", có đến
25 điều quy định các quyền cơ bản của công dân trực tiếp hay gián tiếp có liên
quan đến quyền trẻ em, vì bản thân trẻ em cũng là công dân. Điều 65 của Hiến
pháp trịnh trọng tuyên bố: "Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục". Đầu tư cho sự nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em cũng là đầu
tư cho tương lai. Hiến pháp đã gắn nhu cầu chăm sóc trẻ em bên cạnh nhu cầu
chăm sóc người mẹ, Điều 40 quy định: "Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân
có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em".
Về phương diện mối quan hệ giữa người mẹ và trẻ, điều 63 Hiến pháp đã
quy định: "Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức có
quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định
của pháp luật nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi,
nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm gánh nặng gia đình, tạo điều
kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn

7
bổn phận của người mẹ". Điều 41 quy định: "Nhà nước quy định chế độ giáo dục
thể chất bắt buộc trong trường học". Điều 35 quy định: "Giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu ", "Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các
nguồn đầu tư khác" (điều 36). Quyền học tập: bậc tiểu học là bắt buộc, không
phải trả học phí. "Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình
thức". Điều 59 quy định: "nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật
được học tập văn hoá và học nghề phù hợp. Học sinh có năng khiếu được nhà
nước và xã hội tạo điều kiện học tập và phát triển tài năng" (điều 59). Điều 67
quy định về chính sách của nhà nước đối với những người thuộc các đối tượng

trong các Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em trên nhiều lĩnh vực như y tế,
giáo dục, dinh dưỡng, văn hoá Với sự ra đời của Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban
bí thư Trung ương Đảng khoá VII (30.5.1994) về việc thực hiện luật bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em và Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Chương trình hành
động quốc gia vì trẻ em 1991- 2000 đã đạt được nhiều kết quả tốt.
Đường lối về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em tiếp tục được thể hiện
trong các văn kiện của Đảng tại các Đại hội đại biểu toàn quốc của Ban chấp hành
Trung ương Đảng. Văn kiện tiếp tục nhất quán tư tưởng xuyên suốt qua các thời
kỳ đại hội về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, xác định sự nghiệp này vào vị
trí ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nội dung chủ yếu trong đường lối bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
của Đảng và nhà nước ta được thể hiện trên mọi lĩnh vực, là trách nhiệm của mỗi
gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Trẻ em phải được chăm sóc và bảo vệ những
quyền tối thiểu cơ bản như quyền sống, tồn tại, phát triển, được bày tỏ ý kiến…
Đó là những quyền tự nhiên của con người đặc biệt trẻ em lại là những người
chưa trưởng thành nên việc đảm bảo những quyền tối thiểu cơ bản trên cho trẻ em
là đạo lý truyền thống không chỉ của riêng quốc gia, dân tộc nào mà là đạo lý của
nhân loại. Toàn xã hội cần phải dành ưu tiên cho trẻ em. Sự ưu tiên của người lớn
được thể hiện ở việc người lớn phải có nghĩa vụ đáp ứng những nhu cầu cần thiết
cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em trong những điều kiện có thể. Sự ưu tiên
cho trẻ em cần phải được thực hiện từ trong gia đình cho đến cộng đồng và toàn
xã hội. Sự ưu tiên này được thể hiện trong việc hoạch định chính sách, xây dựng
pháp luật, ở sự lồng ghép các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
với vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em[39]. Mục đích là để tạo điều kiện

9
để trẻ em có thể thông qua những hành vi tích cực của người lớn có thể hưởng các
dịch vụ tốt nhất về y tế, văn hoá, thể thao… một cách bình đẳng.
Xã hội cần đảm bảo cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành
mạnh, phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ và đạo đức, giảm nhanh tỉ lệ trẻ em

trẻ em chưa được đặt ra trong pháp luật. Nguyên nhân của sự ghi nhận chậm trễ
này là do đơn giản quan niệm trẻ em là tài sản riêng của các bậc cha mẹ nhất là ở
các nước phương Đông với quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và “con
không nghe cha mẹ trăm đường con hư”.
Năm 1923 Hiến chương về quyền trẻ em được thông qua. Ngày
26/09/1924 Hội Quốc liên (tổ chức tiền thân của Liên Hợp Quốc ngày nay) đã
thông qua Tuyên ngôn Giơnevơ 1924 về quyền trẻ em do hiệp hội quốc tế các
quỹ cứu trợ trẻ em khởi thảo dựa trên cơ sở Hiến chương về quyền trẻ em năm
1923. Kể từ đây, quyền trẻ em đã trở thành một khái niệm được khẳng định và
thừa nhận.
Năm 1978 Ba lan đề xuất là cộng đồng quốc tế phải có một văn kiện quốc
tế hoàn chỉnh, mang đầy đủ tính chất pháp lý làm nền tảng cho việc bảo vệ quyền
trẻ em, ràng buộc các quốc gia thành viên vào trách nhiệm cụ thể để thay thế
Tuyên ngôn vì Tuyên ngôn chỉ là “luật mềm”, không phải là văn bản mang tính
ràng buộc và không áp đặt những nghĩa vụ cụ thể nào với các quốc gia thành
viên. Việc bảo vệ quyền trẻ em đòi hỏi phải có một khuôn khổ, một chuẩn mực
được cộng đồng quốc tế đồng ý.
Đề xuất của Ba lan đã được Liên hợp quốc chấp thuận và sau 10 năm soạn
thảo, Công ước được Liên hiệp quốc chính thức thông qua ngày 20/11/1989, ngày
26/01/1990 Công ước được mở cho các nước ký và phê chuẩn. Tại lễ ký ở Liên
hiệp quốc, đại diện 60 nước đã ký vào văn bản cam kết rằng Chính phủ họ sẽ phê
chuẩn phù hợp với Hiến pháp của từng nước. Công ước có hiệu lực là luật quốc tế
vào ngày 02/09/1990.
Ngay tại điều 1 của Công ước về quyền trẻ em đã xác định rõ: “trong
phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp
pháp luật áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn”.
Như vậy, trong công ước về quyền trẻ em, trẻ em được xác định là người
dưới 18 tuổi (trừ khi luật pháp quốc gia quy định độ tuổi sớm hơn). Các văn bản
pháp luật quốc tế khác như: Quy tắc Bắc Kinh, Hướng dẫn Riát và Quy tắc của
Liên hiệp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thường sử

em trong pháp luật quốc tế. Từ những quy định trong pháp luật hiện hành, có thể
đưa ra khái niệm của pháp luật quốc gia về trẻ em như sau: Trẻ em là công dân

12
Việt Nam dưới 18 tuổi. Khái niệm này cho phép kết hợp được cả theo quy định
của công ước quốc tế và các quy định của pháp luật trong nước.

1.3.2 Khái niệm pháp luật về trẻ em
Từ lý luận chung về điều chỉnh pháp luật, có thể nêu một khái niệm chung
về pháp luật về trẻ em như sau. Pháp luật về trẻ em là tổng thể các quy định pháp
luật do nhà nước ban hành trên cơ sở khách quan của đời sống xã hội, được đảm
bảo thực hiện bằng các biện pháp của nhà nước và xã hội, nhằm điều chỉnh những
quan hệ xã hội liên quan đến trẻ em.
Xét một cách phổ quát nhất, sự điều chỉnh pháp luật về trẻ em là một bộ
phận cấu thành trong hệ thống pháp luật quốc gia nên nó cũng có những đặc trưng
chung như các lĩnh vực điều chỉnh pháp luật khác, đồng thời pháp luật về trẻ em
lại có nhiều đặc thù riêng xuất phát từ chính bản thân đối tượng này và những yếu
tố xã hội khách quan tác động đến [8].
Một khái niệm cần làm rõ nữa là địa vị pháp lý của trẻ em. Địa vị pháp lý
của trẻ em đó là tổng thể các quyền và nghĩa vụ - bổn phận pháp lý của trẻ em
cùng với những đảm bảo pháp lý thực hiện. Địa vị pháp lý của trẻ em thể hiện bản
chất nhà nước và xã hội cùng những điều kiện kinh tế, văn hoá, đạo đức xã hội và
của nhân loại. Trong từng lĩnh vực pháp luật, địa vị pháp lý của trẻ em lại có
những biểu hiện đặc thù. Chẳng hạn, trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia
đình, địa vị pháp lý của trẻ em được thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ - bổn phận
của trẻ em với tư cách là thành viên trong đại gia đình. Trong lĩnh vực pháp luật
tố tụng hình sự - trẻ em với tư cách là bị can, bị cáo có những quyền tố tụng để họ
tự bảo vệ quyền lợi của mình.

1.3.3 Một số đặc thù cơ bản của pháp luật về trẻ em

Có thể chỉ ra những biểu hiện cơ bản như: theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em,
trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ và vì thế cần được bảo vệ và chăm sóc
đặc biệt kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời.
Hiến pháp đã gắn nhu cầu chăm sóc trẻ em bên cạnh nhu cầu chăm sóc người mẹ,
Điều 40 quy định: "Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo
vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em". Điều 63 Hiến pháp đã quy định: "Lao động nữ có
quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức có quyền nghỉ trước và sau khi
sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật nhà nước và
xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi

14
xã hội khác để giảm gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công
tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ".
Xuất phát từ thực tế xã hội hiện nay, sự điều chỉnh pháp luật về trẻ em ngày
càng mang tính toàn diện, cụ thể phù hợp với các loại đối tượng trẻ em. Trong
nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, sự điều chỉnh pháp luật đã
cụ thể hoá theo 8 loại đối tượng chính như: trẻ em mồ côi không nơi nương tựa,
trẻ em tàn tật, trẻ em lang thang, trẻ em bị lạm dụng tình dục; trẻ em lao động làm
thuê; trẻ em nghiện hút vv
Tiếp đến là sự tác động to lớn của các yếu tố phong tục, tập quán, đạo đức,
truyền thống văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng đến pháp luật về trẻ em ở nước ta
[8;15]. Điều này được thể hiện trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của trẻ
em đối với các thành viên gia đình và ngược lại. Pháp luật bao giờ cũng dành một
sự lưu ý đặc biệt đến mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán trong việc giải quyết
các quan hệ hôn nhân - gia đình. Như trong việc đặt tên, họ cho đứa trẻ, trong việc
giải quyết các quan hệ tài sản, thừa kế, quan hệ nhân thân vv… Đồng thời một yếu
tố nữa rất quan trọng tác động đến đó là các quy định pháp luật về phụ nữ và việc
thực hiện chúng luôn chịu sự quy định, tác động của các yếu tố như: vị trí, vai trò
gia đình trong xã hội, những quan niệm, tư tưởng chính thống và bất thành văn đối
với con cái, con trai con gái; những cách ứng xử truyền thống, các giá trị đạo đức

- Nhóm quyền về xã hội gồm các quyền được chăm sóc sức khoẻ, được bảo
vệ khỏi sự bóc lột trong lao động, quyền được làm con nuôi
- Nhóm quyền về văn hoá bao gồm quyền được học tập, quyền thông tin,
tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ
Hệ thống các quyền trẻ em được xác lập trong pháp luật bao gồm:
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch, quyền được xác định cha mẹ và
chung sống với cha mẹ;
- Quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng;
- Quyền được lắng nghe ý kiến;
- Quyền được Nhà nước, xã hội tôn trọng và pháp luật bảo vệ;
- Quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ;
- Quyền được học tập;
- Quyền được vui chơi, giải trí lành mạnh, được học tập văn hoá, văn nghệ,
thể thao và du lịch;
- Quyền được có tài sản, thừa kế và hưởng các chế độ bảo hiểm.

16
Trẻ em không chỉ có quyền mà còn phải gánh vác cả nghĩa vụ song pháp
luật Việt nam xác định trẻ em là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt, vì vậy đối
với trẻ em pháp luật không sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ” mà dùng thuật ngữ
“bổn phận”, việc sử dụng thuật ngữ “bổn phận” trong một khía cạnh nào đó
cũng bao hàm yếu tố nghĩa vụ nhưng không mang tính bắt buộc như nghĩa vụ.
Tại Điều 13 Luật BVCS&GD trẻ em quy định trẻ em có các bổn phận như sau:
- Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, lễ phép với người lớn,
thương yêu trẻ nhỏ, đoàn kết với bạn bè, giúp đỡ người già yếu, tàn tật, giúp đỡ
gia đình làm những việc vừa sức của mình;
- Chăm chỉ học tập, rèn luyện thân thể, tuân theo nội quy của nhà trường;
- Tôn trọng pháp luật, thực hiện nếp sống văn minh, trật tự công cộng và
an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác;
- Yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ tổ

2. Dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em.
3. Trẻ em có quyền xác lập, bày tỏ các ý kiến riêng của mình và quyền đó
phải được tôn trọng.
4. Những quy định trong pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế có lợi hơn
cho trẻ em so với những điều khoản quy định trong Công ước sẽ được sử
dụng.
Trên cơ sở bốn nguyên tắc cơ bản đã được nêu trên, sự điều chỉnh của Công
ước đối với việc bảo vệ quyền trẻ em bao gồm các quyền sau:
- Quyền được sống, bao gồm quyền của trẻ em được sống và được đáp
ứng những nhu cầu để tồn tại. Các nhu cầu đó gồm: mức sống đủ, có nơi ở và
được chăm sóc sức khoẻ
- Quyền được phát triển nghĩa là trẻ em cần có những điều kiện để phát
triển đầy đủ nhất như: quyền được hưởng giáo dục, vui chơi, tiếp cận thông tin, tự
do tín ngưỡng, tôn giáo
- Quyền được bảo vệ nghĩa là trẻ em phải được bảo vệ chống lại tất cả các
hình thức lạm dụng, sao nhãng và bóc lột. Các quyền này bao gồm những vấn đề
như: Bảo vệ đặc biệt cho trẻ em khỏi nạn tra tấn, lạm dụng khi vi phạm hình sự,
không bị tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang, lao động trẻ em, nghiện ma
tuý và lạm dụng tình dục

18
- Quyền được tham gia nghĩa là cho phép trẻ em đóng một vai trò tích cực
trong cộng đồng và đất nước của các em. Các quyền này bao gồm sự tự do diễn
đạt, bày tỏ quan điểm và ý kiến, được phát biểu trong những vấn đề có liên quan
đến cuộc sống của các em, được tham gia hội đoàn và tụ họp mang tính hoà
bình
Mặc dù có thể tìm thấy nhiều quyền trẻ em trong các văn bản khác xong
công ước này chính là sự pháp điển hoá mang tính chất lịch sử - là cơ sở thúc đẩy
các nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ và thực hiện quyền trẻ em trên toàn thế
giới. Văn kiện pháp lý quốc tế này đã đưa ra khái niệm định nghĩa thống nhất về

Công ước coi trọng vai trò của gia đình - xã hội và môi trường tự nhiên
cho sự phát triển và cuộc sống hạnh phúc của trẻ em. Thực hiện quyền trẻ em
không có nghĩa là gây ra sự mâu thuẫn hay đụng độ giữa trẻ em với gia đình, bố
mẹ.
Trước thực tiễn về nạn đại dịch AIDS đang hoành hoành, lần đầu tiên
trong một công ước quốc tế đã đề cập đến nhiều trẻ em cần được bảo vệ. Đó là
những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như: trẻ em tàn tật, trẻ em mại dâm,
trẻ em trong chiến tranh và xung đột vũ trang Các thách thức hay những vấn đề
cấp bách mà trẻ em đang gặp phải (lao động cưỡng bức, đại dịch HIV/ AIDS, bị
giết hại, lạm dụng tình dục, buôn bán trẻ em ) đều được công ước đặc biệt quan
tâm.
Lần đầu tiên Công ước đã gắn các quyền dân sự và chính trị với các quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá. Việc thông qua công ước thực sự đã khẳng định địa vị
của trẻ em trên khắp thế giới. Xác định trẻ em là chủ thể của các quyền, đối tượng
cần sự thương hại, cứu trợ và lòng từ thiện thuần tuý.
Công ước là một công cụ hữu hiệu giúp các tổ chức quốc tế và các nước
cấp viện trở đúng đắn, tích cực và đúng đối tượng. Đây không còn là vấn đề nhân
đạo hay từ thiện mà là trách nhiệm mang tính pháp lý.
Nhìn vấn đề một cách tổng thể có 4 nhóm quyền cơ bản của trẻ em:
Quyền dân sự và chính trị của trẻ em gồm các quyền có họ tên và quốc
tịch, quyền được tự do biểu đạt và giao kết, quyền được hưởng an toàn xã hội,
được bảo vệ không bị tra tấn hoặc bị đối xử tàn tệ
Các quyền kinh tế của trẻ em gồm các quyền được có mức sống đủ để phát
triển, được bảo vệ để khỏi bị bóc lột trong công việc

20
Các quyền xã hội của trẻ em gồm các quyền được hưởng sự chăm sóc sức
khoẻ cao nhất và các dịch vụ chữa bệnh, được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt nếu
bị tàn tật, được bảo vệ khỏi bị bóc lột hay bị lạm dụng tình dục, được làm con
nuôi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status