ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HƢỜNG
QUYÒN §¦îC B¶O VÖ CñA TRÎ EM
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HƢỜNG
QUYÒN §¦îC B¶O VÖ CñA TRÎ EM
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS CHU HỒNG THANH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
1.1.2.
Khái niệm quyền con người của trẻ em ......................................................10
1.1.3.
Định nghĩa, nội dung, hình thức, cấp độ và ý nghĩa của quyền được
bảo vệ của trẻ em .........................................................................................14
1.2.
Pháp luật quốc tế về quyền đƣợc bảo vệ của trẻ em ..............................17
1.3.
Khái quát chính sách, pháp luật về Quyền đƣợc bảo vệ của trẻ
em ở Việt Nam ...........................................................................................28
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUYỀN ĐƢỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM Ở VIỆT
NAM ...........................................................................................................35
2.1.
Thực trạng pháp luật về quyền đƣợc bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam .......35
2.1.1.
Quyền được bảo vệ của trẻ em trong hệ thống pháp luật Việt Nam ................35
2.1.2.
Một số quan điểm về quyền đƣợc bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam.........78
3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền đƣợc bảo
vệ của trẻ em ở Việt Nam..........................................................................78
3.2.1.
Sửa đổi và cụ thể hóa Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ...............78
3.2.2.
Sửa đổi Pháp luật Hình sự ...........................................................................86
3.2.3.
Xây dựng cơ quan quốc gia bảo vệ quyền trẻ em .......................................88
3.3.
Giải pháp nâng cao chất lƣợng thực hiện pháp luật bảo vệ trẻ em ......92
3.3.1.
Nâng cao nhận thức .....................................................................................92
3.3.2.
Thực hiện tốt vấn đề truyền thông trong bảo vệ quyền của trẻ em .............95
Bộ luật dân sự
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLLĐ:
Bộ luật lao động
BVCS&GDTE:
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
CHXHCN:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
DSGĐ&TE
Dân số gia đình và trẻ em
HNGĐ:
Hôn nhân và gia đình
LĐTB&XH:
Lao động thương binh và xã hội
gia mà là của toàn nhân loại. Tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc nhiều
vào việc bảo vệ trẻ em. Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới, tình trạng trẻ em phải
tự lao động kiếm sống, bị lừa gạt, bạo lực, bóc lột sức lao động và sa vào các tệ nạn
xã hội đang có chiều hướng gia tăng. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, vấn đề quyền được
bảo vệ của trẻ em được đặt ra như một nhu cầu bức bách cần được giải quyết, nhằm
giành lại cho trẻ em các quyền được sống, quyền được học hành, vui chơi, được
chăm sóc, bảo vệ.
Trẻ em có vai trò quan trọng đối với mỗi gia đình và xã hội. Bảo vệ trẻ em là
một trong những yêu cầu đặt ra đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Vì vậy, ngay từ thời
xa xưa, các Nhà nước phong kiến Việt Nam đã đề ra những quy định bằng pháp luật
để bảo vệ trẻ em, nhân dân cũng tự hình thành các quan hệ đạo đức, ý thức xã hội
và những phong tục tập quán tiến bộ… nhằm bảo vệ trẻ em- thế hệ tương lai của gia
đình, của đất nước. Kể từ khi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời,
việc bảo vệ trẻ em càng được coi trọng hơn nữa, trở thành vấn đề có tính chiến lược,
là mục tiêu quan trọng, nhất quán trong đường lối cách mạng Việt Nam.
Đường lối, chính sách bảo vệ trẻ em của Đảng được thể chế bằng pháp luật
của Nhà nước. Bởi vậy, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã tích cực xây dựng và
từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm đảm bảo tính đồng bộ,
thống nhất, kịp thời điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh, trong đó có pháp luật
về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Quán triệt quan điểm Phát triển con người,
coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển mà trẻ em là tương
lai của đất nước. Chính sách này được thể hiện bằng các Nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp… Đó là cơ
1
sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, tạo cơ hội cho trẻ
em phát triển toàn diện, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.
Để thực hiện tốt nhất công tác bảo vệ trẻ em, các cấp, các ngành, các tổ chức
được bảo vệ của trẻ em trong thời gian hiện nay. Đồng thời, hệ thống số liệu trong các
công trình này về công tác bảo vệ trẻ em cũng chỉ dừng ở khoảng thời gian đến các
năm 2007, 2008 và đến 2010.
Như vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào trực tiếp nghiên
cứu tiếp cận đến vấn đề quyền được bảo vệ của trẻ em Việt Nam dưới góc độ khoa
học lý luận nhà nước và pháp luật và thực tiễn trong thời gian từ 2010 đến nay.
Đó chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “ Quyền được bảo vệ của trẻ em ở
Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình. Việc nghiên cứu
đề tài vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, vừa có giá trị thực tiễn trong giai đoạn Việt
Nam đang hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo tối đa quyền con người trong đó có
quyền của trẻ em. Tác giả hi vọng sẽ đóng góp một phần nhất định vào việc nâng
cao nhận thức về quyền được bảo vệ của trẻ em và nâng cao chất lượng pháp luật và
thực hiện pháp luật, bảo đảm quyền được bảo vệ của trẻ em ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trẻ em là nhóm xã hội đặc biệt, luôn chiếm được sự quan tâm rất lớn của
toàn nhân loại, trong đó có Việt Nam. Do đó có rất nhiều đề tài khoa học
nghiên cứu về các vấn đề của trẻ em nói chung và về quyền được bảo vệ của
trẻ em nói riêng. Cụ thể gồm một số các đề tài của các tác giả như: Đỗ Thị
Oanh “Thực hiện pháp luật về quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam hiện
nay”, Luận văn thạc sỹ luật học, năm 2014; Lê Thị Phương Nga „„Pháp luật
bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay‟‟, Luận văn thạc sỹ luật học, năm
2008; “ Thực hiện và áp dụng pháp luật” của tác giả Phạm Hữu Nghị năm 2007;
“Một số vấn đề cần chú ý khi truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi phạm
tội đối với người chưa thành niên” của tác giả Đỗ Thị Ngọc Tuyết, Tạp chí kiểm
sát, số 6 năm 2007; “Bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền
con người bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp
quyền” của tác giả Lê Cảm (chủ biên), Hà Nội, 2007; “Tài liệu tập huấn tư pháp
người chưa thành niên” của tác giả Đỗ Thị Ngọc Tuyết năm 2008; “ Quyền trẻ
em”, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Trung tâm nghiên cứu quyền con
Xuất phát từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Thứ nhất: Đề tài sẽ nêu ra và phân tích rõ một số vấn đề lý luận như khái
4
niệm trẻ em, quyền trẻ em, quyền được bảo vệ của trẻ em; pháp luật quốc tế, quốc
gia về quyền được bảo vệ của trẻ em cùng ở Việt Nam.
- Thứ hai: Nêu và phân tích, đánh giá những quy định trong Hiến pháp và luật
trẻ em, luật hình sự… về quyền được bảo vệ của trẻ em Việt Nam và thực trạng áp
dụng các quy định đó ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra
những nhận xét, đánh giá khách quan, tương đối toàn diện về thực trạng pháp luật và
thực hiện pháp luật về quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam trong thời gian qua.
- Thứ ba: Một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các
văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo đảm cho
quyền được bảo vệ của trẻ em được hiệu quả nhất.
Ý nghĩa của luận văn:
Với ý nghĩa phục vụ cho công tác nghiên cứu, với động lực tìm hiểu pháp luật
để góp một phần lý luận cho việc nhận thức đúng đắn, thống nhất về Quyền được bảo
vệ của trẻ em Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng cả
về mặt lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở
cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học quyền được bảo vệ của trẻ em Việt Nam, trong
đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn có liên quan.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam. Để làm
rõ vấn đề này, luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật Việt
Nam về vấn đề này, thực trạng thực hiện pháp luật về quyền được bảo vệ của trẻ em
Việt Nam. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và những giải pháp đóng góp nâng
cao chất lượng của các quy định pháp luật cũng như nâng cao nhận thức của người
thực hiện, của công dân trong việc bảo vệ trẻ em.
dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên
ngành Luật hiến pháp, quyền con người tại các cơ sở đào tạo Luật. Kết quả nghiên
cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các
cán bộ thực tiễn đang công tác trong các cơ quan bảo vệ trẻ em, đồng thời là cơ sở
cho các nhà lập pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để góp phần
nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ trẻ em,từ đó tạo điều kiện cho trẻ có được môi
trường an toàn, lành mạnh để trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tâm hồn, ươm
mầm xanh cho tương lai của đất nước.
6
7. Kết cấu của Luận Văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn có cấu trúc 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền được bảo vệ của trẻ em.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền được bảo
vệ của trẻ em ở Việt Nam.
Chương 3: Một số quan điểm và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả thực hiện quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam hiện nay.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƢỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM
1.1. Khái niệm quyền đƣợc bảo vệ của trẻ em
Vấn đề quyền được bảo vệ của trẻ em là một vấn đề không mới, nhưng lại là
vấn đề cần thiết trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Cho nên việc làm rõ thế nào là
quyền được bảo vệ của trẻ em và các khái niệm liên quan sẽ giúp có được một cái
nhìn tổng quát về quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam và các yếu tố ảnh
và chính trị năm 1966, Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế (ULO) về tuổi
tối thiểu làm việc năm 1976, Công ước về quyền trẻ em năm 1989. Trong Công ước
về quyền trẻ em năm 1989 (Convention on the Rights of the Child – CRC) – văn
kiện quốc tế cơ bản, toàn diện nhất về trẻ em tính đến thời điểm này đã định nghĩa
“Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể
được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1). Theo công
ước về quyền trẻ em, trẻ em do còn non nớt về trí tuệ và vì thế cần được bảo vệ và
chăm sóc đặc biệt kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi
ra đời. Sự ra đời của khái niệm quyền trẻ em đã mở rộng cơ sở của các hoạt động
bảo vệ trẻ em từ các khía cạnh đạo đức, xã hội sang khía cạnh pháp lý, bác bỏ quan
điểm trước đây coi trẻ em như những đối tượng hoàn toàn phụ thuộc, thậm chí là
một dạng “tài sản” của các bậc cha mẹ [30, tr. 54].
Như vậy, theo công ước này thì trẻ em đã được xác định là người dưới 18
tuổi (trừ trường hợp pháp luật quốc gia quy định độ tuổi sớm hơn). Vậy là Công
ước quy định vấn đề độ tuổi theo hướng mở, bởi mỗi quốc gia có quan niệm khác
nhau về trẻ em, nên độ tuổi được xác định là trẻ em cũng khác nhau; tùy vào điều
kiện kinh tế xã hội của nước mình, có thể quy định độ tuổi của trẻ em sớm hơn.
Bên cạnh khái niệm Trẻ em, Liên hợp quốc còn dùng khái niệm “Người chưa
thành niên”. Các văn bản pháp luật quốc tế khác như: Quy tắc Bắc Kinh, hướng dẫn Riat
và Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do
thường sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên là những người chưa đến 18 tuổi”.
Ngoài ra, khái niệm trẻ em còn có sự khác nhau ở cách quy định độ tuổi
trong lĩnh vực cụ thể, ví dụ như ở một số văn bản, văn kiện khác nhau của một số tổ
chức thuộc Liên hiệp quốc như Quỹ dân số Liên Hiệp quốc (VNFPA), tổ chức lao
động quốc tế (ILO) và tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc
(UNESCO) thì trẻ em là những người dưới 15 tuổi.
9
10
trong pháp luật quốc tế, đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức và hoạt động bảo vệ
trẻ em trên thế giới. Năm 1948, Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn thế giới về
quyền con người, trong đó khẳng định trẻ em cũng là chủ thể của quyền con người.
Năm 1959, Liên hợp quốc thông qua bản tuyên ngôn (thứ hai) về quyền trẻ em, phát
triển nội dung của Tuyên ngôn Geneva 1924. Từ năm 1959 đến những năm 80 của
thế kỷ XX, một loạt văn kiện quốc tế khác cũng được thông qua, trực tiếp hoặc gián
tiếp đề cập đến các quyền của trẻ em. Tuy vậy, các văn kiện đó không có tính chất
ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý hoặc chưa tiếp cận từ vị thế đặc biệt và chú trọng đến
nhu cầu đặc thù của trẻ em nên tác động trên thực tế rất hạn chế. Đến năm 1989,
Liên hợp quốc thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em, tính đến thời điểm
này, đây là văn kiện quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em. Mặc dù vậy,
đây không phải là văn kiện quốc tế duy nhất về lĩnh vực này, mà còn nhiều văn kiện
khác, trong đó tiêu biểu là hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung CRC về sử
dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và về buôn bán trẻ em, bóc lột và văn
hóa phẩm khiêu dâm trẻ em…
Cùng với sự ra đời của CRC, việc thành lập Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc và
Ủy ban trẻ em của Liên hợp quốc năm 1990 cũng là một thành công to lớn trong
lịch sử bảo vệ và phát triển các quyền trẻ em. Hoạt động của các cơ quan này đã
góp phần thúc đẩy các quốc gia thành viên trong việc tôn trọng và thực thi các biện
pháp bảo đảm cho trẻ em ở những nước này được hưởng tối đa những quyền được
đề cập trong CRC.
Sự ra đời của Quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế đã giúp mở rộng cơ sở
cho các hoạt động hỗ trợ, bảo vệ trẻ em từ các khía cạnh đạo đức, xã hội sang khía
cạnh pháp lý, bác bỏ các quan niệm trước đó cho rằng trẻ em là những đối tượng
hoàn toàn phụ thuộc vào các bậc cha mẹ.
1.1.2.2. Quyền trẻ em theo pháp luật Việt Nam
3. Trẻ em phải được cứu trước tiên khi có tai ương.
4. Trẻ em phải được tạo dựng để kiếm sống và phải được bảo vệ
khỏi mọi hình thức bóc lột.
5. Trẻ em phải được nuôi dạy trong lương tri và tài năng của trẻ
em phải được dành phục vụ cho đồng bào của mình.
Năm 1959, Bản Tuyên ngôn thứ hai về Quyền trẻ em được Liên Hiệp quốc
thông qua. Năm 1989 Công ước quyền trẻ em đã được thông qua. Công ước gồm 54
12
điều, tại Điều 1 Công ước đã đưa ra khái niệm trẻ em, theo đó “Trẻ em có nghĩa là
người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi
thành niên sớm hơn”.
Công ước xác lập các nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ em xuyên suốt các điều
khoản, bao gồm:
1. Không phân biệt đối xử trong việc đảm bảo thực hiện các
quyền trẻ em.
2. Dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em.
3. Trẻ em có quyền xác lập, bày tỏ các ý kiến riêng của mình và
quyền đó phải được tôn trọng.
4. Những quy định trong pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế
có lợi hơn cho trẻ em so với những điều khoản quy định trong công ước
sẽ được sử dụng.
Trên cơ sở bốn nguyên tắc cơ bản nêu trên, sự điều chỉnh của công ước đối
với việc bảo vệ quyền trẻ em bao gồm các nhóm quyền sau:
- Nhóm quyền được sống còn, bao gồm quyền của trẻ em được sống và
được đáp ứng những nhu cầu để tồn tại. Các nhu cầu đó gồm: mức sống đủ, có nơi
ở và được chăm sóc sức khoẻ... Nhóm quyền sống còn không chỉ bao gồm quyền
sống mà còn bao gồm các quyền có liên quan đến việc duy trì cuộc sống của trẻ em.
em. Trong công ước CRC 1989, ngay trong lời mở đầu đã ghi nhận rất rõ ràng” do
còn non nớt về mặt thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc
biệt”. Điều 10 công ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm
1966 nêu rõ “ Quốc gia phải ban hành những biện pháp đặc biệt để bảo vệ và hỗ trợ
các trẻ em và thiếu niên không phân biệt tình trạng phụ hệ hay bất cứ thân trạng
nào”. Tất cả trẻ em đều được bảo vệ không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính,
ngôn ngữ, tôn giáo… Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản được nêu ở điều 2
công ước quốc tế về quyền trẻ em.
1.1.3.1. Định nghĩa quyền được bảo vệ của trẻ em
Trong cuộc đời hoạt động đầy cống hiến và hy sinh của mình, trẻ em luôn là
lớp “công dân đặc biệt” được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm cụ thể, sâu
14
sát. Cho dù ở vào những giai đoạn gay cấn nhất của cách mạng, cho dù bận trăm
công, nghìn việc, quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một
trong những công việc Bác thường làm, được Bác coi là quan trọng và luôn thường
trực trong suy nghĩ, hành động của Người. Chăm lo cho thế hệ trẻ, cho trẻ em được
thể hiện trong phong cách sống, trong đạo đức, trong tầm nhìn chiến lược và khoa
học của Hồ Chí Minh. Ở Người, quan điểm về bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đã
sớm trở thành một bộ phận của tư tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội văn
minh, dân giàu, nước mạnh. Dân tộc không được giải phóng thì trẻ em không được
bảo vệ, chăm sóc, không được hưởng các quyền lợi cơ bản của mình. Đất nước
không được giàu mạnh thì trẻ em không được ấm no, hạnh phúc [47].
Trong Luật trẻ em 2016 của Việt Nam, tại khoản 1, điều 4 có giải thích:
“Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được
sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ
em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” [28, Điều 4].
Từ đó có thể kết luận rằng: Quyền được bảo vệ của trẻ em là các quyền cho
- Thứ ba: Bảo vệ trẻ em chống lại các hình thức bóc lột.
“Bóc lột trẻ em là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật về
lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động
du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ em để
hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi” [28, Điều 4].
Hiện nay, tình trạng bóc lột trẻ em, nhất là trong lĩnh vực lao động xảy ra ở mọi
quốc gia. Chính vì vậy, việc bảo vệ trẻ chống lại các hình thức bóc lột được đặt ra là
một nhu cầu cấp thiết. Tại điều 32 CRC có quy định: trẻ em được bảo vệ không bị bóc
lột về kinh tế và không phải làm bất cứ công việc nào nguy hiểm, có hại đối với sức
khỏe hay sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức, hay xã hội của trẻ em.
1.1.3.3. Hình thức và cấp độ của quyền được bảo vệ của trẻ em
Từ những nội dung nêu trên về quyền được bảo vệ của trẻ em, người ta đã
xây dựng một thang thể hiện các cấp độ bảo vệ trẻ em để đánh giá hiệu quả trong
việc thực hiện quyền được bảo vệ của trẻ em.
- Cấp độ 1: Cấp độ phòng ngừa
Cấp độ phòng ngừa gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với cộng
đồng, gia đình và mọi trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức về bảo vệ
trẻ em, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em, giảm thiểu nguy
cơ trẻ em bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
16
- Cấp độ 2: Cấp độ hỗ trợ
Cấp độ hỗ trợ bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em có
nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm kịp thời
phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em.
- Cấp độ 3: Cấp độ can thiệp
Cấp độ can thiệp bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em
và gia đình trẻ em bị xâm hại nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại; hỗ trợ chăm sóc
Công ước quyền trẻ em:
Các công ước quốc tế về nhân quyền, cụ thể là công ước quốc tế về quyền trẻ
em năm 1989 là công cụ pháp lý quốc tế quan trọng và hiệu quả nhất trong việc bảo
vệ các quyền của trẻ em nói chung và quyền được bảo vệ của trẻ em nói riêng. CRC
là tập hợp những quy định pháp lý quốc tế một cách toàn diện nhằm mang lại lợi ích
và bảo vệ cho trẻ em. CRC quy định các quyền con người cơ bản của trẻ em. Công
ước là văn kiện quyền con người được nhiều nước phê chuẩn nhất trong lịch sử.
Công ước bao gồm 54 điều và có bốn nguyên tắc cơ bản là:
- Trẻ em không bị phân biệt đối xử.
- Lợi ích tốt nhất của trẻ em phải được đặt lên hàng đầu trong các
chương trình nghị sự đưa ra các quyết định liên quan đến trẻ em.
- Trẻ em có quyền được sống và phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ.
- Trẻ em có quyền được phát biểu ý kiến của mình và ý kiến của các em
phải được tôn trọng trong các vấn đề liên quan đến các em.
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn
CRC vào năm 1990. Khi chính phủ phê chuẩn công ước thì trẻ em được hưởng quyền
ở tất cả các giai đoạn trong cuộc đời như: Quyền được sống, được phát triển và được
bảo vệ. Bằng việc phê chuẩn công ước thì các chính phủ đã cam kết thực hiện Công
ước. Các quyền của trẻ em là những quyền cơ bản, chính đáng, là một phần trong số
các nhu cầu thiết yếu với tất cả mọi người, mọi trẻ em đều có các quyền như nhau.
Các quyền trẻ em đồng thời là trách nhiệm, nghĩa vụ của các quốc gia, vấn đề này
phải được công nhận và quy định cụ thể bằng pháp luật của mỗi quốc gia.
Công ước quy định hệ thống các quyền được bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội. Hệ thống các quyền được bảo vệ của trẻ em được
phân loại thành các quyền như sau:
18
Bảo vệ quyền khai sinh, có họ tên và có quốc tịch của trẻ em. Các công