Quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG THỊ CẨM HẰNG

QUYỀN ĐƯỢC BẢO ĐẢM BÍ MẬT THÔNG TIN CÁ NHÂN
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Hồ Ngọc Hiển

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
trích dẫn nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
TÊN TÁC GIẢ

Dương Thị Cẩm Hằng


DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

NTD

: Người tiêu dùng

QPPL : Quy phạm pháp luật


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ, các quan
hệ tiêu dùng được thiết lập ngày càng nhiều với những phương thức ngày
càng đa dạng và phong phú, điển hình là các phương thức giao dịch thương
mại điện tử thì những thông tin cá nhân của NTD ngày càng trở nên quan
trọng đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh. Những chủ thể kinh doanh có
được càng nhiều thông tin về NTD thì sẽ càng có nhiều lợi thế cạnh tranh so
với các chủ thể khác và từ đó, mở rộng cơ hội để quảng cáo hàng hóa, dịch
vụ, tiến tới giao kết hợp đồng với NTD. Chính bởi những lợi ích nói trên,
nhiều chủ thể đã ngang nhiên mua bán, sử dụng thậm chí chiếm đoạt các
thông tin cá nhân của NTD nhằm trục lợi một cách bất chính. Hành vi này
không chỉ gây tổn thất về tài sản mà còn có khả năng xâm hại đến đời sống
tinh thần của NTD.
Xuất phát từ thực tiễn đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của Việt
Nam đã chính thức thừa nhận quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân
của NTD trong nhiều văn bản QPPL khác nhau. Tuy nhiên, các quy định về
quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD còn chưa mang tính
hệ thống, các quy định về chế tài xử lý hành vi vi phạm, thẩm quyền xử lý
hành vi vi phạm, trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong việc bảo vệ bí
mật thông tin cá nhân của NTD… chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu điều

giả Lê Minh Toàn và Phạm Thị Minh Loan được đăng trên Tạp chí Thông tin
Khoa học Công nghệ và Kinh tế bưu điện số tháng 1 năm 2012.
Ngoài những đề tài nghiên cứu trực tiếp đến quyền được bảo đảm
thông tin cá nhân của NTD thì có một số công trình cũng tiếp cận đến quyền
này ở phạm vi rộng hơn, ví dụ như nghiên cứu về “Thực trạng bảo vệ dữ liệu
cá nhân tại Việt Nam” do Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin,
Bộ Công thương phối hợp thực hiện…
Có thể thấy các công trình trên đây, mặc dù có những công trình đã
nghiên cứu trực tiếp về quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD
nhưng do những hạn chế về quy mô, điều kiện thực hiện hay do sự thay đổi
2


trong quy định của pháp luật ở từng giai đoạn khác nhau mà đến hiện nay, các
công trình này đã không thể hiện được đầy đủ những kiến thức về mặt lý luận
và thực tiễn thực thi quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD.
Tuy đề tài của luận văn không mới nhưng vấn đề bảo vệ bí mật thông
tin cá nhân cho NTD lại đang là một vấn đề thời sự cấp bách. Để hoàn thiện
nội dung đề tài, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện
những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn liên quan đến quyền được bảo đảm
bí mật thông tin cá nhân của NTD trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quyền được bảm đảm bí
mật thông tin cá nhân của NTD, phân tích, đánh giá nội dung cũng như thực
trạng quy định và thực thi các QPPL, tác giả mong muốn đưa ra những ý kiến
đóng góp nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành và
nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật bảo vệ quyền bí mật
thông tin cá nhân của NTD.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương
của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD.
Đề tài được thực hiện trên cơ sở tiếp cận từ góc độ lý luận và thực tiễn để từ
đó hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền được bảo đảm bí mật thông tin
cá nhân của NTD.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể, bao
gồm các phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương
pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê, … Các phương pháp nói trên
được sử dụng một cách linh hoạt để đảm bảo hiệu quả và tính thuyết phục của
việc nghiên cứu.

4


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một cách cập nhật và tổng
quan, chuyên sâu các vấn đề về lý luận và thực tiễn thực thi quyền được bảo
đảm thông tin cá nhân của NTD.
Về mặt lý luận, luận văn phân tích một cách hệ thống về cơ sở cũng
như lịch sử các quy định về quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của
NTD trong các đạo luật cơ bản cũng như chuyên ngành. Trên cơ sở các phân
tích chuyên sâu, luận văn chỉ ra những bất cập và hạn chế trong quy định hiện
hành của pháp luật Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận văn đưa ra những ý kiến đóng góp nhằm hoàn
thiện các quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD về quyền được bảo đảm bí
mật thông tin cá nhân của NTD; những nội dung trong luận văn có thể được
sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên ngành.

kinh tế.
Trong kinh tế học, thuật ngữ NTD được sử dụng để chỉ những chủ thể tiêu
thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế [16, tr.7]. Còn trong khoa học pháp lý,
NTD là chủ thể của quan hệ pháp luật khi lĩnh vực pháp luật bảo vệ quyền lợi
NTD ra đời. Liên quan đến việc xác định khái niệm NTD, hiện nay, trên thế giới
hầu hết các quốc gia thường nhận diện NTD dựa trên việc đánh giá 03 tiêu chí
đó là (i) NTD là cá nhân; (ii) đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ;(iii)
việc tham gia vào quan hệ không nhằm mục đích kinh doanh.
Thứ nhất, đối với việc đánh giá tiêu chí về bản chất chủ thể của NTD,
hiện nay, theo thông lệ, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cho rằng NTD
chỉ bao gồm cá nhân chứ không bao gồm các tổ chức.
6


Theo quan niệm của Liên minh Châu Âu về khái niệm NTD tại Chỉ thị
số 1999/44/EC ngày 25/05/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các
bảo đảm có liên quan (Directive 1999/44/EC of the European Parliament and
of the Council of 25 May 1999 on certain aspects of the sale of consumer
goods and associated guarantees) thì “NTD là bất cứ tự nhiên nhân nào tham
gia vào các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ thị này… vì mục đích không liên
quan đến hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình”.
Quan điểm này của Liên minh Châu Âu tương đối đồng nhất với quan
điểm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Đức, Nhật Bản, Trung
Quốc…
Theo Điều 13, Bộ luật dân sự của Đức năm 2002 định nghĩa: “NTD là
bất cứ tự nhiên nhân nào tham gia giao dịch không thuộc phạm vi hoạt động
kinh doanh, thương mại hoặc nghề nghiệp của người này”.
Điều 2-1, Luật về Hợp đồng tiêu dùng của Nhật Bản năm 2000 định
nghĩa: “NTD theo quy định của luật này là cá nhân nhưng không bao gồm
trường hợp cá nhân tham gia quan hệ hợp đồng với mục đích kinh doanh.”

được bảo vệ theo các quy định pháp luật khác có liên quan”, các nhà làm luật
Trung Quốc cũng đã xác định NTD là các cá nhân mua, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ vì nhu cầu sinh hoạt của mình chứ không phải vì mục đích kinh doanh
hoặc hoạt động nghề nghiệp.
Tại Việt Nam, khái niệm NTD lần đầu tiên được ghi nhận chính thức
tại Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999. Theo đó, “NTD là
người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của
cá nhân, gia đình và tổ chức”. Cho đến năm 2010, khi Luật bảo vệ quyền lợi
NTD được ban hành thay thế cho Pháp lệnh nói trên thì khái niệm này lại tiếp
tục được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 3 của Luật này và nội dung không có sự
thay đổi. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, NTD bao gồm các đối tượng

8


không chỉ là cá nhân tiêu dùng riêng lẻ mà còn là các tổ chức (như doanh
nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội…)
tiến hành mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt
của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó [14,tr.11]. Tuy vậy, nếu xuất phát từ
mục đích ra đời của pháp luật bảo vệ NTD là để nhằm bảo vệ quyền lợi cho
bên yếu thế bằng cách trao cho NTD những ưu tiên đặc biệt thì cách tiếp cận
này lại không hợp lý và bên cạnh đó cũng không phù hợp với thông lệ của
quốc tế. Bởi nếu như thừa nhận các tổ chức cũng có thể trở thành NTD thì rất
có thể những chủ thể này sẽ lợi dụng vị trí được ưu tiên để giành những lợi
thế bất hợp lý đối với bên kia, trong khi đó, bản thân những chủ thể này
không phải là bên bị hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin và khả năng tài
chính so với bên kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
* Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các
quan hệ giữa NTD và các thương nhân khi NTD mua, sử dụng hàng hóa, dịch

người cung cấp mà không vì mục đích kinh doanh. Pháp luật bảo vệ quyền lợi
NTD sử dụng phương pháp điều chỉnh của ngành luật hành chính để tác động
vào quan hệ tiêu dùng, thể hiện sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ
dân sự nhằm bảo vệ quyền lợi cho những NTD - chủ thể được coi là bên bất
lợi hơn so với bên sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ.
Thứ hai, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD can thiệp khá sâu vào quá
trình giao dịch của các bên bằng cách quy định cụ thể trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với NTD; trách nhiệm của
bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD; quy
định về những điều khoản của hợp đồng giao kết với NTD, điều kiện giao
dịch chung không có hiệu lực nếu gây bất lợi, cản trở việc thực hiện quyền lợi
của NTD.

10


Bên cạnh đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD cũng xác định trách
nhiệm của nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa đối với khuyết tật của sản phẩm
một cách nghiêm ngặt và mở rộng về chủ thể chịu trách nhiệm. Người phải
chịu trách nhiệm bồi thường về những khuyết tật của sản phẩm tiêu dùng có
thể không phải là người gây ra khuyết tật nhưng họ có tham gia vào chuỗi
hoạt động phân phối sản phẩm đến với NTD.
Thứ ba, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD thiết lập những ngoại lệ so với
những nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho NTD khi tham gia vào quá trình tố tụng để giải quyết các tranh chấp liên
quan đến quyền lợi của mình. Cụ thể đó là những quy định về các trường hợp
vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi NTD được giải quyết theo thủ tục rút gọn;
NTD được miễn tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí; quy định giảm nhẹ nghĩa vụ
chứng minh cho NTD…
Thứ tư, nguồn của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD rất phong phú.

tổ chức sản xuất, kinh doanh; quy định về những quy chuẩn liên quan đến
chất lượng, mức độ an toàn của hàng hóa, dịch vụ, pháp luật bảo vệ quyền lợi
NTD là một trong những công cụ thực sự hữu hiệu để đảm bảo cho các thành
viên trong cộng đồng được sống trong xã hội lành mạnh, được hưởng thụ
những giá trị tốt đẹp. Việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trên thực
tiễn sẽ góp phần bảo đảm các quyền con người của NTD, trong đó có quyền
được an toàn, bảo đảm về sức khỏe, quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ
bản, quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng và quyền được sống trong môi
trường lành mạnh, bền vững.
Bên cạnh đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đã thiết lập vị thế, vai trò
của các tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi cho NTD, khuyến
khích các tổ chức, cá nhân trong xã hội tham gia cùng với Nhà nước trong
công tác bảo vệ NTD.

12


Thứ hai, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ra đời góp phần xác lập mối
quan hệ ổn định, bảo đảm sự cân bằng vị thế trong giao dịch dân sự giữa NTD
với các tổ chức, cá nhân kinh doanh, góp phần ổn định trật tự xã hội, bảo vệ
lợi ích chung của toàn xã hội.
Quan hệ tiêu dùng trước hết là một quan hệ dân sự, bởi vậy pháp luật
luôn tôn trọng ý chí, sự tự do thỏa thuận của các bên. Tuy nhiên, trong quan
hệ này, NTD là bên thiếu thông tin, đặc biệt là các thông tin và kiến thức liên
quan đến đặc tính kỹ thuật của sản phẩm. Bên cạnh đó, khả năng về tài chính
cũng như khả năng tham gia vào quan hệ tố tụng của họ cũng có phần hạn chế
hơn so với nhà sản xuất, kinh doanh. Các quy định về đàm phán, giao kết hợp
đồng, nghĩa vụ bảo hành, trách nhiệm sản phẩm...trong luật dân sự, luật
thương mại để điều chỉnh quan hệ mang tính bình đẳng giữa các bên đã không
còn đủ khả năng để bảo vệ NTD trong điều kiện vị thế bất lợi hơn so với nhà

yếu tố thị trường, trong đó cần chú trọng việc“đẩy mạnh hoàn thiện thể chế
bảo vệ quyền lợi NTD, phát huy đúng đắn, đầy đủ vai trò của NTD, các hội
bảo vệ quyền lợi NTD”. Với mục tiêu trên, các chính sách pháp luật liên quan
đến bảo vệ quyền lợi NTD chính là những công cụ quan trọng để hoàn thiện,
tạo dựng một thị trường lành mạnh, tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi để
NTD cũng như các chủ thể kinh doanh chính đáng được tham gia vào thị
trường để thỏa mãn các nhu cầu và lợi ích của mình. Từ việc bảo vệ những
quyền lợi hợp pháp cho NTD, pháp luật sẽ tạo động lực để kích cầu tiêu dùng
trong xã hội, để NTD mạnh dạn tham gia vào các quan hệ tiêu dùng, được lựa
chọn nhà cung ứng hàng hóa, dịch vụ phù hợp. Đây cũng chính là động lực
kích thích các chủ thể kinh doanh cạnh tranh một cách lành mạnh để thu hút
khách hàng, thúc đẩy nền sản xuất phát triển ngày càng mạnh mẽ.

14


1.2. Lý luận pháp luật về quyền được bảo đảm bí mật thông tin
cá nhân của người tiêu dùng
1.2.1. Khái niệm thông tin cá nhân và quyền được bảo đảm bí mật
thông tin cá nhân của người tiêu dùng
* Khái niệm thông tin cá nhân
Tại Bộ “Những nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện
tử” được các Bộ trưởng của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương (APEC) thông qua vào tháng 11 năm 2004 đã đưa ra định nghĩa:
“Thông tin cá nhân là bất kỳ thông tin nào để xác định được hay có thể xác
định được danh tính của một cá nhân cụ thể” [2, tr.14]. Theo cách tiếp cận của
Bộ nguyên tắc này thì khái niệm “cá nhân” trong “Những nguyên tắc bảo vệ dữ
liệu cá nhân” được hiểu là thể nhân, không phải là pháp nhân. Bộ nguyên tắc
này được áp dụng đối với thông tin cá nhân, là thông tin mà khi kết hợp lại với
nhau có thể dùng để xác định danh tính của một con người cụ thể.

thông tin cá nhân là thông tin có thể dùng để xác định cá nhân cụ thể theo tên,
ngày sinh, hoặc các mô tả khác có trong thông tin đó (Điều 2, Khoản 1). Định
nghĩa này rất rộng và bao gồm cả những thông tin như thông tin trong sổ điện
thoại, tạp chí công cộng, và danh sách nhân sự… Theo quy định của pháp
luật quốc gia này, những thông tin về cá nhân sẽ được bảo vệ nếu nó liên quan
đến đời sống của cá nhân và có thể dùng để xác định, phân biệt một con người
cụ thể. Còn theo quy định của Đạo luật về Bảo vệ Thông tin Cá nhân và Tài
liệu điện tử Canada năm 2010, thì thông tin cá nhân là tất cả những thông tin
về một cá nhân xác định nhưng không bao gồm tên, chức vụ, địa chỉ kinh
doanh hoặc số điện thoại của nhân viên của một tổ chức.
Có thể thấy cách quy định khái niệm thông tin cá nhân hiện nay của các
quốc gia nói trên cơ bản là giống nhau vì đều nhận diện thông tin cá nhân là
những thông tin mà từ đó có thể xác định được danh tính của một con người
cụ thể. Còn khái niệm thông tin cá nhân của NTD được hiểu là những thông

16


tin góp phần xác định một cách chính xác danh tính của NTD như các thông
tin về địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, các thông tin
về sức khỏe, các thông tin về tài khoản ngân hàng, bảo hiểm…
* Khái niệm quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD
Theo quy định tại Khoản 12 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày
15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương
mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD thì “Bí
mật cá nhân của NTD là thông tin liên quan đến cá nhân NTD đã được NTD
hoặc tổ chức, cá nhân có liên quan khác áp dụng các biện pháp bảo mật mà
nếu tiết lộ hoặc sử dụng thông tin này không có sự chấp thuận của họ sẽ gây
ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ, tính mạng, tài sản hoặc các thiệt hại về vật chất
hoặc tinh thần khác với NTD”.

Hơn nữa, trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế hiện nay, các quan
hệ tiêu dùng được thiết lập ngày càng nhiều, với những phương thức ngày
càng đa dạng, trong đó, điển hình là các phương thức giao dịch điện tử. Khi
tham gia vào các giao dịch này, NTD phải cung cấp rất nhiều các thông tin
liên quan đến cá nhân mình, do vậy, nếu như không được quản lý một cách an
toàn, những thông tin mà NTD đã cung cấp rất có thể sẽ bị sử dụng hay tiết lộ
ra bên ngoài một cách bất hợp pháp. Phần lớn NTD không hề biết rằng thông
tin cá nhân của mình đã được cung cấp cho những chủ thể kinh doanh cho đến
khi họ bị làm phiền bởi những thông tin quảng cáo không mong muốn, thậm
chí bị chiếm đoạt thông tin, qua đó chiếm đoạt tài sản.
Đối với các chủ thể kinh doanh, thông tin của NTD giữ vai trò rất quan
trọng trong mọi giai đoạn của quá trình kinh doanh. Việc nắm giữ thông tin,
nhu cầu của NTD sẽ là cơ sở quan trọng để hoạch định kế hoạch sản xuất và
cung ứng hàng hóa, dịch vụ xúc tiến thương mại trên thị trường. Tuy nhiên,
thay vì việc thu thập hợp pháp thông tin của NTD, để tiết kiệm thời gian và

18


chi phí, nhiều nhà kinh doanh lại lựa chọn “mua” thông tin của NTD một cách
bất hợp pháp. Bởi nhu cầu rất lớn này của nhà kinh doanh mà rất nhiều chủ
thể đã bất chấp quy định pháp luật để thu thập và chuyển giao trái phép thông
tin của NTD. Những hành vi này không chỉ gây ra nguy cơ đem đến cho NTD
những phiền toái không đáng có mà còn có thể gây mất lòng tin và thiện cảm
của NTD đối với chủ thể kinh doanh.
Ghi nhận và bảo vệ quyền được bảo đảm thông tin cá nhân của NTD
góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của NTD, thông qua đó, góp phần thúc
đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, cân bằng sự bình đẳng trong quan hệ
giữa chủ thể kinh doanh và NTD.
1.2.3. Những nội dung cơ bản của pháp luật về quyền được bảo đảm

thông tin cá nhân của NTD.
Cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội là các thiết chế quan trọng
trong quá trình bảo vệ quyền được bí mật thông tin cá nhân của NTD. Đối với
các cơ quan nhà nước, pháp luật quy định cụ thể về trách nhiệm của những cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quản lý việc thực thi quyền được bảo
vệ bí mật thông tin cá nhân của NTD trên thị trường. Theo đó, các cơ quan
quản lý nhà nước có trách nhiệm chủ yếu trong việc xây dựng và ban hành
các chính sách, chiến lược, chương trình cụ thể về bảo vệ quyền được bảo
đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD; trực tiếp quản lý việc thực thi quyền
năng quan trọng này của NTD. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định về thẩm
quyền của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong việc xử lý
các hành vi vi phạm, áp dụng các hình thức chế tài đối với các chủ thể xâm
hại quyền lợi NTD, là cơ sở pháp lý quan trọng để NTD có thể lựa chọn cơ
chế bảo vệ quyền lợi của mình. Ngoài ra, pháp luật cũng đưa ra những quy
định về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong việc tư vấn, giúp đỡ, đại
diện cho NTD cũng như trong việc độc lập thực hiện các biện pháp nhằm bảo
vệ quyền lợi cho NTD, hỗ trợ hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước.

20


Ba là, quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, xâm hại đến quyền được
bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD.
Một trong những nội dung quan trọng của pháp luật bảo vệ quyền lợi
NTD về quyền được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân của NTD là những quy
định nhận diện các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Về cơ bản,
những hành vi xâm hại đến NTD bị pháp luật nghiêm cấm hiện nay bao gồm:
thu thập, sử dụng trái phép thông tin cá nhân của NTD; phát tán thông tin của
NTD; kinh doanh trái pháp luật các thông tin cá nhân của NTD; lợi dụng sơ
hở, điểm yếu của hệ thống thông tin để thu thập, khai thác bất hợp pháp thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status