ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ VĂN HỞI
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BÀO ĐÀM s ự
■
■
■
THỐNG NHẤT GIỮA BẢN CHẤT GIAI CẤP, TÍNH DÂN
TỘC, TÍNH NHÂN DÂN CỦA NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
■
a
7
Chuyên ngành
: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Mã số
: 5.01.03
KHOA HỌC
3. CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
4. ĐHĐBTQ:
Đại hội Đại biểu toàỉrquốc
5. HĐND:
Hội đồng nhân dân
6. NĐ-CP:
Nghị định Chính phủ
7. Nxb:
Nhà xuất bản
8. UBND:
Uỷ ban nhân dân
9. UBTVQH:
Uỷ ban thường vụ Quốc hội
10. XHCN:
1.2. Mối quan hộ giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân
của Nhà nước CHXHCN Việt nam
15
1.2.1. Sự thông nhất biện chứng giữa bản chất giai cấp, tính dân
tộc và tính nhân dân là đặc trưng cơ bản của Nhà nước
CHXHCN Việt nam
15
1.2.2. Tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân
tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay là một yêu
21
cầu khách quan
Chương 2: Pháp luật và vai trò của nó đối với việc bảo đảm sự thống
nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân
dân của Nhà nước ta.
2 .1 . Pháp luật và mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật
2.2. Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản
chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta.
29
29
34
Chương 3: M ột số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò
qua việc nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của các cơ
60
quan lập pháp, hành pháp và tư pháp
3.2.3. Bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quá
trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật.
3.2.4. Tổ chức thực hiện pháp luật.
69
76
Kết luận
79
Phụ lục
82
Danh mục tài liêu
84
VI
MỞ ĐẨU
1
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân ; đề
cao vai trò của pháp luật và thấy rõ sự tác động của pháp luật nhằm bảo đảm
sự thống nhất giữa các yếu tố đó của nhà nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân khác nhau, pháp luật nước ta hiện nay chưa phát huy được đầy đủ vai trò
của nó trong việc bảo đảm, tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp,
tính dãn tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta. Do đó việc tiếp tục nghiên cứu
làm rõ vai trò của pháp luật ; phân tích thực trạng của pháp luật và đề ra
phương hướng xây dựng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường vai trò của nó
trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính
nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
hiện nay là vấn đề có tính cấp bách cả về mật lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi chọn vấn đề : "Vai trò của pháp
luật trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính
nhân dân của Nhà nước ta hiện nay " làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Đã từ lâu khi nghiên cứu về nhà nước nhiều nhà tư tưởng lớn của nhân
loại đã đề cập đến việc xây dựng một nhà nước pháp quyền tiêu biểu như
Platôn, Arixtốt rồi đến Mong terkiơ, Rút xô ... Những thế kỷ gần đây, lý luận
về nhà nước pháp quyền được phát triển chủ yếu ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Để xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền tư sản, các học giả tư sản
cũng nêu cao vai trò của pháp luật.
Ở Việt Nam, tư tưởng về tính dân tộc, tính nhân dân của nhà nước xuất
hiện khá sớm, nhưng vấn đề nhà nước pháp quyền thì mới được chính thức
khẳng định tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng
1/1994). Đó cũng là điểm khỏi đầu cho một giai đoạn nghiên cứu, luận giải
mối liên hệ giữa pháp luật với các lĩnh vực khác trong đó có nhà nước. Gần
đây hàng loạt các công trình về nhà nước pháp quyền, tính dân tộc, tính nhân
giữa chúng, hoặc là nghiên cứu vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp
quyền. Việc nghiên cứu hai vấn đề trên trong một chỉnh thể thống nhất để
thấy được vai trò của pháp luật trong việc củng cố sự thống nhất biện chứng
giữa bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân trong quá trình
xây dựng Nhà nước ta còn ít được quan tâm. Luận văn này góp phần nghiên
cứu thêm vấn đề đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
Trên cơ sở làm rõ bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân và sự
thống nhất biện chứng giữa chúng trong Nhà nước ta, luận vãn góp phần luận
3
giải vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất ấy và nêu lên một
số phương hướng phát huy vai trò của pháp luật trong việc củng cố sự thống
nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà
nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay.
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ nội dung bản chất giai cấp cồng nhân, tính dân tộc, tính nhân
dân và sự thống nhất biện chứng giữa chúng trong Nhà nước ta.
- Làm rõ vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm sự thống nhất biện
chứng giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của Nhà nước ta và
thực trạng vai trò đó hiện nay.
- Nêu lên một số phương hướng cơ bản nhằm phát huy vai trò của pháp
luật ừong việc củng cố và tăng cường sự thống nhất giữa bản chất giai cấp,
tính dân tộc, tính nhân dân trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lỷ luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về nhà nước và
pháp luật, đồng thời có sử dụng những thành tựu của các công trình nghiên
NHÀ NƯÓC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VÀ Sự THỐNG NHẤT GIỮA CHÚNG
1.1.
BẢN CHẤT GIAI CẤP, TÍNH DÂN TỘC VÀ TÍNH NHÂN DÂN CỦA
NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
1.1.1. Bản chất giai cấp của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Để thấy được bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà
nước ta và sự thống nhất giữa chúng cần phải làm rõ nhà nước là gì, nguồn
gốc ra đời cũng như bản chất của nhà nước như thế nào.
Nhà nước là vấn đề quan trọng đã được nhiều nhà tư tưởng đề cập đến
với nhiều công trình nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề phức tạp này, nhất là
về bản chất giai cấp của nó. Ngược dòng lịch sử, chúng ta thấy từ thời cổ đại,
Trung đại đã có nhiều nhà tư tưởng đưa ra nhiều kiến giải khác nhau về nguồn
gốc của nhà nước. Nhìn chung họ đều đi tìm cội nguồn của nó từ những căn
nguyên phi vật chất. Cho đến thế kỷ XVII - XVIII, xuất hiện hàng loạt các
quan niệm mới với các cách giải thích khác nhau về cái "khế ước xã hội".
Những học thuyết này đều dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
tâm, coi nhà nước lập ra do ý muốn chủ quan của các bên tham gia khế ước.
Họ cũng không giải thích được cơ sở kinh tế - xã hội làm xuất hiện nhà nước
cũng như bản chất của nó.
Khắc phục những hạn chế đó, chủ nghĩa Mác-Lênin với quan điểm duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử đã chứng minh một cách khoa học rằng, nhà
nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu, bất biến. Nó chỉ xuất hiện khi lực
lượng sản xuất đã phát triển đến một trình độ nhất định, nhà nước luôn vận
động biến đổi, phát triển và nó sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan
mà trên đó nó tổn tại không còn nữa.
chất tốt đẹp đó, được khẳng định trong văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ VIII của
Đảng là: "Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; lấy
liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm
nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của
nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm
phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân" [13, 129] . Mô hình nhà nước đó
đã thể hiện quá trình nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo của Đảng ta trên cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn xây dựng
nhà nước trên thế giới. Đồng thời nó cũng thể hiện những nét riêng, mang tính
đặc thù phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay.
Bản chất giai cấp của Nhà nước ta hiện nay thể hiện ở những nội dung
cơ bản sau:
M ột là, những chủ trương, chính sách của Nhà nước đều xuất phát từ
quan điểm của giai cấp công nhân. Khi đề ra những chủ trương, chính sách
đó, đều phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, phản ánh đúng quy
luật khách quan nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và
của toàn thể nhân dân lao động. Kiên trì bảo vệ mục tiêu lý tưởng của giai cấp
9
công nhân là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho đù tình hình trong và
ngoài nước có nhiều biến đổi thì nhà nước vẫn không xa rời mục tiêu lý tưởng
đó. Bản chất giai cấp của Nhà nước ta không chỉ thể hiện ở số lượng đảng viên
xuất thân từ thành phần công nhân có trong bộ máy nhà nước nhiều hay ít, mà
điều quan trọng hơn là ở chỗ, những chủ trương, chính sách của nhà nước có
quán triệt quan điểm, lập trường của giai cấp công nhân hay không, nhà nước
có thực sự là của dân, do dân và vì dân hay không.
Hai là, Nhà nước ta hiện nay luôn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt động của mình.
mức độ đậm nhạt khác nhau tuỳ thuộc vào các kiểu và hình thức nhà nước cụ thể.
Tính dân tộc của Nhà nước CHXHCN Việt Nam được thể hiện ở những
nội dung cơ bản sau:
Một là, Nhà nước CHXHCNViệt Nam có nguồn gốc ra đời từ cuộc đấu
tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân ta để giải phóng dân tộc. Nhà nước ta luôn là
người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và chủ quyền dân tộc, luôn quan
tâm đến quyền độc lập và tự do của dân tộc. Nhà nước ta hiện nay có nguồn gốc
ra đời từ Nhà nước dân chủ nhân dân phát triển lên và nó đã kế thừa, phát huy
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Đó là kho tàng vồ cùng phong phú và
quý báu, là tinh hoa của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong quá trình xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước ta hiện nay, bên cạnh việc coi trọng học tập kinh
nghiệm của các nước trên thế giới, thì điều quan trọng hơn và trước tiên phải
biết học tập kinh nghiệm của chính eha ồng ta, biết tổng kết lịch sử của chính
mình. Có như vậy mới "nhân lên sức mạnh của nhần dân ta để vượt qua khó
khăn, thử thách, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ... tạo ra thế và lực mới
cho đất nước ta đi vào thế kỷ 21" [15, 8].
Haỉ là, Nhà nước CHXHCN Viêt Nam hiện nay có nguồn gốc sức
mạnh và cơ sở chính trị là khối đại đoàn kết dân tộc thể hiện trong Mặt trận
dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
"Đoàn kết tạo nên sức mạnh", mệnh đề đó được xem là đúng với mọi
không gian và thời gian. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, quan hệ tốt đẹp
giữa các dân tộc trên đất nước ta đã có từ lâu. Sự đoàn kết thống nhất giữa các
dân tộc ấy đã tạo nên sức mạnh "dời non lấp biển" để đánh thắng mọi kẻ thù
và vững bước xây dựng một Nhà nước Việt Nam XHCN. Phát huy truyền
thống đó, Đảng ta một lần nữa khẳng định: "Tăng cường khối đai đoàn kết
toàn dân, cả trong nước và ở nước ngoài, phát huy dân chủ, động viên tối đa sức
11
12
kể cơ sở xã hội của Nhà nước ta"[51, 13], góp phần làm tăng thêm sức mạnh của bộ
máy nhà nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.
Ba ĩà, Nhà nước ta hiện nay không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động mà còn đại biểu cho lợi ích chân chính của các
dân tộc. Nhà nước ngày càng có những chính sách dân tộc đúng đắn.
Như đã đề cập ở phần trên, vấn đề dân tộc là vấn đề hết sức phức tạp.
V.I. Lê nin đã chỉ ra rằng: "Chỉ có một sự quan tâm lớn lao đến lợi ích của các
dân tộc khác nhau thì mới loại trừ được nguồn gốc của mọi sự xung đột, mới
trừ bỏ được lòng nghi ngờ lẫn nhau, mới trừ bỏ được nguy cơ gây ra những
mưu đồ nào đó, mới tạo được lòng tin, nhất là lòng tin của công nhân và nông
dân không nói cùng một thứ tiếng; nếu không có lòng tin đó thì những quan
hệ hòa bình giữa các dân tộc cũng như sự phát triển thuận lợi đôi chút của tất
cả những gì quỷ báu trong nền văn minh hiện đại đều tuyệt đối không thể thực
hiện được" [30, 287].
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta ngày càng có nhiều chính sách
đúng đắn nhằm bảo đảm lợi ích của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu
số, vùng sâu, vùng xa, qua đó đã phát huy được sức mạnh của cả cộng đồng
vào quá trình xây dựng chính quyền nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.3.
Tính nhân dân của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Nhà nước XHCN nói chung, Nhà nước CHXHCN Việt Nam nói riêng
mang tính nhân dân sâu sắc. Tính nhân dân của Nhà nước ta được thể hiện ở
những điểm cơ bản sau:
nhân dân sâu sắc của Nhà nước ta hiện nay.
Tính nhân dân của Nhà nước ta hiện nay còn được biểu hiện ở chỗ, tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đều vì dân, lấy việc phục vụ nhân dân
làm mục tiêu cao cả.
"Cái "do dân" mà nhà nước nào cũng có" [31, 59], nhưng để thấy được
thực chất của nó phải căn cứ vào chỗ nó phục vụ lợi ích cho ai. Cho nên tính
"do dân" của nhà nước luôn được xem xét trong quan hệ hữu cơ với tính "vì
dân". Đây được coi như là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt các kiểu nhà nước
trong lịch sử. ở nước ta, xây dựng một nhà nước vì dân đã được Chủ tịch Hồ
Chí Minh đặc biệt quan tâm. Người yêu cầu tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước cũng như mọi cán bộ, viên chức nhà nước đều phải hướng tới phục
vụ lợi ích của nhân dân, "việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có
hại đến dân ta phải hết sức tránh"[39, 57]. Đương nhiên đó phải là những lợi
ích, nhu cầu chính đáng phù hợp với xu thế phát triển chứ không phải bất kỳ
nhu cầu, lợi ích nào. Đổi mới Nhà nước ta hiện nay cũng chính là nhằm làm
cho nó ngày càng sát dân hơn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
ngày được nâng cao. Đó là xu hướng ngày càng tăng lên chức năng xã hội
14
trong sự thống nhất với chức năng thống trị giai cấp của nhà nước, là sự thể
hiện đậm nét tính nhân dân trong sự thống nhất với tính dân tộc và bản chất
giai cấp của nó. Xu hướng đó đang được nhân dân ủng hộ một cách nhiệt tình,
tích cực. Chỉ có sự ủng hộ của nhân dân thì sự nghiệp đổi mới nói chung cũng
như trên lĩnh vực nhà nước nói riêng mới mang lại hiệu quả.
Hai là, tính nhân dân của Nhà nước CHXHCN Việt Nam còn được thể
hiện ở chỗ, sức mạnh của Nhà nước có nguồn gốc từ sức mạnh của nhân dân.
Lịch sử ra đòfi, tồn tại và phát triển của Nhà nước ta là lịch sử của sự
gắn bó máu thịt giữa nhà nước và nhân dân. Không chỉ còn là "gần dân",
15
là sản phẩm chủ quan của giai cấp này hay giai cấp khác. Nhà nước là sản
phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp. Vì thế, về mặt khách quan, nhà nước không
chỉ bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp thống trị mà trong chừng mực nhất định
nó còn phải thực hiện những lợi ích của các giai cấp khác trong xã hội.
Vậy các nhà nước bóc lột đã giải quyết những lợi ích của xã hội như thế
nào ? Phải chăng nó chỉ gìn giữ, duy trì trật tự công cộng, xây dựng một số
công trình và cơ sở kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của xã hội ... nhằm làm
cho xã hội tồn tại trong vòng "trật tự" của gia cấp bóc lột. Việc các nhà nước
của giai cấp bóc lột có sự quan tâm nhất định đến lợi ích của người lao động,
điều đó không xuất phát từ thiện chí, lòng từ thiện của nó, mà suy cho cùng nó
xuất phát từ lợi ích căn bản của giai cấp thống trị. Một giai cấp không thể thực
hiện được sự thống trị đối với xã hội nếu nó không quan tâm đến lợi ích chung
của tóàn xã hội. Làm rõ vấn đề này để tránh một cách hiểu cực đoan về bản
chất giai cấp của nhà nước, không thấy được tính xã hội, chức năng công
quyền của nó của nó mặc dù bản chất giai cấp vẫn là cái chi phối. Trong
chừng mực nhất định, các nhà nước bóc lột có quan tâm đến lợi ích của quần
chúng nhân dân ỉao động, nhưng cần phải thấy rằng trong các chế độ bóc lột
đó về cơ bản không có cơ sở khách quan cho sự thống nhất giữa bản chất giai
cấp, tính dân tộc và tính xã hội. Bởi vì, giai cấp nắm chính quyền nhà nước là
những giai cấp bóc lột có lợi ích căn bản đối lập với lợi ích của quần chúng
nhân dân lao động và của dân tộc. Vì thế không thể có sự thống nhất ý chí và
nguyên vọng giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột. Mặt khác, các nhà
nước bóc lột dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Chế độ kinh tế
đó đã lấy sự bất bình đẳng về kinh tế làm tiền đề, mà khi đã không có sự bình
đẳng về kinh tế thì tất yếu cũng không thể có bình đẳng về chính trị. Do đó cái
gọi là "bình đẳng" của mọi công dân ngay cả khi nó được ghi nhận trong hiến
dân tộc và tính nhân dân là đặc trưng bản chất của Nhà nước ta. Bản chất đó
có cội nguồn từ sự thống nhất lợi ích căn bản của giai cấp công nhân Việt
Nam với đa số quần chúng nhân dân lao động mà vấn đề lợi ích của giai cấp,
của dân tộc và của nhân dân lao động đã được C.Mác và Ph.Ăng ghen đề cập
đến từ lâu, tuy ở thời kỳ của các ông phong trào giải phóng dân tộc chưa phát
triển mạnh. Theo các ông, xóa bỏ áp bức giai cấp là điều kiện để xoá bỏ áp
bức dân tộc, giai cấp công nhân sẽ không thể giải phóng được mình nếu không
giải phóng dân tộc và toàn xã hội. Để làm được điều đó thì giai cấp công nhân
ở mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một
giai cấp dân tộc, trở thành một giai cấp dân tộc. Điều đó có nghĩa là giai cấp
công nhân sau khi giành được chính quyền phải trở thành người đại diện chân
ĐAI HOC G U O C '3.A
TRUNGTÂMTHQKGTiỉ' Ĩ > J
17
•
r
chính và chính thức cho dân tộc và nhân dân lao động. Khi đó lợi ích căn bản
của giai cấp công nhân, của dân tộc và của nhân dân lao động là thống nhất.
Chính lợi ích, mà đặc biệt là lợi ích kinh tế là "chất keo" kết dính các giai tầng
trong xã hội có chung lợi ích căn bản lại với nhau. Bởi vì, theo C.Mác, tất cả
những gì con người đấu tranh để giành lấy đều gắn liền với lợi ích của họ.
Không có cái lợi ích chung đó thì không có sự đoàn kết thống nhất, thậm chí
nó có thể là lực đẩy chia rẽ các giai tầng nếu đó là lợi ích đối lập. Cho nên,
việc xây dựng một nhà nước thể hiện sự thống nhất giữa bản chất giai cấp, tính
dân tộc và tính nhân dân cần phải dựa trên cơ sở của sự kết hợp hài hòa những
lợi ích căn bản. Nhưng nếu "Tuyệt đối hóa quan điểm giai cấp, lợi ích giai cấp
chủ nhân dân.
Có thể nói trong mấy chục năm xây dựng nhà nước, đặc biệt là trong
thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng ta đã rất coi trọng việc giải quyết đúng đắn
mối quan hệ này nhằm bảo đảm sự thống nhất hữu cơ giữa việc tăng cường
bản chất giai cấp công nhân với việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước.
Điều đó được thể hiên ở chỗ: những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước đều nhằm bảo đảm sự thống nhất quyền lợi của giai cấp công nhân với
quyền lợi của nhân dân lao động và quyền lợi của các tầng lớp, cá nhân trong
xã hôi. Nhà nước ngày càng có chính sách phù hợp hơn bảo đảm lợi ích của
các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc vùng sâu, vùng xa. Nhờ có sự giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân
mà trong những năm gần đây sức mạnh của Nhà nước ta ngày càng được củng
cố và tăng cường, đủ sức thực hiện chức năng và nhiệm vụ đáp ứng đòi hỏi
của thực tiễn đang đặt ra.
Như vậy, về bản chất, mối quan hệ giữa bản chất giai cấp công nhân,
tính dân tộc và tính nhân dân là thống nhất và là đặc trưng cơ bản của Nhà
nước ta. Tuy nhiên, sự "Kết hợp nhuần nhuyễn tính dân tộc, tính nhân dân và
tính giai cấp ... không phải lúc nào cũng luôn luôn thống nhất” [60, 75]. Ở
thời kỳ trước đổi mới nhà nước có lúc đã nhấn mạnh đến bản chất giai cấp, lợi
ích giai cấp mà coi nhẹ việc thực hiện chức năng xã hội, việc đáp ứng những
yêu cầu hợp lỷ của nhân dân lao động. Để bảo đảm sự thống nhất đó cần phải
có những điều kiện, sự tác động của tổng thể các yếu tố và phải trải qua một
quá trình xây dựng, củng cố lâu dài của Đảng và nhân dân ta. Đổi mới bộ máy
nhà nước nhằm làm cho nó ngày càng thể hiện bản chất vốn có của nó đang là
một trong những vấn đề quan trọng cấp bách trong quá trình đổi mới hệ thống
chính tri ở nước ta hiện nay.
20
dân của nó. Xét từ cội nguồn ra đời, nhà nước nào cũng nảy sinh từ một xã
21