ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. MAI VĂN THẮNG HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
VÀ VAI TRÒ CỦA TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO
ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI 7
1.1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƢỜI 7
1.1.1. Khái niệm về quyền con ngƣời 7
1.1.2. Đặc điểm và các thuộc tính cơ bản của quyền con ngƣời 9
1.1.3. Phân loại quyền con ngƣời 11
1.2. LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI 12
1.2.1. Khái niệm bảo đảm quyền con ngƣời và cơ chế bảo đảm quyền
con ngƣời 12
1.2.2. Các phƣơng thức, hình thức cơ bản đảm bảo quyền con ngƣời 15
1.3. LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI 16
1.3.1. Pháp luật tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con ngƣời 16
1.3.2. Đặc điểm cơ bản và ý nghĩa của pháp luật tố tụng hình sự với
việc bảo đảm quyền con ngƣời 18
1.4. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM TRONG MỐI TƢƠNG QUAN VỚI VIỆC BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƢỜI 19
1.4.1. Pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn trƣớc năm 1945 19
1.4.2. Pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 20
1.4.3. Pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003 21
1.4.4. Pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn từ năm 2003 đến nay 23
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 26
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 27
2.1. VAI TRÕ CỦA CÁC MÔ HÌNH VÀ NGUYÊN TẮC TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI 27
2.1.1. Mô hình tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con ngƣời 27
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 77
3.1. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG VỀ VAI TRÕ CỦA PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI 77
3.1.1. Những quan điểm, định hƣớng của Đảng và Nhà nƣớc trong việc
bảo đảm quyền con ngƣời bằng pháp luật tố tụng hình sự 77
3.1.2. Định hƣớng phát triển của pháp luật tố tụng hình sự với việc bảo
đảm quyền con ngƣời theo Hiến pháp nƣớc Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 79
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, NÂNG
CAO VAI TRÕ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI 80
3.2.1. Hoàn thiện các quy định chung dƣới góc nhìn bảo đảm quyền
con ngƣời 80
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về ngƣời tham gia tố tụng 82
3.2.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về cơ quan tiến hành tố tụng,
ngƣời tiến hành tố tụng 84
3.2.4. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về các chế tài xử lý
khi vi phạm 86
3.2.5. Tăng cƣờng hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục về quyền
con ngƣời 86
3.2.6. Tăng cƣờng vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, của công luận
và của nhân dân 87
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con ngƣời là một giá trị đƣợc kết tinh trong suốt chiều dài lịch
sử đấu tranh không mệt mỏi của nhân loại và luôn gắn liền với phẩm giá của
mỗi con ngƣời, là một đảm bảo chắc chắn cho phẩm giá của họ khỏi mọi sự
chà đạp, xâm hại. Xã hội hiện đại có rất nhiều công cụ, phƣơng tiện và các cơ
chế khác nhau nhằm bảo đảm sao cho quyền con ngƣời luôn đƣợc ghi nhận,
tôn trọng, bảo vệ và thực thi. Trong số đó, pháp luật luôn đƣợc coi là công cụ,
phƣơng tiện hữu hiệu nhất.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn coi con ngƣời là trung tâm,
đồng thời là mục tiêu, động lực trong quá trình xây dựng và phát triển. Các
quyền con ngƣời đƣợc chính thức ghi nhận bằng pháp luật thông qua Hiến
pháp, các đạo luật, các văn pháp pháp luật khác, cũng nhƣ bằng nhiều chủ
trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc. Hiến pháp Việt Nam
năm 2013, văn kiện pháp lý cao nhất của Việt Nam, đã ghi nhận một cách
trang trọng, rõ ràng và toàn diện các quyền con ngƣời, đặc biệt đƣợc nêu tập
trung tại Chƣơng II “Quyền con ngƣời, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân”. Bên cạnh đó, cùng với quyết tâm xây dựng nhà nƣớc pháp quyền và hội
Trƣớc yêu cầu đặt ra từ thực tiễn xét xử, mong muốn và quyết tâm của
Đảng và Nhà nƣớc trong việc đƣa pháp luật TTHS thực sự trở thành công cụ
hữu hiệu bảo đảm quyền con ngƣời trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng xã hội
pháp quyền và hội nhập quốc tế, đồng thời xuất phát từ mong muốn góp phần
đƣa ra những cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật tố tụng
hình sự trong việc bảo đảm quyền con ngƣời, từ đó đề ra phƣơng hƣớng, giải
pháp bảo đảm quyền con ngƣời trong pháp luật tố tụng hình sự tôi đã chọn đề
tài “Vai trò của pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo đảm quyền con
người” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các nhà
khoa học về quyền con ngƣời, quyền công dân từ các góc độ và với các mức
độ khác nhau. Trong đó phải kể đến công trình nhƣ sau:
Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia của GS.TSKH. Lê Văn Cảm,
TS. Nguyễn Ngọc Chí, ThS. Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì: “Bảo vệ quyền
con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật TTHS trong giai đoạn xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”, năm 2006; Luận án tiến sĩ của tác
giả Nguyễn Quang Hiền: “Bảo vệ quyền con người trong TTHS Việt Nam”,
năm 2008; Luận án tiến sĩ của tác giả Lại Văn Trình “Bảo đảm quyền con
người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam”,
năm 2011; Tác giả Nguyễn Quang Hiền với bài “Bảo vệ quyền con người
của người bị buộc tội”, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật Số 1/2010; Tác giả
Hồ Sỹ Sơn với bài “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự và một số
đề xuất về hoàn thiện pháp luật”, Tạp chí Luật học Số 1/2011. Ngoài ra, có
những công trình, tác giả đi sâu nghiên cứu việc bảo vệ một quyền cụ thể là
quyền bào chữa của bị can, bị cáo (Phạm Hồng Hải, Nguyễn Văn Tuân,
Đinh Văn Quế, Lại Văn Trình…); các tác giả khác thì nghiên cứu việc bảo
vệ quyền con ngƣời của bị can, bị cáo trong một chế định TTHS cụ thể là áp
về quyền con ngƣời và vai trò của pháp luật TTHS trong việc bảo đảm quyền
con ngƣời trong, nghiên cứu những quy định của pháp luật, từ đó làm sáng tỏ
những bất cập hạn chế, để đƣa ra những kiến nghị và giải pháp tăng cƣờng vai
trò của pháp luật TTHS trong việc bảo đảm quyền con ngƣời ở Việt Nam.
Từ những mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con ngƣời và vai trò của pháp
luật TTHS trong việc bảo đảm quyền con ngƣời.
5
- Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật TTHS cũng nhƣ thực trạng
áp dụng pháp luật TTHS liên quan đến bảo đảm quyền con ngƣời, đồng thời
nêu ra những hạn chế, bất cập hạn chế vai trò của pháp luật TTHS trong việc
bảo đảm quyền con ngƣời.
- Kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
TTHS Việt Nam, nâng cao vai trò của pháp luật TTHS trong việc bảo đảm
quyền con ngƣời.
5. Phương nghiên cứu đề tài
Để đạt đƣợc những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận Luận văn đƣợc
triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê
Nin, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về xây dựng nhà nƣớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Quá trình nghiên cứu cũng sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa
học nhƣ: phƣơng pháp so sánh, phân tích tài liệu, phƣơng pháp tổng hợp,
đồng thời ứng dụng những thành tựu của khoa học luật TTHS, xã hội học
pháp luật trong các công trình của các nhà khoa học, luật gia ở trong và
ngoài nƣớc. Ngoài ra đề tài còn sử dụng trung thực các số liệu thống kê của
các cơ quan áp dụng pháp luật, các sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành để
làm rõ những tri thức khoa học liên quan đến đề tài.
6. Những điểm mới, đóng góp mới, ý nghĩa của Luận văn
Luận văn đã đƣa ra cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật TTHS với
pháp luật. Nghiên cứu đề tài cũng yêu cầu khối lƣợng lớn thời gian, công sức
nghiên cứu cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn của tình hình thực hiện và áp dụng các
quy định về bảo đảm quyền con ngƣời. Do chƣa thể đáp ứng đầy đủ những đòi
hỏi đó nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận
đƣợc và xin chân thành cảm ơn các ý kiến phê bình, đóng góp của mọi độc giả
quan tâm đến luận văn!
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ VAI TRÒ CỦA TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƢỜI
1.1.1. Khái niệm về quyền con người
Trong suốt chiều dài lịch sử, loài ngƣời luôn đấu tranh giải phóng con
ngƣời nhằm xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Theo đó tƣ
tƣởng về quyền con ngƣời và bảo vệ quyền con ngƣời cũng xuất hiện từ thời
xa xƣa trong lịch sử nhân loại, dƣới các hình thức khác nhau, trong tất cả các
nền văn hóa và tôn giáo. Trong các thời kỳ cổ đại và phong kiến, tƣ tƣởng về
quyền con ngƣời đã đƣợc đề cập đến nhƣng còn rời rạc. Khi cách mạng tƣ sản
nổ ra thắng lợi với những tiền đề tƣ tƣởng và thành tựu của khoa học tự nhiên
thì vấn đề quyền con ngƣời mới đƣợc đặt ra nhƣ một học thuyết, hay nói cách
khác, quyền con ngƣời bắt đầu đƣợc chính thức công khai thừa nhận. Các nội
dung đầu tiên của quyền con ngƣời quốc tế có thể đƣợc tìm thấy trong các
Hiệp định về Quyền tự do tôn giáo, Công ƣớc Westphalia năm 1648, Công
ƣớc chế độ nô lệ năm 1926. Đặc biệt, sau khi Liên hợp quốc ra đời thì có
Hiến chƣơng của Liên hợp quốc 1945; Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
ngày 10-12-1948; Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm
1966 và hai Nghị định thƣ bổ sung; Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế,
thuận pháp lý quốc tế”[10, tr.38].
Từ đó, có thể rút ra đƣợc khái niệm về quyền con ngƣời nhƣ sau:
Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người
mà không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính, dân tộc hay tôn giáo, được
ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế.
9
1.1.2. Đặc điểm và các thuộc tính cơ bản của quyền con người
Các đặc điểm của quyền con người
- Quyền con người từ góc độ đạo đức – tôn giáo: Quyền con ngƣời bắt
nguồn từ các quan niệm về chuẩn mực đạo đức, các đối xử giữa ngƣời với
ngƣời trong xã hội. Các giá trị đạo đức có thể tìm thấy trong học thuyết của các
tôn giáo. Các ý tƣởng về quyền con ngƣời trở thành những quy phạm đạo đức –
tôn giáo, đề cao và cổ vũ tình yêu thƣơng đồng loại, sự công bằng, bình đẳng,
tự do và nhân phẩm. Có thể nói quá trình phát triển của quyền con ngƣời luôn
phản ánh và mang nặng dấu ấn của các giá trị và quy tắc đạo đức, tôn giáo.
- Quyền con người từ góc độ lịch sử - xã hội: Nhìn từ góc độ lịch sử -
xã hội, quyền con ngƣời bắt nguồn từ các quan hệ xã hội, là kết quả và phụ
thuộc vào sự vận động của các quan hệ xã hội. Trong mỗi giai đoạn lịch sử,
xã hội loài ngƣời tồn tại những quan niệm khác nhau về các quyền, tự do và
nghĩa vụ, cũng nhƣ những quy phạm và cơ chế khác nhau để thực hiện, giám
sát và bảo vệ các quyền, tự do và nghĩa vụ đó. Theo đó, quyền con ngƣời
ngày càng mở rộng, từ ý niệm, tƣ tƣởng đến các quy tắc, quy phạm và cơ chế;
từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Vì thế, quyền
con ngƣời luôn mang những dấu ấn về chính trị, kinh tế, văn hoá của từng
thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử của xã hội loài ngƣời.
- Quyền con người từ góc độ triết học: Sự hình thành và phát triển của
quyền con ngƣời phản ánh quy luật phát triển của xã hội loài ngƣời từ thấp
đến cao và phản ánh quy luật tiến hoá trong nhận thức và hành động của con
ngƣời về khái niệm sơ khai nhất về tự do, công bằng, bình đẳng. Những tƣ
chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền
kia. Ngƣợc lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hƣởng đến các
quyền khác [69, tr.31].
11
1.1.3. Phân loại quyền con người
Quyền con ngƣời có phạm vi và nội dung rộng nên thƣờng đƣợc chia ra
thành các nhóm theo những tiêu chí khác nhau. Hiện nay, có rất nhiều cách
phân loại quyền con ngƣời nhƣ sau:
- Phân loại theo lĩnh vực: Quyền con ngƣời đƣợc phân thành hai nhóm
chính: các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Cách
phân chia này dựa trên hai công ƣớc quốc tế cơ bản về quyền con ngƣời của
Liên hợp quốc năm 1966 (Công ƣớc về các quyền chính trị, dân sự và Công
ƣớc về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá). Trong đó các quyền dân sự
thông thƣờng bao gồm quyền sống; quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
danh dự, nhân phẩm, quyền tự do đi lại, các quyền về tài sản ; các quyền
chính trị bao gồm quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tham gia quản lý xã
hội ; các quyền kinh tế bao gồm quyền đƣợc hƣởng mức sống thích đáng;
quyền tự do kinh doanh; quyền lao động ; các quyền xã hội bao gồm quyền
đƣợc hƣởng an sinh xã hội ; các quyền văn hoá bao gồm quyền đƣợc giáo
dục, quyền đƣợc tham gia và hƣởng thụ đời sống văn hoá Tuy nhiên, cách
phân chia này chỉ mang tính chất tƣơng đối, bởi lẽ một số quyền có thể đƣợc
xếp vào nhiều hơn một nhóm.
- Phân loại theo chủ thể của quyền: Quyền con ngƣời đƣợc chia thành
quyền cá nhân và quyền của nhóm (ví dụ nhƣ quyền của phụ nữ, trẻ em,
ngƣời cao tuổi… Quyền cá nhân đƣợc hiểu là các quyền thuộc về mỗi cá nhân
và việc hƣởng thụ các quyền này phụ thuộc vào mỗi cá nhân, cá nhân này
không là thành viên của bất kỳ một nhóm xã hội nào. Quyền của nhóm đƣợc
hiểu là những quyền đặc thù, chung của một tập thể hay một nhóm xã hội
nhất định, mà để đƣợc hƣởng thụ các quyền này cần phải là thành viên của
thành tiếng nói chung của cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt màu da, địa
13
vị, thành phần. Nhờ có pháp luật mà quyền con ngƣời trở thành giá trị chung
của nhân loại, đƣợc loài ngƣời cùng nhau tôn trọng, bảo vệ.
Cơ chế bảo đảm quyền con người
Theo cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” thì cơ chế là cách thức sắp xếp tổ
chức để làm đƣờng hƣớng, cơ sở theo đó mà thực hiện [70, tr.464]. Theo đó,
cơ chế bảo đảm quyền con ngƣời là cách thức sắp xếp, tổ chức để bảo vệ
quyền con ngƣời đƣợc thực hiện. Các cơ chế bảo đảm quyền con ngƣời gồm
có cơ chế quốc tế (mà nòng cốt là cơ chế Liên Hợp quốc), cơ chế khu vực và
cơ chế quốc gia.
Cơ chế quốc tế trong việc bảo đảm quyền con người: Thể hiện ở bộ
máy các cơ quan và các quy tắc, thủ tục về thúc đẩy, bảo vệ quyền con ngƣời
trong hệ thống Liên hợp quốc. Căn cứ vào vị thế pháp lý và chức năng, nhiệm
vụ, các cơ quan quyền con ngƣời Liên hợp quốc đƣợc chia thành hai dạng:
các cơ quan đƣợc thành lập theo Hiến chƣơng (cơ chế dựa trên Hiến chƣơng)
và các cơ quan đƣợc thành lập theo một số điều ƣớc quan trọng về quyền con
ngƣời (cơ chế dựa trên điều ƣớc). Cơ chế dựa trên Hiến chƣơng là các cơ
quan hình thành theo Hiến chƣơng Liên hợp quốc, theo đó chức năng, nhiệm
vụ liên quan đến quyền con ngƣời của các cơ quan này đƣợc xác định bởi
Hiến chƣơng nhằm nghiên cứu, xây dựng các dự thảo văn kiện, thẩm định,
theo dõi, giám sát và điều hành các chƣơng trình, hoạt động về quyền con
ngƣời. Cơ chế dựa trên công ƣớc là thành lập lên các ủy ban giám sát việc
thực hiện một số công ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời đƣợc thành lập theo
quy định của chính các công ƣớc đó nhằm giám sát, thúc đẩy việc thực hiện
các điều ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời, thông qua việc nhận, xem xét và ra
khuyến nghị liên quan đến các báo cáo về việc thực hiện các công ƣớc này
của những quốc gia thành viên [10, tr.327-366].
khu vực Nam Á (SAARC) thành lập năm 1985 đã thông qua nhiều văn kiện
về nhân quyền khu vực nhƣ Hiến chƣơng Xã hội SAARC, Công ƣớc SAARC
về chống buôn bán phụ nữ và trẻ em làm mại dâm …Tại khu vực Đông Nam
Á, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thông qua Hiến chƣơng
ASEAN và tuyên bố Nhân quyền ASEAN (thông qua tại Hội nghị cấp cao
ASEAN lần thứ 21 đƣợc tổ chức tại Phnom Penh, Campuchia vào ngày 18
tháng 11 năm 2012), đây là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN về thúc
đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực [1]
Cơ chế quốc gia trong việc bảo đảm quyền con người: Nòng cốt của cơ
chế là các cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền nhằm thực hiện
những nghĩa vụ của các nhà nƣớc đƣợc nêu trong tất cả các văn kiện quốc tế
về quyền con ngƣời. Một số tổ chức đƣợc thành lập ở nhiều nƣớc trên thế giới
là Ủy ban quyền con ngƣời quốc gia, Thanh tra Quốc Hội [10, tr.380-385].
1.2.2. Các phương thức, hình thức cơ bản đảm bảo quyền con người
Các phương thức cơ bản bảo đảm quyền con người là:
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn kiện, văn bản pháp luật
trong việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con ngƣời
- Xây dựng tổ chức bộ máy, cơ quan chuyên trách về bảo vệ, thúc đẩy
và phát triển quyền con ngƣời, đồng thời giám sát và xử lý những hành vi vi
phạm về quyền con ngƣời.
Các hình thức cơ bản bảo đảm quyền con người là:
- Tham gia và tuân thủ nghiêm chỉnh các điều ƣớc, công ƣớc quốc tế về
quyền con ngƣời.
- Chuyển hoá các quy định của luật nhân quyền quốc tế vào hệ thống
pháp luật quốc gia: Pháp luật quốc tế phải đƣợc phản ánh cụ thể trong pháp
luật quốc gia, thông qua việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản pháp
luật mới cho phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế hoặc áp dụng
trực tiếp luật nhân quyền quốc tế tại toà án quốc gia.
16
các hoạt động TTHS, là lĩnh vực hoạt động nhà nƣớc đặc biệt ở bất kỳ quốc
gia nào trên thế giới nhằm phát hiện ra tội phạm, ngăn chặn các hành vi tội
phạm, tiến hành các hoạt động tố tụng thì việc áp dụng biện pháp cƣỡng chế
trong TTHS là sự cần thiết khách quan, có tính phổ biến và hậu quả của nó
là hạn chế một cách trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân do hiến
pháp quy định.
Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy
định của pháp luật. Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến
hành tố tụng (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), ngƣời tiến hành tố tụng
(điều tra viên, kiểm sát viên, Thẩm phán, hội thẩm nhân dân và Thƣ ký phiên
tòa), ngƣời tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, ngƣời bào chữa ), của cá nhân, cơ
quan nhà nƣớc khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo
quy định của Luật Tố tụng hình sự [16, tr. 7-8]. Hoạt động TTHS rất cần đến sự
tham gia của các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức… Trong bất kỳ một nhà nƣớc
nào thì các quy định của pháp luật TTHS đều có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng
là nhằm bảo vệ các quyền và tự do của con ngƣời và của công dân với tƣ cách là
những giá trị xã hội cao quý nhất đƣợc thừa nhận chung của nền văn minh nhân
loại tránh khỏi sự tùy tiện của một số quan chức trong các cơ quan tiến hành tố
tụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp chế và dân chủ, áp dụng sai các
quy định của pháp luật TTHS vì xác động cơ vụ lợi, cá nhân. Hoạt động tố tụng
hình có tính chất đặc thù bởi quyết định đến sinh mạng chính trị của con ngƣời,
và có ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền cơ bản của con ngƣời, đến các quyền công
dân. Do đó, một trong những mục tiêu quan trọng của pháp luật TTHS là bảo
đảm tôn trọng và thực hiện các quyền con ngƣời trong hoạt động TTHS.
Pháp luật TTHS là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án hình sự. Pháp luật TTHS có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ
quyền con ngƣời thông qua việc ngăn ngừa, ngăn chặn và phát hiện chính xác tội
18