Những vấn đề cơ bản về sự tham gia của ngân hàng thương mại vào thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 26

BÀI LÀM
Như một quy luật mang tính phổ biến của nhiều nước trên thế giới, ngân
hàng thương mại là một tổ chức cung cấp tín dịch vụ giữ một vai trò rất quan
trọng đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
I.Những vấn đề cơ bản về sự tham gia của ngân hàng thương mại vào
thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trước tiên chúng ta sẽ tim hiểu vai trò của NHTM tham gia vào quá
trình phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
1. Trên thị trường sơ cấp.
a. Vai trò phát hành:
Nhằm phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng, nhu cầu vốn dài hạn thông qua
phát hành trái phiếu của các NHTM là rất lớn. Cho đến nay, hoạt động phát
hành trái phiếu của các NHTM chưa phải là hoạt động thường xuyên, liên tục.
Tuy nhiên, đợt phát hành trái phiếu tăng vốn vừa qua của Ngân hành Ngoại
thương (NHNT) đã chứng tỏ mối quan tâm lớn của thị trường đối với trái
phiếu ngân hàng, đặc biệt là các NHTM hoạt động tốt có uy tín. Nhằm phục
vụ cho tăng trưởng kinh tế, yêu cầu về mở rộng quy mô vốn của các NHTM
càng đặt ra bức thiết. Việc các NHTM phát hành trái phiếu có ý nghĩa quan
trọng: một mặt, nó góp phần tăng hàng hoá cho thị trường chứng khoán, mặt
khác nó là một kênh dẫn vốn quan trọng cho các NHTM cho mục tiêu tăng
trưởng của nền kinh tế.
b. Vai trò đầu tư trực tiếp:
Với tiềm lực tài chính mạnh và khả năng sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư
dài hạn, các NHTM có thể đóng vai trò là nhà đầu tư trên thị trường trái
phiếu, đặc biệt là đối với trái phiếu Chính phủ, vốn đòi hỏi tầm nhìn đầu tư
trung và dài hạn. Trên thực tế, một số lượng lớn trái phiếu Chính phủ và công
trái là do NHTM mua. Trong năm 2005, tổng lượng trái phiếu Chính phủ phát
1
hành là 17.226 tỷ đồng, trong đó các NHTM mua 12.058 tỷ đồng, chiếm
khoản 70%.
c. Vai trò phân phối, bảo lãnh phát hành:

trường. Ở đây, sự kết hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với thị trường
chứng khoán sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh
(đầu cơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời tăng tính thanh khoản của thị trường.
c. Cho vay chứng khoán:
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán rất phổ biến đối với các TTCK phát
triển. Tại Mỹ, Cục dự trữ liên bang (Fed) thực hiện nghiệp vụ này với các đại
lý sơ cấp đối với trái phiếu Chính phủ. Nghiệp vụ này một mặt làm tăng thanh
khoản của thị trường, mặt khác giúp Fed điều tiết được lượng cung tiền. Tài
sản thế chấp thường là tiền mặt. Nghiệp vụ cho vay chứng khoán giữa các
trung gian tài chính có phạm vi rộng hơn cả về danh mục chứng khoán cho
vay cũng như danh mục tài sản thế chấp. Bên vay thế chấp tài sản khi nhận
chứng khoán và phải trả lại chứng khoán, đồng thời nhận lại tài sản thế chấp
khi đáo hạn. Việc cho vay chứng khoán thực sự góp phần làm tăng tính thanh
khoản của thị trường, đồng thời có thể giúp các bên tham gia (đặc biệt là đối
với các trung gian tài chính) tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh
chứng khoán đi vay hoặc nhận thế chấp.
II.Thực trạng tham gia của NHTM vào TTCK Việt Nam:
Cách đây vài năm, khi cần tiền người ta có thể dễ dàng vay họ hàng, bạn
bè thậm chí đến vài chục nghìn USD. Nhưng khi có phong trào "người người,
nhà nhà chứng khoán" thì khác.
Minh - nhân viên một công ty TNHH ở Hà Nội - nói: "Thời buổi tiền đẻ
ra tiền thế này đi vay khó lắm, vài triệu còn được chứ vài chục triệu trở lên thì
chỉ có đi vay ngân hàng".
Vốn vay ngân hàng là một trong những giải pháp đầu tiên mà các nhà
đầu tư cá nhân tính đến khi kinh doanh chứng khoán. Tại Hội nghị triển khai
3
nhiệm vụ ngân hàng năm 2007 của ngành ngân hàng, đại diện lãnh đạo Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương phát biểu: "Thời gian qua có sự luân
chuyển vốn rất lớn trên thị trường tài chính, trong đó một phần vốn của thị
trường tiền tệ đang được dùng để đầu tư trên thị trường chứng khoán và tiềm

chứng khoán Những khoản vay như vậy được hạch toán vào tài khoản cho
vay mục đích sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ nên ngay cả ngân hàng
cũng khó biết thực chất mình đang cho vay kinh doanh chứng khoán.
Đã có một số bài báo dựa trên số liệu của thị trường chứng khoán năm
2006 để chứng minh là lượng vốn ngân hàng đổ vào thị trường chứng khoán
đang ở mức thấp và kiểm soát được. Tuy nhiên, đó chỉ là số liệu thống kê trên
thị trường chính thức, chưa ai tính được lượng vốn ngân hàng đổ vào thị
trường OTC.
Số nợ này sẽ lộ diện và lập tức trở thành nợ quá hạn, nợ không có khả
năng thu hồi khi thị trường chứng khoán sụt giá mạnh.
Theo kết quả khảo sát gần 5.000 độc giả của báo điện tử VnEconomy
đầu năm, gần một nửa số người được hỏi định hướng sẽ đổ vốn vào thị trường
chứng khoán. Điều này cho thấy kinh doanh chứng khoán sẽ còn rất sôi động
trong năm 2007.
Các khoản tiền nhàn rỗi của nhiều cá nhân và hộ gia đình ở Hà Nội và
Tp.HCM hầu hết đã vét đổ vào chứng khoán trong thời gian thị trường "nóng"
vừa qua. Để tiếp tục kinh doanh, người ta sẽ phải tìm cách huy động vốn từ
ngân hàng. Vốn hoá bất động sản sẽ là phương án nhiều nhà đầu tư cá nhân
tính đến.
Trong một bối cảnh nhạy cảm như thế này, các ngân hàng thương mại
nên quan tâm đến việc kiểm tra trước và sau mục đích sử dụng vốn vay của
khách hàng, kể cả các doanh nghiệp để đề phòng rủi ro cho chính mình và
5
phòng ngừa khủng hoảng cho cả nền kinh tế vì những hệ lụy từ rủi ro hệ
thống ngân hàng.
Nghiệp vụ cho vay vốn cầm cố cổ phiếu mới xuất hiện đối với các
ngân hàng thương mại cổ phần ở nước ta cuối năm 2005 và đầu năm 2006,
gia tăng mạnh vào các tháng 4, 5 và 6/2006 vừa qua.
Một câu hỏi được nhiều nhà chính sách và một bộ phận dư luận đặt ra là
cho vay cầm cố cổ phiếu có rủi ro hay không!

tiền gửi bảo đảm thanh toán, thanh tra, kiểm soát, kiểm toán bắt buộc, công
khai báo cáo tài chính
Thứ ba, không phải tất cả các loại cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ
phần đều được cầm cố để vay vốn. Các ngân hàng cho vay chỉ lựa chọn cổ
phiếu của những ngân hàng thương mại cổ phần được đánh giá ở vị trí hàng
đầu hay trung bình khá, như cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần:
Á Châu, Sacombank, Đông Á, Quân Đội, VP Bank, Kỹ Thương
Thứ tư, các ngân hàng đang cho vay cầm cố cổ phiếu thực hiện mức cho
vay dựa trên uy tín của loại cổ phiếu ngân hàng và thị giá cổ phiếu trên thị
trường. Trong hợp đồng cho vay cầm cố cổ phiếu, nhiều ngân hàng thương mại
cổ phần còn bổ sung các điều khoản bắt buộc, đó là nếu thị giá cổ phiếu xuống
dưới mức cho vay thì khách hàng phải bổ sung thêm tài sản thế chấp hay cầm
cố. Trong hợp đồng cho vay cầm cố cổ phiếu cũng có các điều khoản kê khai các
nguồn thu nhập chính, thu nhập bổ sung, tài sản có giá trị khác của khách hàng.
Thứ năm, trước khi cho vay, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ phong tỏa
cổ phiếu hết sức chặt chẽ và đúng quy định của pháp luật. Có những lo ngại
rằng, khi cổ phiếu xuống quá thấp trong thời gian dài, khách hàng không có
khả năng trả nợ, ngân hàng phải phát mại và bán tháo cổ phiếu. Khi đó giá cổ
phiếu đồng loạt sẽ tiếp tục xuống thấp, gây ra rủi ro lớn cho ngân hàng.
7
Đây đúng là một tình huống xấu nhất có thể xẩy ra. Song trong thực tế
trong tình huống đó ngân hàng cho vay cầm cố cổ phiếu không dại gì ồ ạt bán
tống, bán tháo cổ phiếu ra. Bởi vì là các nhà kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng
đều nhận thức được rằng, cổ phiếu có lúc lên giá và có lúc xuống giá là
chuyện bình thường, nên việc bán cổ phiếu ra lúc nào là tùy thuộc và nghệ
thuật kinh doanh của ngân hàng.
Cho vay cầm cố chứng khoán là một nghiệp vụ cho vay bình thường có
tính thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng. Mở ra cho vay cầm cố cổ phiếu
là một nghiệp vụ mới đối với các ngân hàng thương mại ở nước ta, nhằm đa
dạng các sản phẩm tín dụng theo xu hướng hội nhập, phân tán rủi ro, tăng thu

ngân hàng thương mại như: VDSC, VISecurities, ABS, ORS sẽ diễn ra
thuận lợi hơn so với các công ty cổ phần chứng khoán khác.
Tuy nhiên, các công ty chứng khoán không có sự tham gia góp vốn của
ngân hàng thương mại cũng có thể hợp tác với các ngân hàng thương mại để
thực hiện các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ tài chính khác.
Đối với các công ty chứng khoán là công ty con của ngân hàng thương
mại hoặc các công ty chứng khoán có thể kết nối hệ thống giao dịch của công
ty với hệ thống của ngân hàng thương mại thì việc nộp, rút tiền của nhà đầu tư sẽ
thuận lợi hơn do nhà đầu tư chỉ phải liên hệ để nộp tiền, rút tiền tại một ngân
hàng thương mại và thực hiện việc giao dịch chứng khoán tại các công ty chứng
khoán. Việc kết nối hệ thống giữa ngân hàng thương mại và công ty chứng
khoán có thể cho phép hai bên quản lý tốt được số dư tiền của nhà đầu tư.
Thời gian gần đây hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đua nhau mở
thêm chi nhánh mới, thường xuyên tuyển dụng thêm nhân viên, có tốc độ tăng
trưởng vốn huy động rất cao và thường xuyên tăng vốn điều lệ.
9
Một câu hỏi được đông đảo dư luận đặt ra là hệ thống ngân hàng thương
mại cổ phần có phát triển "quá nóng" hay không? Thực tế là nếu nhìn vào tốc
độ phát triển của một số chỉ tiêu sau đây thì câu hỏi trên của dư luận là hoàn
toàn có cơ sở.
Mọi chỉ tiêu kinh doanh đều tăng rất nhanh
Về quy mô tài sản, đây là chỉ tiêu quan trọng nhất và phản ánh tập trung,
bao quát nhất mức độ lớn, sự phát triển của một ngân hàng. Kết thúc năm
2005, bình quân các ngân hàng thương mại cổ phần có tốc độ tăng khoảng
48% - 50% so với cuối năm 2004, gấp 2,5 lần tốc độ tăng chung của toàn
ngành ngân hàng Việt Nam và gấp 5-6 lần tốc độ tăng trung bình của thế giới.
Kết thúc năm 2005, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế - VIB có
tốc độ tăng cao nhất, đạt tổng tài sản là 8.978,2 tỷ đồng, tăng 117,9% so với
cuối năm 2004. Tiếp đến là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt
Nam - Techcombank, đạt tốc độ trên 63%; Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Như vậy, tất cả các chỉ tiêu quan trọng nhất của một ngân hàng thương
mại đều có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các năm trước đó, cũng như so
với tốc độ tăng bình quân chung của toàn ngành ngân hàng, bình quân chung
của khu vực và thế giới.
Sự phát triển có vững chắc?
Một là về chất lượng hoạt động, ngoài các chỉ tiêu nói trên, thì thực trạng
nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hoạt động của một ngân
hàng thương mại.
Thực hiện Quyết định số 149/QĐ - TTg, ngày 5-10-2001, của Thủ tướng
Chính phủ, phê duyệt đề án cơ cấu lại tình hình tài chính, xử lý nợ tồn đọng
của các ngân hàng thương mại, các ngân hàng thương mại cổ phần đã thực
hiện nhiều giải pháp hữu hiệu để giảm thấp tình trạng nợ xấu.
11
Đến nay hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần có tỷ lệ nợ xấu khá
thấp, tính đến hết năm 2005 bình quân chỉ là 2,0% trong tổng dư nợ và tính
đến hết tháng 8-2006, tỷ lệ này vẫn được kiềm chế.
Hai là, để thực hiện chiến lược tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại toàn diện các
hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh trước yêu cầu hội nhập, hệ thống
ngân hàng thương mại cổ phần phải mở rộng mạng lưới, chiếm lĩnh thị phần.
Ba là, mở rộng mạng lưới, phát triển quy mô, tăng số lượng nhân viên đi
kèm với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Các ngân hàng thương mại cổ
phần ở nước ta hiện nay thực hiện việc tuyển dụng nhân viên mới theo đúng
thông lệ quốc tế, loại trừ được việc nhận người vào làm việc theo quan hệ.
Cùng với đó là cơ chế quản trị điều hành, các quy trình quản lý và
nghiệp vụ, cũng thường xuyên được hoàn thiện, bổ sung, chỉnh sửa và ban
hành mới, phù hợp với thực tiễn và sát với thông lệ quốc tế.
Bốn là, sự phát triển về quy mô đi liền với hiện đại hóa công nghệ ngân
hàng. Hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần đã và đang triển khai các
chương trình phần mềm quản lý, phần mềm kế toán và thanh toán, phần mềm
giao dịch, hiện đại của các hãng nổi tiếng trên thế giới và do các hãng có uy

soát việc cho vay cầm cố, thế chấp, repo chứng khoán.
Một là, đẩy mạnh thị trường OTC với nòng cốt là hoạt động của các
NHTM và công ty chứng khoán. Đồng thời, cần sớm triển khai đưa trung tâm
lưu ký chứng khoán vào hoạt động. Trung tâm lưu ký chứng khoán độc lập
này sẽ tập trung hoá tất cả hoạt động lưu ký đối với các chứng khoán niêm yết
và đăng ký giao dịch của hai Trung tâm giao dịch tại Hà Nội và TP. Hồ Chí
Minh, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch ngoài sàn do các NHTM, công
ty chứng khoán thực hiện.
Hai là, thu hút mạnh đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân nhỏ và phát triển
dịch vụ quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng cá nhân. Với dịch vụ này,
13
các NHTM sẽ thiết kế các sản phẩm để thu hút vốn để đầu tư trong nước hoặc
liên kết với các đối tác nước ngoài để bán các sản phẩm quỹ đầu tư của nước
ngoài (đầu tư ra nước ngoài).
Ba là, tiếp tục phát triển các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.
Tham khảo mô hình của Singapore cho thấy: tại một thị trường tài chính lớn
và phát triển như Singapore, nơi có trên 230 công ty quản lý tài sản với
khoảng 1.000 nhân viên và quản lý trên 450 tỷ SGD (khoảng 276 tỷ USD),
mà các điều kiện đầu tư đối với các nhà đầu tư cá nhân rất đơn giản và dễ
dàng. Nếu đầu tư vào các thị trường phát triển và các nước đông nam á, nhà
đầu tư chỉ cần có 1.000 SGD (hoặc tương đương nếu là ngoại tệ khác), tức
khoảng 615 USD, đối với các thị trường khác là 5.000 SGD (khoảng 3.000
USD). Thêm vào đó, chính sách thuế thu nhập đối với nhà đầu tư và công ty
quản lý quỹ cũng rất ưu đãi như: miễn thuế thu nhập đối với các nhà đầu tư
không cư trú, áp dụng biểu thuế luỹ thoai đối với công ty quản lý quỹ .
Bốn là, tạo khuôn khổ pháp lý khuyến khích NHTM tham gia hoạt động
chứng khoán việc khuyến khích các NHTM tham gia hoạt động chứng khoán,
đặc biệt là hoạt động cổ phiếu sẽ phát huy được các thế mạnh của các NHTM,
đó là: (i) ưu thế về mạng lưới, (ii) khả năng phát triển thị trường OTC, và (iii)
xu thế của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính - ngân

triển ngoạn mục hơn nữa.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status