ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*
BÙI MINH THUẬN
TÁI ĐỊNH CƯ VÀ SỰ THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG
CỦA NHÓM ĐAN LAI (THỔ) Ở VƯỜN
QUỐC GIA PÙ MÁT
(Trường hợp người Đan Lai ở hai bản Tân Sơn và Cửa Rào,
xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI, 2010
Tính cấp thiết của đề tài
6
2.
Mục đích nghiên cứu
8
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
9
4.
Nguồn tài liệu và giả thiết khoa học
9
5.
Đóng góp của luận văn
10
6.
Cấu trúc luận văn
10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
11
1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
11
1.1.1.
Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
11
1.1.2.
Nghiên cứu của các tác giả trong nước
13
Tiểu kết chương 1
28
CHƯƠNG 2: NGƯỜI ĐAN LAI VÀ VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT
Ở NGHỆ AN
30
2.1.
Người Đan Lai ở Nghệ An
30
2.1.1.
Một số vấn đề về lịch sử tộc người
31
2.1.2.
Người Đan Lai ở Pù Mát (vùng khe Khặng)
37
2
2.2.
Từ rừng tự nhiên đến Vườn quốc gia Pù Mát
42
2.2.1.
Quá trình hình thành Vườn quốc gia Pù Mát
42
2.2.2.
bào miền núi ở Philippine
53
3.2.
Quá trình hình thành dự án tái định cư ở Vườn quốc gia
Pù Mát
56
3.2.1.
Chủ trương của nhà nước
56
3.2.2.
Tình hình thực tế của địa phương
57
3.3.
Quá trình chuẩn bị và thực hiện tái định cư
60
3.3.1.
Quá trình chuẩn bị tái định cư
60
3.3.2.
Quá trình thực hiện tái định cư
63
3.4.
Các hoạt động nông nghiệp
81
4.1.2.
Các hoạt động phi nông nghiệp
94
4.2.
Trong đời sống văn hoá - xã hội
101
4.2.1.
Đời sống cộng đồng làng bản
101
4.2.2.
Giáo dục, y tế
109
4.3.
Những vấn đề đặt ra
116
4.3.1.
Sở hữu tài nguyên
116
4.3.2.
Phương thức mưu sinh
117
4.3.3.
6
Ảnh minh hoạ
162 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB:
BQL:
BTTN:
CCĐCĐC&VKTM:
DCDC
ĐCĐC:
ĐHQG HN:
ĐKTN
KBTTN:
KBT:
SFNC:
PRA:
PTBV:
WB:
Nxb:
TĐC:
THCS:
THPT:
5
DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ Bảng 2.1:
Bảng 2.2:
Bảng 2.3:
Bảng 3.1: Sự phân bố người Đan Lai - Ly Hà ở Con Cuông (năm 1978)
Tình hình phân bố các hộ dân cư thuộc 3 bản vùng khe Khặng
Kết quả PRA về phân loại kinh tế các hộ gia đình
Đánh giá của người dân (PRA) về thuận lợi và khó khăn của
phương án tái định cư và định cư tại chỗ Sơ đồ 1.1:
Khung phân tích đời sống người dân sau tái định cư
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, vấn đề môi trường ngày càng trở nên bức xúc trong đời sống của
dự án: “Bảo tồn và PTBV tộc người thiểu số Đan Lai hiện đang sinh sống tại
vùng lõi VQG Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”. Theo kế hoạch, sẽ di
chuyển 146 hộ ra khỏi vùng lõi đến nơi ở mới và để lại 30 hộ. Đến nay đã tổ chức
được hai đợt với 78 hộ, 531 nhân khẩu ra ba bản TĐC tại Tân Sơn, Cửa Rào
thuộc xã Môn Sơn và Thạch Sơn thuộc xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông.
Người Đan Lai có mặt bằng dân trí thấp, đời sống vô cùng khó khăn, bao
đời nay các hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác các nguồn lợi của rừng.
Chính điều đó đã đặt ra những thách thức thực sự trong việc tiến hành TĐC và
đảm bảo đời sống cho đồng bào sau khi định cư tại địa bàn mới. Việc thay đổi địa
bàn cư trú chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống của cộng đồng.
Mặc dù đã được các ban ngành, các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo và
hỗ trợ trong quá trình định cư tại nơi ở mới nhưng cuộc sống của đồng bào vẫn
đang gặp rất nhiều khó khăn. Thuộc vào dạng thức di dân không tự nguyện, thực
tế quá trình di dân và TĐC đã cho thấy nhiều vấn đề nảy sinh sau TĐC như:
Thiếu nguồn nước để sinh hoạt và sản xuất; Đất sản xuất vừa thiếu vừa cằn cỗi;
Thay đổi về phương thức sản xuất, không gian sinh tồn; Sự lệ thuộc vào ngân
sách Nhà nước, vào dự án nước ngoài; Sốc do tiếp cận quá nhanh với các phương
tiện sống hiện đại; Sự bất hợp lý trong chính sách đất đai; Xung đột lợi ích (cộng
đồng và VQG, giữa các cộng đồng với nhau); Thay đổi tập quán sản xuất Trong
khi đó, nhiều vấn đề về kinh tế, văn hoá, xã hội phức tạp đã xuất hiện như những
thay đổi trong hoạt động nông nghiệp, quan hệ cộng đồng, quan hệ dòng họ,
phong tục, tập quán, nếp sống, những va chạm trong quan hệ tộc người
Sự hỗ trợ trong chính sách di dân, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và
bảo tồn văn hóa đã gây nên những mâu thuẫn giữa việc quá chú trọng tới việc
8
bảo tồn VQG mà bỏ qua vấn đề văn hóa, vấn đề đảm bảo sinh kế. Mâu thuẫn
giữa việc đầu tư quá nhiều vào các giải pháp hỗ trợ kinh tế nhằm xóa đói giảm
TNTN ở VQG Pù Mát.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự thay đổi đời sống của các hộ dân
người Đan Lai ở hai bản Tân Sơn và Cửa Rào xã Môn Sơn, huyện Con Cuông,
tỉnh Nghệ An sau khi thực hiện TĐC.
Phạm vi của đề tài là nghiên cứu phương thức mưu sinh, đời sống văn hoá
- xã hội của người Đan Lai ở hai bản Tân Sơn và Cửa Rào xã Môn Sơn, huyện
Con Cuông, tỉnh Nghệ An từ trước khi thực hiên di dân TĐC (năm 2002) cho đến
thời điểm hiện nay (tháng 6/2010).
4. Nguồn tài liệu và giả thiết khoa học
4.1. Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là tài liệu điền dã
được thu thập qua các đợt khảo sát tại địa bàn nghiên cứu.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các công trình nghiên cứu, các bài viết
về người Đan Lai, về vấn đề di dân TĐC, và bảo vệ TNTN trong các VQG của
các học giả trong nước (bao gồm sách, báo, tạp chí, thông báo khoa học, báo cáo
khoa học ) được lưu giữ tại các thư viện, UBND huyện Con Cuông, VQG Pù
Mát Cũng như các số liệu thống kê, báo cáo tổng kết về kinh tế - văn hoá - xã
hội của xã Môn Sơn và huyện Con Cuông trong những năm từ 2000 đến 2010.
4.2. Giả thiết khoa học
1. Quá trình di dân TĐC của người Đan Lai thuộc vào dạng thức di dân
TĐC không tự nguyện. Vì vậy, quá trình đó sẽ có những tác động về nhiều mặt
làm thay đổi đời sống của người dân.
2. Với sự thay đổi về môi trường sống nên chắc chắn sẽ có tác động đến
tập quán sản xuất và hoạt động kinh tế của người Đan Lai, vốn dựa nhiều vào các
hoạt động khai thác tự nhiên.
10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Nghiên cứu về các cộng đồng sống ven và trong các vùng sinh thái từ lâu
đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm tiến hành để đánh giá sự tác
động của những cộng đồng này với nguồn TNTN hay nói một cách khác là
nghiên cứu lối sống và ứng xử với môi trường sống của người dân bản địa.
Các tác phẩm tiêu biểu là J.E. Spencer với “Du canh ở Đông Nam Á”
(1966), “Những người nông dân trong rừng: Phát triển kinh tế và nền nông
nghiệp vùng đất khó canh tác ở Bắc Thái Lan” của B. Johnsin (1978), “Ai đang
ăn rừng?: dân số, tính hiện đại và nạn phá rừng ở Đông Nam Á” của Alberto
Gomes (1978), “Nông nghiệp và sử dụng tài nguyên trong một cộng đồng người
Kenya thuộc vùng rừng mưa miền xuôi” của See Chung Chin (1980), “Chúng tôi
ăn rừng…” của Georges Condominas (2008)
Ngoài ra, trong hệ thống công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
về vấn đề di dân và TĐC, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến các chuyên khảo sau:
Tham khảo kết luận của Uỷ ban Thế giới về Đập (2000) qua nghiên cứu
125 đập lớn tại 52 quốc gia cho thấy hàng triệu người dân sống ở hạ lưu các đập -
phụ thuộc vào hoạt động lũ tự nhiên và thuỷ sản - gặp những tổn thất nghiêm
trọng đến cuộc sống. Số người di dời không được xác định rõ, nên không được
đền bù hoặc đền bù thường không đủ. Mức độ di dời càng lớn, cuộc sống của
cộng đồng bị ảnh hưởng càng ít có khả năng được phục hồi. Thiếu cam kết chính
trị hoặc năng lực của các chính quyền ảnh hưởng bất lợi đến bảo tồn di sản văn
hoá, các công trình khảo cổ của các cộng đồng địa phương và sự biến mất của
động thực vật. Dân tộc thiểu số và dân sở tại dễ bị tổn thương và các ảnh hưởng
tiêu cực đến cuộc sống văn hoá và tinh thần khi đối mặt với các mất mát do di
dời. Trong các cộng đồng bị ảnh hưởng, khoảng cách về giới lớn và phụ nữ
13
của thuỷ điện Hoà Bình và thuỷ điện Yaly, luận văn đã đề cập đến những bất cập
trong công tác TĐC của các dự án thuỷ điện của Việt Nam và tác động của các
dự án đến đời sống của những người thuộc diện TĐC [14, tr.9].
Luận văn của Ulrika Bladh và Eva - Lena Nilsson, cũng tại Viện Công
nghệ Hoàng gia Thuỷ Điển năm (2005), với đề tài: “Xây dựng kế hoạch TĐC
không tự nguyện như thế nào - trường hợp dự án thuỷ điện Sơn La ở Việt Nam”.
(tiếng Anh) Thông qua luận văn đã cho thấy những tác động của quá trình TĐC ở
công trình thuỷ điện Sơn La đối với những người dân thuộc diện phải di dời,
thông qua hệ thống các nghiên cứu điểm trên địa bàn cả ba tỉnh Sơn La, Điện
Biên và Lai Châu. Đặc biệt, luận văn đã đi sâu xem xét vấn đề sở hữu đất đai, đền
bù, xây dựng cơ sở hạ tầng, xác định những đối tượng chịu ảnh hưởng của quá
trình TĐC, đồng thời xem xét mức độ tham gia của họ trong quá trình xây dựng
và triển khai kế hoạch [14, tr.9].
Các báo cáo và nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng
Phát triển châu Á (ADB) về quá trình TĐC phục vụ các dự án phát triển nói
chung, kết hợp với các hướng dẫn của ADB và WB về di dân và TĐC như:
“TĐC không tự nguyện” và “Sổ tay về TĐC - hướng dẫn áp dụng vào thực tiễn”
(ADB) và “Sách hướng dẫn về TĐC không tự nguyện - việc hoạch định và thực
hiện các dự án phát triển” và “Chính sách hoạt động đối với vấn đề TĐC không
tự nguyện” (WB) [14, tr.9].
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước
Trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi đã tiếp cận các công trình
nghiên cứu của nhiều tác giả về các vấn đề di dân, TĐC, bảo tồn và PTBV ở
VQG.
Các nghiên cứu về di dân TĐC và chính sách di dân tại Việt Nam đã được
tiến hành từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây. Cùng với tốc độ đầu tư và
phát triển nhanh cơ sở hạ tầng, di dân TĐC trong các dự án phát triển đang trở 15
không tránh khỏi tình trạng thông tin phản ánh chưa đầy đủ (đặc biệt là về mảng
vệ sinh, y tế). Việc đánh giá về môi trường chưa kết hợp với kết quả phân tích
mẫu đất, nước và không khí tại các điểm nghiên cứu. Chủ yếu sử dụng số liệu
quan sát, phỏng vấn và tài liệu sẵn có, bởi hạn chế về thời gian, kinh phí và ngôn
ngữ giao tiếp của đối tượng khảo sát đã ảnh hưởng đến chất lượng thông tin bảng
hỏi soạn sẵn.
Đoàn Bổng và Nguyễn Đức Anh (2007) với đề tài: “Bước đầu đánh giá
chất lượng cuộc sống người dân TĐC của dự án hồ Tả Trạch (Thừa Thiên
Huế)”. Đề tài khảo sát, tìm hiểu công tác thực hiện TĐC và phục hồi sinh kế của
người dân theo kế hoạch của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế; Khảo sát chất lượng
cuộc sống hiện tại của người dân sống ở các vùng TĐC thuộc dự án hồ Tả Trạch
và bước đầu đề xuất giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện công tác di dân TĐC.
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học của tác giả Khúc Thị Thanh
Vân bảo vệ tại Viện Xã hội học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam với đề tài:
“Ảnh hưởng của chính sách TĐC đối với cuộc sống người dân sau TĐC: Nghiên
cứu trường hợp thuỷ điện Bản Vẽ” (2008) . Luận văn đã cho thấy ảnh hưởng của
chính sách TĐC có tác động tới khả năng hoà nhập cộng đồng hoặc giữ gìn bản
sắc văn hoá của người dân. Luận văn cũng đề xuất những khuyến nghị cho việc
lập chính sách hoặc bổ khuyết các hoạt động trong quá trình thực hiện xây dựng
phương án TĐC, chương trình khôi phục cuộc sống trong một dự án phát triển.
Tuy nhiên, luận văn chưa chỉ rõ được hết những ảnh hưởng cụ thể lên yếu tố sinh
kế của người dân TĐC mà chủ yếu đi sâu vào phân tích các chính sách TĐC.
Trung tâm Dân số, Môi trường và Phát triển với dự án: “Sinh kế bền vững
cho đồng bào TĐC (thực hiện trên khu TĐC dự án thuỷ điện Bản Vẽ tại huyện
Thanh Chương)” (2008). Dự án đã đạt được những mục tiêu như sử dụng đất dốc
có hiệu quả và bền vững, sử dụng đất vườn có hiệu quả, tạo thu nhập mà không
Khổng Diễn về quá trình di dân cả nước cũng như di dân của các dân tộc qua hai
17
kỳ Tổng điều tra dân số 1979 và 1989 trong công trình nghiên cứu “Dân số và
dân số học tộc người ở Việt Nam” (1995).
Trong khuôn khổ dự án: “Giám sát xu hướng phát triển miền núi phía Bắc
Việt Nam” do Trung tâm Tài nguyên và Môi trường (CRES), Đại học Quốc gia
Hà Nội (ĐHQG HN) thực hiện đã tiến hành nghiên cứu “Hiện trạng kinh tế - xã
hội và môi trường bản khe Nóng thuộc VQG Pù Mát, huyện Con Cuông, Nghệ
An” (2000). Đây là địa bàn sinh sống của người Đan Lai trên địa bàn xã Châu
Sơn. Qua nghiên cứu cho thấy những nét cơ bản về quá trình hình thành và phát
triển của người Đan Lai. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn đề cập đến nhiều vấn đề
liên quan đến đời sống như hệ sinh thái nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình, quyền
sử dụng đất, tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên. Từ đó, nhóm nghiên cứu có
những kết luận và đưa ra các khuyến nghị nhằm góp phần cải thiện và nâng cao
đời sống cho đồng bào Đan Lai.
Ngoài những công trình nghiên cứu, các bài viết và chuyên khảo thì báo
chí là một nguồn tài liệu phong phú, đa dạng và có tính cập nhật cao, đã đề cập
đến nhiều khía cạnh của quá trình di dân TĐC ở VQG Pù Mát nói riêng và Việt
Nam hiện nay. Từ vấn đề quy hoạch, những bất cập nảy sinh trong quá trình di
dân và TĐC, sự khó khăn trong quá trình hoà nhập cuộc sống, những nỗ lực và
cố gắng của các cấp các ngành cũng như của người dân TĐC… Có thể điểm đến
một số bài viết tiêu biểu như: Di dân TĐC thuỷ điện Sơn La: Những khó khăn và
nỗ lực (Khánh Hưng, Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam, 5/2006), Di dân TĐC
thuỷ điện Sơn La - Hiện trạng và giải pháp (Tạp chí Hoạt động Khoa học - Bộ
Khoa học và Công nghệ, số 7/2007), Dự án TĐC: Chi hàng chục tỷ đồng để được
gì? (Phan Sáng, Báo Tiền Phong, 3/2006), Quê mới của người Đan Lai (Duy
Cường, Báo Sài Gòn giải phóng, 6/2006), Bảo tồn và phát triển tộc người thiểu
* Chọn điểm nghiên cứu:
- Là nơi sinh sống lâu đời và tập trung của cộng đồng người Đan Lai.
- Là nơi tiếp nhận dân TĐC từ VQG Pù Mát.
19
- Là nơi có tính đa dạng tộc người (nhằm nghiên cứu các vấn đề xã hội như
quan hệ tộc người, mối quan hệ giữa dân TĐC với dân bản địa).
- Là nơi có dân TĐC đến ở đã lâu (năm 2002). Để thấy được sự tác động
của chính sách TĐC; Sự thay đổi về mọi mặt trong đời sống của cộng đồng; Sự
thích ứng và hoà nhập của cộng đồng trước không gian sinh tồn mới.
* Đối tượng nghiên cứu:
- Về thành phần tộc người, là cộng đồng có những đặc trưng mang tính đặc
thù cao trong đời sống văn hoá - xã hội gắn chặt với điều kiện tự nhiên (ĐKTN)
của nơi cư trú (nhằm thấy được sự tác động của việc thay đổi môi trường sống).
- Về thành phần dân cư, có sự đa dạng về giới tính, lứa tuổi, tài sản, trình
độ học vấn (để thấy được mức độ tác động của việc TĐC đối với từng đối
tượng khác nhau như thế nào).
1.2.1.2. Thu thập thông tin, số liệu
* Nguồn số liệu:
- Nguồn số liệu thứ cấp: các thông tin về ĐKTN, đặc điểm kinh tế - văn
hoá và xã hội của huyện, của khu vực TĐC được thu thập qua báo cáo tổng kết
định kỳ, các tài liệu trong các phòng ban chức năng của tỉnh, huyện, xã và VQG
Pù Mát.
- Nguồn số liệu sơ cấp: các thông tin sơ cấp được thu thập trực tiếp trên
thực địa qua phỏng vấn người dân, thảo luận nhóm…
* Phương pháp thu thập số liệu:
- Phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal): là phương pháp đánh
giá nông thôn có người dân tham gia. Qua phương pháp này, người điều tra sẽ có
* Phương pháp phân tích và xử lý thông tin: các thông tin thu thập trong
quá trình khảo sát trên thực địa được sẽ tiến hành phân loại, xử lý bằng các
phương pháp thống kê, hệ thống hoá, sơ đồ hoá
Trong các phương pháp trên, phương pháp được nhấn mạnh ở đây là
phương pháp quan sát trực tiếp (tham gia). Chúng tôi, quan sát trực tiếp điều kiện
21
địa lý tự nhiên, con người, đời sống kinh tế, hoạt động sinh hoạt của người dân…
Đồng thời đã tiến hành “ba cùng” với người dân để xây dựng lòng tin và mối
quan hệ gần gũi.
1.2.2. Khung phân tích
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích đời sống của người dân sau tái định cư
1.3. MỘT SỐ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Các chủ chương của Đảng và Nhà nước về vấn đề di dân TĐC, bảo tồn và
PTBV cộng đồng người Đan Lai gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên VQG Pù
Mát, thể hiện qua các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện (quyết định, chỉ
thị, thông tư ). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, đóng vai trò định hướng cho
toàn bộ luận văn được đặc biệt chú trọng trong quá trình khảo sát, điều tra thực địa.
Các nghiên cứu về di dân và chính sách di dân tại Việt Nam đã được tiến
hành từ những năm 90 của thế kỷ XX, khi di dân bị coi như là một vấn đề trở
ngại chứ không phải là một quy luật tất yếu xảy ra của sự phát triển xã hội. Các
luồng di dân chịu tác động của các chính sách trực tiếp và gián tiếp của các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội. Thực tế cho thấy, các tác động của các chương
trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông thôn, phát triển nông nghiệp, xóa đói giảm
ĐKTN,
kinh tế, xã
hội, văn
22
nghèo có những tác động sâu sắc và bền vững hơn đến các luồng di dân hơn là
các chính sách trực tiếp.
Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, cùng với tốc độ đầu tư và phát
triển nhanh cơ sở hạ tầng, di dân TĐC trong các dự án phát triển đang trở thành
một vấn đề được quan tâm. Sau khi Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực, các văn
bản pháp quy liên quan đến việc bồi thường cho người dân khi Nhà nước thu hồi
đất được ban hành và cùng với nó là các quy định của các nhà tài trợ về công tác
TĐC.
Di dân không tự nguyện và ép buộc là hoạt động không chỉ xảy ra trong
quá trình thực hiện các dự án phát triển mà còn do tác động của thiên tai, chiến
tranh, xung đột, lường gạt Tuy nhiên, trong luận văn này chỉ chú trọng đến hình
thức di dân TĐC như một hệ quả của việc thực hiện các dự án phát triển.
Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi Ludwig won Bertalanffy. Lý
thuyết này thường được đề cập đến trong các nghiên cứu về bảo vệ và phát triển, về
con người và thiên nhiên. Để vận dụng được lý thuyết này chúng tôi coi địa bàn
nghiên cứu như một “hệ thống sinh thái nhân văn” để phân tích các mối liên hệ giữa
các yếu tố thành phần trong toàn bộ hệ thống hơn là tập trung vào những thay đổi bên
trong của từng yếu tố. Lý thuyết hệ thống là một bộ phận của tư duy nhân loại, nó
đang phát triển như một công cụ mới, mạnh mẽ để phân tích và nhận biết nhiều hiện
tượng và xu hướng phát triển của nhiều sự kiện khác nhau. Hệ thống là một tổ chức
có nhiều bộ phận, mà các bộ phận này luôn luôn liên hệ với nhau, tương tác với nhau
có tổ chức và cùng hoạt động theo những cách thức nhất định để sản sinh ra những
kết quả nhất định. Các nghiên cứu PTBV thường dựa trên cơ sở phân tích cấu trúc hệ
thống. Trừ vũ trụ ra thì tất cả các hệ thống tự nhiên đều là hệ thống mở. Một đặc điểm
vô cùng quan trọng của các hệ thống mở trong tự nhiên là chúng có xu hướng tự điều
chỉnh thông qua thông tin phản hồi để tiến tới cân bằng, làm cho các bộ phận trong hệ
thống nằm trong mối tương tác hài hoà và ổn định. Hệ thống sinh thái nhân văn là hệ