Thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-------o0o-------

ĐỖ THỊ OANH

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN
TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-------o0o-------

ĐỖ THỊ OANH

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN
TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế

HÀ NỘI - 2014

2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 3
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài .......................................................... 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 4
5. Tổng quan tài liệu ........................................................................................... 5
6. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................... 7
7. Kết cấu của luận văn....................................................................................... 7
CHƢƠNG 1: NHỮNG ĐỀ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .................................. 8
1.1 KHÁI NIỆM TRẺ EM VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM............... 8
1.1.1. Khái niệm trẻ em và quyền trẻ em ........................................................ 8
1.1.2 Khái niệm pháp luật về quyền trẻ em ................................................. 11
1.2. TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM ............................... 14
1.2.1. Pháp luật quốc tế về quyền trẻ em ...................................................... 14
1.2.2.Tổng quan pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em ................................. 23
1.3. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM .......................... 25
1.3.1. Khái niệm và các hình thức cơ bản về thực hiện pháp luật bảo vệ
quyền trẻ em ................................................................................................ 25
1.3.2 Những đặc điểm cơ bản và các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật
bảo vệ quyền trẻ em ở nƣớc ta hiện nay. ...................................................... 36
1.3.3. Các điều kiện chủ yếu đảm bảo thực hiện pháp luật bảo vệ quyền trẻ
em ở nƣớc ta hiện nay. .................................................................................. 43
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ................................................................................... 45
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ......................... 47
2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ
EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................................................... 47
2.1.1 Qui định của Luật bảo vệ , chăm sóc và giáo dục trẻ em. ................... 55
2.1.2. Qui định của pháp luật dân sự ............................................................ 64
2.1.3. Qui định của pháp luật Hình sự .......................................................... 69
2.2. THỰC TRẠNG VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ

3.2.2. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ
em................................................................................................................ 111
3.2.3. Tăng cƣờng kỹ năng sống, kiến thức và sự tham gia của trẻ em vào
thực hiện pháp luật bảo vệ quyền của chính trẻ em .................................... 111
3.2.4. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện và áp dụng pháp
luật về quyền trẻ em, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật xâm phạm
đến quyền trẻ em ......................................................................................... 112
3.2.5. Kết hợp sử dụng các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác để hỗ trợ
cho thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em......................................... 113
5


3.2.6. Phát triển hệ thống Quỹ Bảo trợ trẻ em và đầu tƣ cơ sở vật chất thỏa
đáng cho công tác thực hiện và áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em
.................................................................................................................... 114
3.2.7. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm của Nhà nƣớc trong
việc thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật bảo vệ quyền trẻ em ........ 115
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 119

6


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trẻ em có vai trò quan trọng đối với mỗi gia đình và xã hội. Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam. Vì vậy, ngay từ thời xa xƣa, các Nhà nƣớc phong kiến đã đề ra những
quy định bằng pháp luật để bảo vệ trẻ em; nhân dân cũng tự hình thành các quan
hệ đạo đức, ý thức xã hội và những phong tục tập quán tiến bộ... nhằm bảo vệ,
chăm sóc trẻ em- thế hệ tƣơng lai của gia đình, của đất nƣớc. Cách mạng Tháng

Từ đó mới có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ chăm
sóc trẻ em; ý thức sâu sắc nghĩa vụ, trách nhiệm của mình để đề xuất những giải
pháp, việc làm cụ thể trong thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em.
Ở Việt Nam các thiết chế chính trị, thể chế đảm bảo quyền con ngƣời,
quyền trẻ em đƣợc khẳng định trong Hiến pháp, đó là hệ thống các cơ quan trong
bộ máy Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nhân dân; các cơ
quan, tổ chức và ngƣời dân đều có trách nhiệm cụ thể theo quy định của pháp
luật, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện hỗ trợ, giám sát trong việc
xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã
hội, bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong đó trẻ em và quyền của
các em là đối tƣợng đƣợc quan tâm và ƣu tiên hàng đầu.
Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nƣớc ta đƣợc xác định là
trách nhiệm của Đảng, Nhà nƣớc, xã hội, gia đình và mọi công dân. Các biện
pháp để thực hiện công tác này cũng rất đa dạng nhƣ biện pháp chính trị ( đƣờng
lối, chính sách), hành chính, kinh tế, xã hội… Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em là một đề tài rất rộng và luôn mang tính thời sự, luôn dành đƣợc sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nhƣ Xã hội học, Chính trị học, Luật học,
Kinh tế học… Trong thời gian vừa qua, đã có không ít các công trình nghiên cứu
ở trong nƣớc và nƣớc ngoài về thực hiện pháp luật nói chung hoặc về trẻ em,
quyền của các em nói riêng. Tuy vậy các công trình này có một số hạn chế nhƣ
chƣa cập nhật đầy đủ những qui định đã đƣợc sửa đổi bổ sung hoặc những văn
bản pháp luật mới đƣợc ban hành liên quan đến quyền trẻ em trong thời gian từ
2008 đến nay. Đồng thời, hệ thống số liệu trong các công trình này về công tác
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng chỉ dừng ở khoảng thời gian đến các
năm 2005, 2006 và mới nhất là năm 2007.
Nhƣ vậy, cho đến nay chƣa có công trình nghiên cứu nào trực tiếp nghiên
cứu tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền trẻ em dƣới góc độ khoa học Lý luận Nhà nƣớc và
Pháp luật và giới hạn trong một phạm vi hẹp chỉ là thực hiện pháp luật về bảo vệ
quyền trẻ em ở Việt Nam và phạm vi nghiên cứu theo thời gian từ 2008 đến nay.
2

hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

3


3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Đây là đề tài chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống,
tƣơng đối tổng quát và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện
pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
- Lần đầu tiên hai khái niệm“ Pháp luật về trẻ em” và “ Thực hiện
pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em”cùng những đặc thù của hoạt động này
đƣợc đƣa ra và phân tích.
- Phân tích, đánh giá cụ thể nhƣng rất khách quan, toàn diện về thực trạng
các qui định của pháp luật về quyền trẻ em và thực hiện pháp luật về bảo vệ
quyền trẻ em ở nƣớc ta.
- Tìm hiểu quan điểm, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc về bảo vệ quyền trẻ em
bằng cách tiếp cận xuyên suốt từ truyền thống dân tộc, pháp luật thời phong kiến,
chính sách pháp luật từ khi thành lập nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay.
- Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về quyền trẻ em đƣợc qui định
bằng pháp luật quốc tế và quốc gia, từ đó nâng cao ý thức và trách nhiệm của
Đảng, Nhà nƣớc, xã hội, các tổ chức-cơ quan, từng gia đình và mỗi công dân
trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em.
- Những kiến nghị đề ra trong luận văn có ý nghĩa tham khảo trong việc
sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em, các giải pháp đƣa ra có
thể là căn cứ để hoạch định chính sách, xây dựng các chƣơng trình hành động cụ
thể phù hợp trong thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở nƣớc ta trong
giai đoạn tiếp theo.
- Nội dung và những số liệu có tính thời sự trong luận văn có thể đƣợc
dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy về quyền trẻ em và thực hiện
pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em.

Các công trình nghiên cứu của nƣớc ngoài
+ “ Protection of Childrens Rights in Vietnamese Law”“ Bảo vệ quyền trẻ

em trong pháp luật Việt Nam”, Unicef, Hà Nội, 1996
+ “Quyền trẻ em- Biến nguyên tắc thành hành động”, Save the Children
Sweden và Unicef Khu vực Đông Nam Á, Hà Nội, 2005;
+ “Thúc đẩy các phương pháp tiếp cận dựa trên Quyền trẻ em- kinh
nghiệm và sáng kiến từ các nước châu Á- Thái Bình Dương”, Save the Children
Sweden, Hà Nội, 2006;
+ “Hướng dẫn thực hành các tiêu chuẩn quốc tế về tư pháp người chưa
thành niên”, Save the Children Sweden, Hà Nội, 2007;
+ “Tài liệu tập huấn Công ước về quyền trẻ em”, Save the Children
Sweden, Hà Nội, 2007.
5


-

Các công trình nghiên cứu ở trong nƣớc :
+ “ Quyền trẻ em”, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Trung tâm

nghiên cứu quyền con ngƣời, Hà Nội, 2000;
+ “Phòng ngừa người chưa thành niên làm trái pháp luật- Vấn đề xã hội
cần quan tâm”, Radda Banen- Trƣờng Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2000;
+ “Phòng chống buôn bán và mại dâm trẻ em”, Vũ Ngọc Bình, Hà Nội, 2002;
+ “ Đào tạo Kiểm sát viên làm việc với người chưa thành niên phạm tội”,
Trƣờng Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội, Sách chuyên khảo, Hà Nội, 2002;
+ “ Thực hiện và áp dụng pháp luật”, Phạm Hữu Nghị, Giáo trình Lý
luận chung về Nhà nƣớc và Pháp luật, Hà Nội, 2007;
+ “Một số vấn đề cần chú ý khi truy cứu trách nhiệm hình sự người có

6.1. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận thực hiện pháp luật
về bảo vệ quyền trẻ em;
- Nêu, phân tích và đánh giá chính xác thực trạng qui định của pháp luật
về quyền trẻ em và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở nƣớc ta giai
đoạn từ năm 2008 đến nay
- Tìm hiểu quan điểm, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc về bảo vệ quyền trẻ
em và đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng thực hiện
pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam.
6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học chủ nghĩa Mác - Lê
nin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và
Nhà nƣớc qui định về quyền trẻ em, bảo vệ quyền trẻ em bằng các hoạt động
trong đó có thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em.
Để thực hiện đề tài, tác giả còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa
học nhƣ: Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa, thống kê, trao
đổi với đội ngũ cán bộ tƣ pháp và cán bộ lao động xã hội trực tiếp làm việc liên
quan đến trẻ em và ngƣời chƣa thành niên.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn có cấu trúc 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ
em Chƣơng 2: Thực trạng qui định và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em
ở Việt Nam hiện nay
Chƣơng 3: Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lƣợng thực hiện
pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
7


CHƢƠNG 1



quốc tế hoàn chỉnh, mang đầy đủ tính chất pháp lý làm nền tảng cho việc bảo vệ
quyền trẻ em, ràng buộc các quốc gia thành viên vào trách nhiệm cụ thể để thay
thế Tuyên ngôn vì Tuyên ngôn không phải là văn bản mang tính ràng buộc và
không áp đặt những nghĩa vụ cụ thể nào với các quốc gia thành viên. Việc bảo
vệ quyền trẻ em đòi hỏi phải có một khuôn khổ, một chuẩn mực đƣợc cộng đồng
quốc tế đồng ý. Đề xuất của Ba Lan đã đƣợc Liên Hợp Quốc chấp thuận và sau
10 năm soạn thảo, Công ƣớc đƣợc Liên Hợp Quốc chính thức thông qua ngày
20/11/1989, ngày 26/01/1990 Công ƣớc đƣợc mở cho các nƣớc ký và phê chuẩn.
Tại lễ ký ở Liên hiệp quốc, đại diện 60 nƣớc đã ký vào bản cam kết rằng Chính
phủ họ sẽ phê chuẩn phù hợp với Hiến pháp của từng nƣớc. Công ƣớc có hiệu
lực quốc tế vào ngày 02/09/1990.
Công ƣớc quyền trẻ em đƣợc thông qua tại Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc
đã thực sự làm thay đổi căn bản địa vị pháp lý của trẻ em trên toàn thế giới. Trẻ
em là những con ngƣời, là các cá nhân, chúng có vị thế bình đẳng với ngƣời lớn
nhƣ những thành viên của cộng đồng nhân loại. Trẻ em là một thuật ngữ nhằm
chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự
phát triển con ngƣời. Theo Công ƣớc quyền trẻ em, trẻ em do còn non nớt về trí
tuệ và vì thế cần đƣợc bảo vệ và chăm sóc đặc biệt kể cả sự bảo vệ thích hợp về
mặt pháp lý trƣớc cũng nhƣ sau khi ra đời.
Ngay tại Điều 1 Công ƣớc quyền trẻ em đã xác định rõ: “Trong phạm vi
của công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp
luật áp dụng với trẻ em quy định tuổi thành niên sớm hơn” [20, tr.3]
Nhƣ vậy, theo Công ƣớc quyền trẻ em, trẻ em đƣợc xác định là ngƣời
dƣới 18 tuổi (trừ khi luật pháp quốc gia quy định độ tuổi sớm hơn). Các văn bản
pháp luật quốc tế khác nhƣ: Quy tắc Bắc Kinh, Hƣớng dẫn Riát và Quy tắc của
Liên hiệp quốc về bảo vệ ngƣời chƣa thành niên bị tƣớc quyền tự do thƣờng sử
dụng thuật ngữ ngƣời chƣa thành niên là những ngƣời chƣa đến 18 tuổi.
Ngoài ra, khái niệm trẻ em còn có sự khác nhau ở cách quy định độ tuổi

Nhƣ vậy, hai khái niệm nêu trên không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
Ngƣời chƣa thành niên gồm có trẻ em (ngƣời dƣới 16 tuổi) và nhóm ngƣời từ 16
đến dƣới 18 tuổi. Điều này có nghĩa là: Tất cả trẻ em công dân Việt Nam đều là
ngƣời chƣa thành niên nhƣng không phải tất cả ngƣời chƣa thành niên đều là trẻ
em. Mặc dù, độ tuổi của trẻ em trong pháp luật Việt Nam có sự qui định không
thống nhất với nhau, tuy vậy bảo vệ quyền trẻ em ở nƣớc ta phải đƣợc hiểu theo
nghĩa rộng là bảo vệ quyền của cả ngƣời chƣa thành niên, tức là tất cả công dân
Việt Nam dƣới 18 tuổi.
10


1.1.2 Khái niệm pháp luật về quyền trẻ em
Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các qui tắc xử sự

thể

hiện ý chí, lợi ích của nhân dân lao động, do Nhà nƣớc ban hành ( hoặc thừa
nhận), có tính bắt buộc chung, đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm thực hiện trên cơ sở kết
hợp giáo dục, thuyết phục và cƣỡng chế; thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã
hội vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh [25, tr.337].
Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng tất cả các quốc gia trên thế giới đều
ban hành (hoặc thừa nhận) pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng,
phức tạp và luôn có xu hƣớng thay đổi. Điều này khẳng định vai trò quan trọng
và tính đặc thù của pháp luật so với các qui phạm xã hội, đạo đức khác.
Pháp luật về quyền trẻ em có một số đặc thù sau:
Thứ nhất: Pháp luật về quyền trẻ em có phạm vi rất rộng, liên quan đến
nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau. Mỗi một ngành
luật có những qui định đặc thù riêng về việc bảo vệ trẻ em. Luật Hiến pháp điều
chỉnh các quan hệ về trẻ em trên những vấn đề mang tính nguyên tắc áp dụng

các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nhà nƣớc, xã hội
và gia đình chịu trách nhiệm chính trong việc hình thành nhân cách của trẻ em.
Quy định những điều cấm và thông qua đó để bảo vệ lao động trẻ em – đó là nét
đặc trƣng của Luật lao động thời kinh tế thị trƣờng hiện nay.
Thứ hai: Pháp luật về quyền trẻ em là luôn gắn với những qui định về
quyền con người và là một bộ phận hợp thành của quyền con người. Các quyền
trẻ em liên quan đến ba phƣơng diện cơ bản: quyền đƣợc bảo vệ, đƣợc chăm sóc
và đƣợc giáo dục.
Tiếp cận ở khía cạnh quyền con ngƣời, có thể phân loại quyền trẻ em
thành các nhóm quyền nhƣ sau: Nhóm quyền về dân sự- chính trị, nhóm quyền
về kinh tế, nhóm quyền về xã hội, nhóm quyền về văn hóa.
Hệ thống các quyền trẻ em ở Việt Nam đƣợc pháp luật qui định tại Điều
13 Luật BVCS&GDTE bao gồm:
- Quyền đƣợc khai sinh và có quốc tịch, quyền đƣợc xác định cha mẹ và
chung sống với cha mẹ;
- Quyền đƣợc chăm sóc và nuôi dƣỡng;
- Quyền đƣợc lắng nghe ý kiến;
- Quyền đƣợc Nhà nƣớc, xã hội tôn trọng và pháp luật bảo vệ;
- Quyền đƣợc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe;
12


- Quyền đƣợc học tập;
- Quyền đƣợc vui chơi, giải trí lành mạnh, đƣợc học tập văn hóa, văn
nghệ, thể thao và du lịch;
- Quyền đƣợc có tài sản, thừa kế và hƣởng các chế độ bảo hiểm.
Trẻ em không chỉ có quyền mà còn phải gánh vác cả nghĩa vụ, pháp luật
Việt Nam xác định trẻ em là đối tƣợng cần đƣợc quan tâm đặc biệt, vì vậy đối
với trẻ em pháp luật không sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ” mà dùng thuật ngữ
“bổn phận”, việc sử dụng thuật ngữ “bổn phận” trong một khía cạnh nào đó

đƣợc sa thải hoặc đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động đối với ngƣời lao
động nữ vì lý do kết hôn, có thai, ngỉ thai sản, nuôi con dƣới 12 tháng tuổi”
(Khoản 3 Điều 111) hoặc “ngƣời sử dụng lao động không đƣợc sử dụng ngƣời
lao động nữ có thai từ tháng thứ bẩy hoặc đang nuôi con dƣới 12 tháng tuổi làm
thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa” (Khoản 1 Điều 115) …
Trong giai đoạn hiện nay, pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em ngày
càng mang tính toàn diện, cụ thể và tƣơng đối phù hợp với các qui định của
pháp luật quốc tế đối với trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn nhƣ: trẻ mồ côi không nơi nƣơng tựa, trẻ em tàn tật, trẻ em lang
thang, trẻ em bị lạm dụng tình dục; trẻ em lao động làm thuê, trẻ bị nhiễm
HIV, trẻ nghiện hút, trẻ phạm tội...
Từ những vấn đề nêu trên, có thể đƣa ra khái niệm pháp luật về
quyền trẻ em nhƣ sau:
Pháp luật về quyền trẻ em là tổng thể các qui tắc xử sự, thể hiện ý chí của
nhân do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận ( ký kết, phê chuẩn),được đảm bảo
thực hiện bằng các hình thức cưỡng chế, thuyết phục, giáo dục, đầu tư, hỗ trợ
của nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền, lợi ích
hợp phápcủa trẻ em.
Những qui định của pháp luật về quyền trẻ em nhằm bảo đảm cho trẻ em
đƣợc hƣởng và thực hiện các quyền, bổn phận của mình và phòng ngừa để trẻ em
không bị rơi vào hòan cảnh đặc biệt; ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm
quyền, bổn phận của trẻ em theo quy định của pháp luật
1.2. TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM
1.2.1. Pháp luật quốc tế về quyền trẻ em
Nói đến văn bản pháp luật quốc tế quan trọng về quyền trẻ em và bảo vệ
quyền trẻ em phải kể đến Công ƣớc quyền trẻ em ( sau đây viết tắt là CRC); Qui
tắc tối thiểu của Liên Hợp Quốc về bảo vệ ngƣời chƣa thành niên bị tƣớc quyền
14



15


Sự phân chia quyền của trẻ em tập trung vào 4 nhóm đó là:
Nhóm quyền sống còn: Quyền sống còn là quyền cơ bản của mỗi cá nhân,
tiền đề cho việc bảo vệ tất cả các quyền khác của con ngƣời. Bảo vệ quyền này
của trẻ cần dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Cần phải đƣợc thực hiện
ngay không chậm trễ vì trẻ rất dễ bị tổn thƣơng, khi những nguy cơ đe dọa quyền
sống còn của trẻ nhƣ: gây ra những tai nạn thƣơng tích, những tổn thƣơng do ngƣời
lớn đem lại, thiếu sự chăm sóc yêu thƣơng và hỗ trợ của gia đình, bị phân biệt đối
xử. Những nguy cơ đe dọa tới sự sống còn của trẻ em là rất nhiều và có thể xảy ra ở
bất cứ nơi nào, cộng đồng và quốc gia nào, kể cả ngay tại gia đình. Tất cả chúng ta
phải có trách nhiệm đảm bảo quyền đƣợc sống ở mức cao nhất có thể đƣợc.
Nhóm quyền bảo vệ: Quyền đƣợc bảo vệ là bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt
đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh
thần, bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải đƣợc bảo vệ trong tình trạng
khẩn cấp, khủng hoảng. Nghiêm cấm lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em,
bất kỳ một hành vi, hoặc yếu tố tình huống có chủ ý của cá nhân, tổ chức hay của
cộng đồng nhƣ xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách, lạm dụng tình dục,
ngƣợc đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức sức lao động, hoặc khai thác
thƣơng mại, tƣớc đoạt quyền và sự tự do của trẻ, gây nguy hại đến sự phát triển
thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ.
Nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục (chính quy và
không chính quy) và quyền đƣợc có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể
lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ. Quyền đƣợc chăm sóc sức khoẻ,
đƣợc học tập và phát triển năng khiếu. Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn
hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch
Nhóm quyền tham gia: Bao gồm quyền đƣợc bày tỏ ý kiến trong mọi vấn
đề có liên quan tới bản thân, quyền đƣợc lắng nghe và đƣợc kết giao hội họp.
Quyền đƣợc tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội.

chuyển, đau ốm, thƣơng vong hay chết của trẻ (điều 9, mục 4 CRC và điều 56
Qui tắc LHQ về bảo vệ NCTN bị tƣớc quyền tự do)…
Nội dung cơ bản để bảo vệ quyền trẻ em, CRC yêu cầu các quốc gia thành
viên công nhận quyền của mọi trẻ em bị coi là bị tƣớc quyền tự do, bị tố cáo hay
bị công nhận là đã vi phạm pháp luật hình sự, đƣợc đối xử theo cách thức phù
hợp với việc cổ vũ ý thức của trẻ về phẩm cách và phẩm giá nhằm làm tăng
cƣờng lòng tôn trọng của trẻ em đối với những quyền con ngƣời và tự do cơ bản
của ngƣời khác và cũng phải tính đến lứa tuổi của trẻ em và hƣớng tới thúc đẩy
sự tái hòa nhập và việc đảm đƣơng một vai trò xây dựng của trẻ em trong xã hội.

17


CRC là văn kiện pháp lý quốc tế quy định các quyền cơ bản của trẻ em nói
chung và của NCTN vi phạm pháp luật nói riêng. Theo thông lệ, khi đã phê chuẩn
Công ƣớc, Chính phủ Việt Nam đã phải sửa đổi và ban hành một số luật và chính
sách để thực hiện Công ƣớc ở Việt Nam nhƣ: Luật BVCS&GD; Bộ Luật Lao động
(BLLĐ) ; Luật Bình đẳng Giới; Bộ Luật Tố tụng Hình sự ( BLTTHS); Bộ luật hình
sự ( BLHS); Bộ Luật Tố tụng Dân sự… cùng hệ thống các văn bản dƣới luật về bảo
vệ trẻ em tại Việt Nam ( sẽ trình bày cụ thể ở mục 1.2.2 của luận văn).
Bên cạnh các công ƣớc có tính ràng buộc này còn có tập hợp các quy tắc
đã đƣợc cộng đồng quốc tế thông qua để quy định chi tiết việc áp dụng pháp luật
đối với NCTN. Đây là những nguyên tắc và tiêu chuẩn mà nhiều quốc gia đã
chấp thuận và quy định rõ trong các tuyên ngôn, nguyên tắc, các quy tắc và các
hƣớng dẫn chuẩn. Mặc dù không có hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý với các
quốc gia, những văn bản này đƣợc xây dựng trên cơ sở pháp luật quốc tế và đƣợc
nhiều nƣớc trên thế giới đồng tình ủng hộ. Điều đó khiến cho những văn bản này
có sức nặng về mặt đạo đức và có giá trị hƣớng dẫn. Cùng với CRC, các văn bản
này tạo nên một khung chuẩn mực quốc tế toàn diện về tƣ pháp NCTN.
Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp

khi đó là giải pháp cuối cùng và trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể;
- NCTN sau khi hoàn thành thời gian giáo dục ở các cơ sở quản lý giáo
dục tập trung cần đƣợc một cơ quan chức năng phù hợp và cộng đồng hỗ trợ,
giúp đỡ đầy đủ trong quá trình NCTN tái hòa nhập;
- Tổ chức và thúc đẩy công tác nghiên cứu để làm cơ sở cho việc lập kế
hoạch và xây dựng chính sách có hiệu quả;
- Thiết lập cơ chế nghiên cứu, đánh giá thƣờng xuyên trong hệ thống
quản lý tƣ pháp NCTN để thu thập, phân tích các số liệu và thông tin phù
hợp, qua đó có đƣợc sự đánh giá xác đáng, nhằm cải thiện, cải cách hệ thống
tƣ pháp NCTN trong tƣơng lai.
Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN
(1990) - Hướng dẫn Riát [62, tr.21]
Hƣớng dẫn Riát đƣa ra cách tiếp cận phòng ngừa tội phạm tích cực và
toàn diện, và coi trẻ em là trung tâm. Cách tiếp cận này hƣớng tới giải quyết các
nguyên nhân xã hội căn bản dẫn đến hành vi phạm tội của NCTN. Phòng ngừa
không chỉ đƣợc coi là vấn đề giải quyết các tình trạng tiêu cực thông qua các cơ
quan chức năng và các cơ chế kiểm soát xã hội, mà thay vào đó, Hƣớng dẫn này
còn ủng hộ cách tiếp cận dựa trên việc tích cực thúc đẩy sự phát triển và sức
19


Trích đoạn Về chế định quyền trẻ em trong Hiến phỏp năm 1992 sửa đổi Thực hiện cụng tỏc tuyờn truyền, phổ biến, giỏo dục phỏp luật về Đẩy mạnh cụng tỏc kiểm tra, giỏm sỏt việc thực hiện và ỏp dụng phỏp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status