Quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở việt nam hiện nay (tt) - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
K

DƢƠNG THỊ CẨM HẰNG

QUYỀN ĐƢỢC BẢO ĐẢM BÍ MẬT THÔNG TIN CÁ NHÂN
CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


Công trình đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

TS. Hồ Ngọc Hiển

Phản biện 1:

Phản biện 2:

của NTD trong nhiều văn bản QPPL khác nhau. Tuy nhiên, các quy định về
quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD còn chưa mang tính
hệ thống, các quy định về chế tài xử lý hành vi vi phạm, thẩm quyền xử lý
hành vi vi phạm, trách nhiệm của các chủ th liên quan trong việc bảo vệ bí
mật thông tin cá nhân của NTD… chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu điều
chỉnh, thiết lập trật tự trong quan hệ tiêu dùng giai đoạn hiện tại.
Mặc dù thực tiễn về quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân
của NTD đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách, nhưng cho đến nay, các công
trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về đề tài này vẫn còn khá ít. Với
những lý do trên, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Quyền được bảo

1


đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
ở Việt Nam hiện nay” đ làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, mặc dù chưa c nhiều công trình nghiên cứu có quy
mô lớn về lý luận và thực tiễn thực thi quyền được bảo đảm bí mật thông tin
cá nhân của NTD, nhưng ở phạm vi nhất định, một số tác giả đã đưa ra
những nghiên cứu và đánh giá liên quan đến pháp luật về quyền được bảo
đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD trong các công trình nghiên cứu của
m nh như: luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Hà Thị Thanh với đề tài
“Pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng NTD ở Việt Nam”,thực
hiện năm 2013; khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Phương Hoa với đề tài
“Pháp luật về bảo vệ thông tin NTD ở Việt Nam” thực hiện năm 2015… Bên
cạnh đ , cũng c một số bài báo đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành của một
số tác giả đưa ra những phân tích về một số khía cạnh của quyền được bảo đảm
bí mật thông tin cá nhân của NTD như bài viết “Bảo vệ thông tin cá nhân trong
các giao dịch tiêu dùng” của tác giả Cao Xuân Quảng đăng trên Bản tin cạnh

Trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quyền được bảm đảm
bí mật thông tin cá nhân của NTD, phân tích, đánh giá nội dung cũng như
thực trạng quy định và thực thi các QPPL, tác giả mong muốn đưa ra những
ý kiến đ ng g p nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện
hành và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ
quyền bí mật thông tin cá nhân của NTD.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đ đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải
quyết các nhiệm vụ cụ th sau đây:
Thứ nhất, phân tích một cách chuyên sâu và có hệ thống về cơ sở lý
luận của quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD.
Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định hiện hành
của pháp luật Việt Nam cũng như hiệu quả thực thi các quy định về quyền

3


được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD; liên hệ với pháp luật bảo
vệ quyền lợi NTD của một số quốc gia trên thế giới.
Thứ ba, đưa ra các giải pháp đ hoàn thiện các quy định pháp luật
hiện hành và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật về
quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt
Nam về quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD; thực tiễn
các hành vi vi phạm quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD
và hiệu quả thực thi pháp luật về quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá
nhân của NTD.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

nhân của NTD trong các đạo luật cơ bản cũng như chuyên ngành. Trên cơ
sở các phân tích chuyên sâu, luận văn chỉ ra những bất cập và hạn chế trong
quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận văn đưa ra những ý kiến đ ng g p nhằm
hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền được bảo đảm bí mật thông tin
cá nhân của NTD; những nội dung trong luận văn c th được sử dụng làm
tài liệu tham khảo chuyên ngành.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu làm 03 chương:
Chương 1: Lý luận chung về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng và quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của người tiêu dùng
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt
Nam về quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của người tiêu dùng

5


Chương 3: Giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam về quyền được bảo đảm bí mật thông
tin cá nhân của người tiêu dùng

Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƢỜI TIÊU DÙNG VÀ QUYỀN ĐƢỢC BẢO ĐẢM BÍ MẬT
THÔNG TIN CÁ NHÂN CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG
1.1. Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng và pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng
* Khái niệm người tiêu dùng

Thứ năm, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD có nội dung cơ bản bao
gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của NTD; trách nhiệm và nghĩa vụ
của nhà kinh doanh đối với NTD; ki m soát các điều khoản không công
bằng trong hợp đồng; các hành vi bị nghiêm cấm và phương thức giải quyết
tranh chấp hợp đồng liên quan đến quyền lợi của NTD; vai trò của nhà
nước, các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi NTD.
1.1.3. Vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
Thứ nhất, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là công cụ hữu hiệu đ
đảm bảo cho NTD được sống trong xã hội lành mạnh, an toàn.
Thứ hai, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ra đời góp phần xác lập
mối quan hệ ổn định, bảo đảm sự cân bằng vị thế trong giao dịch dân sự
giữa NTD với các tổ chức, cá nhân kinh doanh, góp phần ổn định trật tự xã
hội, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội.
Thứ ba, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD góp phần thúc đẩy quá
trình hoàn thiện th chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

7


1.2. Lý luận về quyền đƣợc bảo đảm bí mật thông tin cá nhân
của NTD
1.2.1. Khái niệm thông tin cá nhân và quyền được bảo đảm bí
mật thông tin cá nhân của NTD
* Khái niệm thông tin cá nhân
Tại Bộ “Những nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương
mại điện tử” được các Bộ trưởng của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái B nh Dương (APEC) thông qua vào tháng 11 năm 2004 đã đưa ra định
nghĩa: “Thông tin cá nhân là bất kỳ thông tin nào để xác định được hay có
thể xác định được danh tính của một cá nhân cụ thể” [2, tr.14].
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm “thông tin cá nhân”
đã được quy định trong nhiều văn bản QPPL khác nhau. Trong đ , tại

sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ xúc tiến thương mại trên thị trường.
Ghi nhận và bảo vệ quyền được bảo đảm thông tin cá nhân của
NTD góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của NTD, thông qua đ , g p
phần thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, cân bằng sự b nh đẳng trong
quan hệ giữa chủ th kinh doanh và NTD.
1.2.3. Những nội dung cơ bản của pháp luật về quyền được bảo
đảm bí mật thông tin cá nhân của người tiêu dùng
Một là, quy định về trách nhiệm của các chủ th kinh doanh đối với
việc bảo vệ quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD.
Hai là, quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và các tổ chức xã hội đối với việc bảo vệ quyền được bảo đảm bí mật
thông tin cá nhân của NTD.
Ba là, quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, xâm hại đến quyền
được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD.
Bốn là, quy định về các cơ chế giải quyết tranh chấp giữa NTD và
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ liên quan đến việc bảo vệ bí
mật các thông tin cá nhân của NTD.

9


Năm là, quy định về chế tài xử lý đối với các hành vi xâm hại đến
quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của người tiêu dùng.
1.2.4. Ý nghĩa của việc ghi nhận quyền được bảo đảm bí mật
thông tin cá nhân của NTD
Thứ nhất, việc ghi nhận quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá
nhân của NTD góp phần đảm bảo an toàn cho NTD; cân bằng mối quan hệ
giữa nhà kinh doanh và NTD; tạo lập hành lang pháp lý cho các chủ th
tham gia vào quan hệ tiêu dùng thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan
đến việc đảm bảo bí mật thông tin cá nhân của NTD.

Tuy nhiên, đối với việc ghi nhận một cách đầy đủ và trực tiếp nhất
quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD thì văn bản quy định
đầy đủ nhất hiện nay là Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010, trong đ , tại
Khoản 1, Điều 6, văn bản quy phạm này ghi nhận quyền được bảo vệ bí mật
thông tin cá nhân của NTD được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản
của Luật. Cụ th , điều luật này quy định: “NTD được bảo đảm an toàn, bí
mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ,
trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu”.

11


2.1.2. Quy định về trách nhiệm của các chủ thể trong việc đảm
bảo bí mật thông tin cá nhân của NTD
* Quy định về trách nhiệm của chủ thể kinh doanh trong việc đảm
bảo bí mật thông tin cá nhân của NTD
Khoản 2 Điều 6 Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 đã quy định cụ
th trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong
trường hợp thu thập, sử dụng và chuy n giao thông tin của NTD
Trong các văn bản QPPL chuyên ngành, liên quan đến việc bảo
đảm bí mật thông tin cá nhân cho khách hàng nói chung (trong đ bao gồm
NTD) trách nhiệm của các chủ th kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cũng được
quy định khá cụ th , mang tính đặc thù của ngành nghề.
* Quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong
việc đảm bảo bí mật thông tin cá nhân của NTD
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật bảo vệ quyền lợi NTD
năm 2010 th Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ
quyền lợi NTD. Bên cạnh đ , trong các văn bản QPPL chuyên ngành, trách
nhiệm này được phân cấp cho nhiều cơ quan nhà nước cùng tham gia, trong
đ c các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương như Ủy ban

những lợi nhuận rất lớn. Chính vì vậy, có những chủ th mặc dù nhận thức
được tính trái pháp luật trong hành vi của m nh nhưng vẫn bất chấp đ vi
phạm do mục tiêu lợi nhuận.
Về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
quyền lợi NTD hiện nay được trao cho rất nhiều chủ th , bao gồm: Chủ tịch
UBND các cấp, các lực lượng quản lý thị trường và các cơ quan quản lý nhà
nước khác như Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát
bi n và Thanh tra chuyên ngành. Việc mở rộng thẩm quyền cho nhiều chủ
th sẽ tạo điều kiện cho sự tham gia của nhiều lực lượng vào công tác bảo vệ
các quyền lợi n i chung, trong đ c quyền được bảo đảm bí mật thông tin
cho NTD. Tuy nhiên, mặt trái của quy định này là dễ dẫn đến sự chồng chéo

13


về thẩm quyền giải quyết, khiến NTD bị lúng túng khi yêu cầu các cơ quan
chức năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình.
* Về chế tài dân sự
Tùy thuộc vào từng trường hợp mà những chủ th xâm phạm quyền
được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD có th phải gánh chịu
những hậu quả pháp lý bất lợi sau đây:
Một là, buộc chấm dứt hành vi vi phạm.
Hai là, buộc phải thực hiện đúng các cam kết theo sự thỏa thuận
đối với NTD.
Ba là, buộc bồi thường thiệt hại cho NTD.
Bốn là, các biện pháp chế tài dân sự khác như: phạt vi phạm (được
áp dụng trường hợp các bên có thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài phạt
vi phạm), buộc xin lỗi, cải chính công khai trên các phương tiện thông tin
đại chúng…
* Về chế tài hình sự

của NTD trên các lĩnh vực khác nhau đã chỉ ra rằng quyền năng quan trọng
này của NTD đang bị xâm hại một cách rất nghiêm trọng. Trong đ đi n
hình là tình trạng mua, bán thông tin NTD và thậm chí là đánh cắp thông tin
đ chiếm đoạt tài sản của NTD.
Hiện nay, rất nhiều NTD có sử dụng dịch viễn thông, hay các mạng
xã hội thường xuyên bị làm phiền bởi các cá nhân, tổ chức bán hàng, quảng
cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm mà không cần biết bản thân NTD có nhu
cầu sử dụng hàng hóa, dịch vụ đ hay không. Ngày nay, nếu cần có thông
tin của bất kỳ một loại đối tượng NTD nào, người mua có th thông qua các
website trực tuyến đ “mua” thông tin m nh muốn mà không cần phải bỏ ra
nhiều thời gian, công sức hay tiền bạc đ thu thập.
2.2.2. Thực trạng về hoạt động của các cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền và các tổ chức xã hội trong việc bảo đảm bí mật
thông tin cá nhân của NTD

15


* Về hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
Theo quy định hiện nay, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước có
trách nhiệm bảo vệ quyền lợi NTD đã được mở rộng đến cấp xã. Đây là lực
lượng đông đảo, có vai trò quan trọng trong việc cân bằng vị thế, hạn chế sự
bất b nh đẳng giữa các bên trong quan hệ tiêu dùng và là chủ th có khả
năng đầy đủ nhất trong việc bảo vệ các quyền lợi cho NTD nói chung và
quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân nói riêng.
Bên cạnh những nỗ lực và kết quả đạt được thì thực tế hiện nay đã
chỉ ra rằng hoạt động giám sát, ki m tra của các cơ quan nhà nước trong
việc bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD vẫn còn rất nhiều đi m hạn
chế, thiếu sót.
* Về hoạt động của các tổ chức xã hội

Mặc dù theo kết quả khảo sát nói trên, số lượng NTD biết đến các
quyền cơ bản là tương đối lớn nhưng thực tế chỉ ra rằng, có rất nhiều NTD
không biết đến các cơ quan, tổ chức bảo vệ NTD. Trong số 3000 người
được khảo sát nói trên, chỉ có 58,8% trả lời là có biết đến các cơ quan quản
lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và chỉ c 52% người được
hỏi biết đến các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

17


Chƣơng 3
GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM VỀ QUYỀN
ĐƢỢC BẢO ĐẢM BÍ MẬT THÔNG TIN CÁ NHÂN
CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG
3.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền
đƣợc bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD
3.1.1. Thống nhất cách hiểu về các khái niệm “người tiêu dùng”
và “thông tin cá nhân”
Thứ nhất, với khái niệm “người tiêu dùng”, việc xác định chính
xác, thống nhất khái niệm này c ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác
định thông tin của chủ th nào sẽ được bảo vệ bởi pháp luật bảo vệ quyền lợi
NTD. Theo tác giả, đ phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như đảm bảo được
ý nghĩa của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, pháp luật Việt Nam
chỉ nên quy định NTD bao gồm người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho
mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đ nh.
Thứ hai, về khái niệm “thông tin cá nhân”, cần phải thống nhất
trong cách quy định của các văn bản QPPL ở các lĩnh vực khác nhau.
3.1.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm, vai trò của
các chủ thể liên quan trong việc thực hiện quyền được bảo đảm bí mật

3.1.3. Quy định các chế tài tương xứng đối với những hành vi
xâm phạm quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD
Đ tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, tạo ra sức răn đe
tương xứng đối với những hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến thông tin cá
nhân của NTD, pháp luật cần tăng mức xử lý vi phạm hành chính đối với
các chủ th vi phạm.
Bên cạnh việc tăng cường các chế tài xử phạt, pháp luật cần quy
định mở rộng phạm vi các đối tượng có thế bị truy cứu trách nhiệm.

19


3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo đảm
bí mật thông tin cá nhân của NTD
3.2.1. Tăng cường vai trò của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, các tổ chức xã hội trong việc bảo đảm bí mật thông tin cá nhân
của NTD
* Giải pháp tăng cường vai trò của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong việc bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng của các cán bộ, nhân viên nhà nước làm việc tại
các cơ quan c trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và
bảo vệ quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD nói riêng.
Thứ hai, thường xuyên quan tâm, nắm bắt, thu thập ý kiến, đề xuất của
NTD và các tổ chức xã hội đ kịp thời hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi cho NTD.
Thứ ba, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội cần tích cực tuyên
truyền đến NTD những kiến thức về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng, những thông tin về chức năng, thẩm quyền và tổ chức, hoạt động của
những cơ quan liên quan đến việc bảo vệ quyền được bảo đảm bí mật thông
tin cá nhân của NTD; khuyến khích NTD chủ động, mạnh dạn khiếu nại,

Thứ tư, Nhà nước cần tạo điều kiện đ hỗ trợ kinh phí và nguồn
nhân lực cho các tổ chức xã hội mà đặc biệt là Hội tiêu chuẩn và bảo vệ
NTD - tổ chức xã hội có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc bảo vệ quyền
lợi cho NTD.
Thứ năm, các tổ chức xã hội cần phối hợp với các cơ quan chuyên môn
về quản lý thị trường, dịch vụ viễn thông, thương mại điện tử, an toàn thông
tin mạng… đ xác định hành vi vi phạm và biện pháp xử lý đối với các hành
vi xâm hại trái phép đến thông tin cá nhân của NTD.
Thứ sáu, các cơ quản lý nhà nước cần tăng cường chỉ đạo, phối
hợp, quan tâm, giúp đỡ hoạt động của các tổ chức xã hội, đặc biệt là hoạt
động của các Hội bảo vệ NTD tại địa phương nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện

21


thuận lợi cho các tổ chức này phát huy vai trò của mình trong hoạt động bảo
vệ quyền lợi NTD.
Thứ bảy, các tổ chức xã hội cần chủ động xây dựng các chương
tr nh hành động cụ th , vận động sự giúp đỡ về kinh phí cũng như nhân sự
từ phía các cơ quan quản lý nhà nước; huy động tối đa mọi nguồn lực xã hội
vào hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD.
3.2.2. Nâng cao nhận thức của NTD về quyền được bảo đảm bí
mật thông tin cá nhân khi tham gia vào các quan hệ tiêu dùng
Thứ nhất, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội cần phối hợp
với các tổ chức liên quan tiến hành thực hiện các biện pháp đ truyên
truyền, giáo dục nhằm trang bị các kiến thức và kinh nghiệm cần thiết cho
NTD đ họ có th tự bảo vệ bản thân mình khỏi những hành vi xâm phạm
của các chủ th khác đối với thông tin cá nhân của mình.
Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội cần vận
động NTD chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức; mạnh dạn khiếu nại,

pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo vệ quyền được bảo đảm bí mật thông tin
cá nhân của NTD là tương đối nhiều nhưng hiệu quả mang lại chưa thực sự
được như mong đợi. Việc mua bán thông tin cá nhân một cách tràn lan, công
khai trên thị trường; việc NTD thường xuyên bị quấy rối bằng các cuộc gọi,
tin nhắn rác… đang trở thành hiện tượng đáng báo động trong xã hội. Điều
này chứng tỏ các quy định hiện hành của pháp luật cũng như hoạt động của
các thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam vẫn còn nhiều lỗ hổng,
chưa đồng bộ và hiệu quả.
Thông qua việc làm rõ cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá các quy
định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi quyền được bảo đảm bí
mật thông tin cá nhân của NTD, tác giả đã mạnh dạn đưa ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
trong đời sống. Trong đ nhấn mạnh, bên cạnh việc cố gắng hoàn thiện nội

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status