Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay. Nghiên cứu trường hợp Trường PTTH Yên Hòa, quận Cầu Giấy, trường PTT - Pdf 26


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Hoàng Anh Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học
sinh phổ thông trung học hiện nay. Nghiên cứu trường
hợp Trường PTTH Yên Hòa, quận Cầu Giấy, trường
PTTH Nguyễn Văn cừ, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Luận văn ThS. Xã hội học : 60 31 30
Nghd. : TS Hoàng Bá Thịnh
VTN ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất cao trong cơ cấu dân số, và đây là
một tỷ lệ rất cao trên thế giới. Có thể nói rằng, VTN là một nhóm xã hội
đặc biệt, thời kỳ VTN là một giai đoạn có nhiều biến đổi và có tính chất
quyết định trong việc hình thành nhân cách của con người. Tuy nhiên, "cho
đến nay, các dịch vụ về SKSS đều bỏ qua nhu cầu của nhóm người ở tuổi
VTN. Xã hội cần đáp ứng nhu cầu này bằng cách cung cấp thông tin giúp
họ đạt đến sự chín chắn cần thiết để họ có thể quyết định đúng đắn và có
trách nhiệm. Đặc biệt phải giúp họ hiểu biết về bản năng tình dục của mình
và tăng cường khả năng tự bảo vệ, tránh những nguy cơ như mang thai
ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục (nhất là HIV/AIDS),
nạo phá thai, sinh con sớm, vô sinh " [11].
Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
2
Ở Việt Nam, thời gian qua, việc trang bị kiến thức về SKSS lứa tuổi
VTN còn ít được quan tâm. Hiểu biết của VTN về SKSS nhìn chung còn
hạn chế, do vậy đã xảy ra những hậu quả đáng tiếc. Tỷ lệ VTN và các
thanh niên nam, nữ có quan hệ tình dục trước hôn nhân đang có chiều
hướng gia tăng, việc sống thử, sống gấp, thái độ, hành vi dễ dãi trong tình
yêu của thanh thiếu niên, nhất là ở khu vực đô thị có xu hướng trở nên phổ
biến. Theo thống kê của Hội kế hoạch hoá gia đình, thì Việt Nam là một
trong ba nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới (mỗi năm ước tính có
từ 1,2 - 1,6 triệu ca nạo hút thai), trong đó VTN chiếm khoảng 20%. Ở Hà
Nội, 15% VTN trong tuổi từ 15 đến 19 đã sinh hoạt tình dục, cả nước có
5% nữ sinh con trước tuổi 18… Bên cạnh đó, hiện tượng lây nhiễm
HIV/AIDS ở lứa tuổi VTN cũng đang ở mức báo động. Theo thống kê của
Bộ Y tế, có tới 14% số người là trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV/AIDS [52].
Trong nhóm VTN, học sinh PTTH chiếm một tỷ lệ đáng kể có độ

thế hệ trước, VTN hiện nay bước vào tuổi dậy thì sớm hơn một tuổi. Bên
cạnh đó, quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, sự thay đổi về lối sống, sự
du nhập tràn lan chưa kiểm soát được các văn hóa phẩm từ các nước
phương Tây và khu vực đã góp phần thúc đẩy làm đảo lộn về chuẩn mực
giá trị và chuẩn mực đạo đức trong bước chuyển đổi nên VTN đang chịu
những tác động cũng như những áp lực hết sức mạnh mẽ từ môi trường xã
hội. Từ phía bản thân VTN, các em thật sự có nhu cầu về GD SKSSVTN.
Bởi lẽ, đa số VTN hiện nay còn thiếu hiểu biết về các nội dung của
SKSSVTN. Chỉ một dẫn chứng là 76% các em gái dưới 18 tuổi phá thai
nói rằng đã không biết có thai đã chứng minh nhận định này [34]. Vì thế,
việc GD SKSSVTN và trang bị những kiến thức cho VTN nói chung, học
sinh PTTH nói riêng có một vai trò đặc biệt quan trọng. Trong khi đó, công
tác GD SKSSVTN hiện nay vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định; do
vẫn còn quan niệm cho rằng vấn đề tình dục, tình yêu là những vấn đề kín
đáo, tế nhị, tránh đề cập đến ở phạm vi công cộng, thậm chí ngay cả ở
trong gia đình nên đã cản trở việc cung cấp kiến thức về SKSS cho VTN.
Rõ ràng là VTN - lớp người tương lai của đất nước rất cần được trang bị
những kiến thức cần thiết để bảo vệ SKSS, cụ thể là về giới tính, tình yêu,
Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
4
tình dục, các biện pháp phòng tránh thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền
qua đường tình dục, nhất là HIV/AIDS.
Việc GD SKSSVTN cho VTN hiện nay, trong đó có nhóm VTN
trong độ tuổi học sinh PTTH có ý nghĩa quan trọng quyết định đến nhận
thức, thái độ và hành vi của mỗi cá nhân người học, góp phần xây dựng lối
sống lành mạnh, tích cực trong giới trẻ để bảo vệ sức khoẻ, nòi giống dân
tộc, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

học sinh PTTH hiện nay. 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nhận thức của học sinh PTTH tại Hà
Nội về SKSSVTN và nhu cầu của các em về GD SKSSVTN, đồng thời tìm
hiểu thái độ của cộng đồng về GD SKSSVTN cho học sinh PTTH; từ đó có
những phân tích đánh giá và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường việc đáp
ứng được nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Khảo sát nhận thức của học sinh PTTH Hà Nội (từ 16 đến 18 tuổi) về
SKSSVTN.
4.2. Tìm hiểu nhu cầu của học sinh PTTH Hà Nội về GD SKSSVTN (bao
gồm: nhu cầu về các nội dung kiến thức SKSSVTN, nhu cầu được tiếp
nhận các kênh thông tin có liên quan đến SKSSVTN, nhu cầu về sự hỗ trợ
của xã hội).
4.3. Tìm hiểu thái độ cộng đồng (thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh) về
GD SKSSVTN cho học sinh PTTH Hà Nội hiện nay.
4.4. Đề xuất một số giải pháp cần thiết để đáp ứng được nhu cầu GD
SKSSVTN của học sinh PTTH.
5. ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ, GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1. Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH
hiện nay.
5.2. Khách thể nghiên cứu: học sinh PTTH (từ 16 đến 18 tuổi).
5.3. Đối tượng khảo sát: học sinh Trường PTTH Yên Hòa, quận Cầu Giấy;
Trường PTTH Nguyễn Văn Cừ, huyện Gia Lâm (Hà Nội).
Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh

Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
7
- Nữ: 159/328 học sinh (48,5%).
Tỷ lệ giới tính của đối tượng được khảo sát đảm bảo được tính đại
diện và có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu.

Lứa tuổi của đối tượng khảo sát được chia thành các độ tuổi 16, 17,
18 tương ứng với các khối lớp 10, lớp 11 và lớp 12. Trong đó:
- Lớp 10: 111/328 học sinh (33,8%);
- Lớp 11: 108/338 học sinh (32,9%);
- Lớp 12: 109/328 học sinh (33,2%).
Học lực của số học sinh được hỏi trong năm học 2005 - 2006 được
chia thành các mức như sau:
- Học lực giỏi: 83/328 học sinh (25,3%);
- Học lực khá: 181/328 học sinh (55,2%);
- Học lực trung bình: 59/328 học sinh (18,0%);
- Học lực kém: 5/328 học sinh (1,5%)

Tr-êng/ khu vùc
Tr-êng
NguyÔn
V¨n Cõ:
50,1%
Tr-êng
Yªn Hoµ:
49,1%
Tû lÖ giíi tÝnh

7,3
Dịch vụ/buôn bán
28
8,5
45
13,7
Công nhân
50
15,2
36
11,0
Nông nghiệp
112
34,1
123
37,5
Khác
25
7,6
24
7,3

6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu: 17 trường hợp phỏng vấn sâu được thực
hiện đối với các bậc cha mẹ có con là học sinh PTTH tại các trường được
khảo sát (5), các thầy cô giáo đang làm công tác quản lý và giảng dạy các
bộ môn có liên quan đến vấn đề GD SKSSVTN như Sinh học, GD công
dân, thầy cô giáo phụ trách công tác Đoàn thanh niên (6) và các học sinh
PTTH của hai trường (6) nhằm thu thập thêm những thông tin sâu sắc và cụ
thể hơn về nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH; đồng thời giúp cho
chúng ta thấy được rõ hơn quan điểm, thái độ của người được phỏng vấn về

CÁC BIẾN SỐ
7.1. Giả thuyết nghiên cứu
7.1.1. Học sinh PTTH Hà Nội đã nhận thức được những nội dung cơ bản về
SKSSVTN, nhưng nhận thức còn chưa đầy đủ và thiếu chính xác.
7.1.2. Học sinh PTTH Hà Nội rất có nhu cầu về GD SKSSVTN (nhu cầu
về các nội dung kiến thức SKSSVTN, nhu cầu được tiếp nhận các kênh
thông tin có liên quan đến SKSSVTN, nhu cầu về sự hỗ trợ của xã hội).
7.1.3. Có sự khác biệt về tuổi, giới tính, học vấn và trường của học sinh
PTTH tại Hà Nội về nhu cầu GD SKSSVTN.
7.1.4. Thầy cô giáo và các bậc phụ huynh đã có cách nhìn cởi mở hơn và
ủng hộ việc GD SKSSVTN cho học sinh PTTH hiện nay.
7.2. Sơ đồ tƣơng quan giữa các biến số:

Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
10 CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
11
nhau, chẳng hạn như sức khoẻ VTN hay giới tính, tình dục thanh thiếu
niên. Có lẽ bắt đầu từ Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển (ICPD) tại
Cairô (tháng 4 năm 1994), sau khi định nghĩa chính thức về SKSS được
thống nhất phổ biến đến mọi quốc gia trên thế giới thì mối quan tâm của
không những các nhà khoa học, các nhà GD, các nhà quản lý xã hội mà cả
các bậc cha mẹ đối với vấn đề SKSSVTN được đẩy lên một trình độ mới.
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, những nội dung GD SKSS đã
được nhiều cấp, nhiều ngành quan tâm chỉ đạo và tổ chức triển khai các
hoạt động cụ thể. SKSS đã từng bước trở thành nội dung quan trọng của
hầu hết các hoạt động dân số; các mục tiêu SKSS cũng là những mục tiêu
cần đạt được của kế hoạch hoá gia đình. Theo Tổng quan các nội dung
nghiên cứu về sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản vị thành niên ở Việt Nam từ năm
1995 đến năm 2003, đã có tổng số 146 tài liệu nghiên cứu, khảo sát về chủ
đề này. Trong đó có 82/146 (56,1%) tài liệu nghiên cứu về thực trạng tình
hình sức khoẻ, SKSSVTN Việt Nam; 18/146 (12,4%) tài liệu nghiên cứu
về những yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ, SKSSVTN Việt Nam; 46/146
(31,5%) tài liệu đề cập đến các yếu tố, giải pháp, biện pháp tác động nhằm
nâng cao hiệu quả GD, chăm sóc sức khoẻ, SKSSVTN [29]. Các kết quả
này cho thấy, những nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến SKSSVTN
đã được khá nhiều các nhà khoa học xã hội và khoa học tự nhiên quan tâm
tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Mảng nghiên cứu về nhu cầu GD giới
tính - SKSSVTN của học sinh PTTH đã được một số tác giả tìm tòi với
những phát hiện mới mẻ và thú vị, mặc dù những khảo cứu về vấn đề này
còn chưa nhiều. Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi xin được đề cập đến
những công trình nghiên cứu tiêu biểu và đặc sắc, những nhận định về nhu
cầu GD giới tính - SKSSVTN được đề cập trong một số tác phẩm của các

hệ tình dục lành mạnh, an toàn, phòng chống STDs, đặc biệt là HIV/AIDS,
giúp cho VTN có nhận thức đúng và tự điều chỉnh hành vi của mình, góp
phần hạ thấp tỷ lệ nạo phá thai và có con ngoài ý muốn trước 18 tuổi.
Trong báo cáo "Kết quả nghiên cứu khảo sát đánh giá nhanh nhu
cầu sức khoẻ vị thành niên" của các tác giả Martha Morrow, Đỗ Hồng
Ngọc, Trương Trọng Hoàng, Trần Huệ Trinh đã kết luận: Sự cần thiết phải
quan tâm đến VTN như một nhóm dân số riêng biệt ngày càng được nhận
Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
13
thức rõ nét ở nhiều cấp. Tuy nhiên, những hành động cụ thể nhằm vào
nhóm người này vẫn chưa nhiều. Báo cáo cho thấy, VTN có mức độ nhận
thức và quan tâm cao đối với sức khoẻ, gắn liền với thực tế của môi trường
riêng; các em chẳng những quan tâm đến tình trạng thoải mái về thể chất và
tinh thần của chính mình, mà các em còn quan tâm đến gia đình, cộng đồng
và địa phương nữa. VTN cảm thấy thiếu thốn các thông tin chuyên biệt về
sức khoẻ từ nguồn mà các em cảm thấy thoải mái khi tiếp xúc. Các em vẫn
muốn và cần sự hỗ trợ và bảo vệ của cha mẹ, nhưng cũng sẵn sàng đón
nhận những thông tin chi tiết hơn từ nhiều nguồn để có thể thực hiện các
phương pháp phòng ngừa và điều trị bệnh. Nhóm tác giả này nhận định
rằng GD SKSS trong và ngoài nhà trường thường chưa rõ ràng về nội dung
và chỉ giới hạn vào các dự án thí điểm. Chính sự thiếu thông tin có tính
toàn diện về nhu cầu của VTN gây khó khăn cho việc nhận diện nhóm hành
vi nguy cơ, giám sát xu hướng và triển khai hay lượng giá các chương trình
[45].
Tác giả Đặng Quốc Bảo lại quan tâm đến việc GD một số nội dung
của SKSSVTN cho học sinh. Trong bài viết "Giáo dục dân số cho học sinh
với chiều sâu là giáo dục giới tính, sức khoẻ sinh sản là vấn đề cần thiết",

quan tới SKSS, 17,7% học sinh trả lời là tự tìm hiểu, ngoài ra, người mà
các em tìm đến hỏi là mẹ (13,3%), bố (13,3%), cán bộ y tế (5,1%), thầy cô
giáo (0,6%). Trong khi đó, nguồn cung cấp thông tin được các em đánh giá
là phù hợp nhất với học sinh là: đài, ti vi (43%), sách báo (25,9%), thầy cô
giáo (12.7%). Số liệu báo cáo cũng cho thấy 4,4% học sinh nam được hỏi
cho biết đã có quan hệ tình dục [25].
Năm 2002, nhóm tác giả Đoàn Kim Thắng, Nguyễn Thị Văn, Phan
Quốc Thắng (Viện Xã hội học) đã thực hiện nghiên cứu “Nhu cầu giáo dục
giới tính, sức khoẻ sinh sản của học sinh phổ thông trung học: nghiên cứu
tại 4 trường phổ thông trong nội thành Hà Nội”. Nghiên cứu này đã khẳng
định việc tìm hiểu nhu cầu của học sinh PTTH về GD giới tính và SKSS là
việc làm có ý nghĩa để tìm ra đuợc một điều kiện thích hợp nhất cho việc
đáp ứng nhu cầu tiếp thu các kiến thức về GD giới tính và SKSS của VTN
nói chung, học sinh PTTH nói riêng. Nhóm tác giả đã chỉ ra những nhu cầu
của học sinh PTTH nội thành Hà Nội về kiến thức và sự hỗ trợ của xã hội
Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
15
chủ yếu thông qua các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm học sinh. Tuy
nhiên, số liệu định lượng trong nghiên cứu này mới tập trung vào đánh giá
thực trạng nhận thức của học sinh PTTH về mội số nội dung liên quan đến
SKSS. Những sự khác biệt về giới tính, độ tuổi, khu vực theo học và thực
trạng yêu của học sinh PTTH chưa được khai thác nhiều trong nghiên cứu
nhu cầu. Ngoài ra, một số nội dung liên quan tới nhu cầu GD SKSSVTN
của học sinh từ phía nhà trường chưa được nghiên cứu làm rõ [32]. Mặc dù
vậy, đây có thể coi là một tài liệu quan trọng đối với đề tài trong quá trình
nghiên cứu, phân tích.
Gần đây, cuộc Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt

GD giới tính cũng là quá trình xây dựng đạo đức tình dục ở các em” [39].
Một vấn đề khác cũng được nêu trên báo là “Chống thất học về giới tính”,
tác giả bài báo - Giáo sư Đoàn Xuân Mượu - sau khi điểm qua một vài ví
dụ cho thấy hậu quả của việc không được GD giới tính từ khi còn nhỏ đã
đưa ra một kết luận thú vị: “Các bậc cha mẹ cần quan tâm đến vấn đề GD
giới tính vì tựu chung, nó không phải chỉ dành cho lớp trẻ, nhất là những
người lúc còn trẻ chưa có cơ hội làm quen với vấn đề này. Nay có cơ hội
thì nên bắt kịp lớp trẻ để một mặt tự bồi dưỡng, mặt khác để GD, giúp đỡ
con cái.” [6].
Nghiên cứu của nhóm tác giả Đoàn Kim Thắng, Dương Chí Thiện về
“Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên” đăng trên Tạp chí
Khoa học Phụ nữ số 3 (46), tháng 5/2001 cho thấy, các kiến thức về GD
giới tính và SKSS mà các em lứa tuổi VTN đã có được khá đa dạng phong
phú, nó có nhiều hơn những gì mà người lớn chúng ta thường hay đánh giá
quá nặng nề hoặc quá xem nhẹ. Song những kiến thức này chưa thể nói là
đầy đủ và hệ thống được. Sự hiểu biết ở các em mới chỉ dừng lại phần lớn
trên lý thuyết và sách vở, còn trên thực tế của cuộc sống hàng ngày, những
kiến thức đó chưa đủ để các em có thể tự tin mà có những ứng xử và hành
động đúng trong tất cả các trường hợp cụ thể. Kết quả nghiên cứu chỉ ra
rằng, bản thân các em đã thể hiện sự quan tâm và mong muốn được học
tập, được hiểu biết nhiều hơn nữa những nội dung của lĩnh vực SKSSVTN.
Điều này hết sức cần thiết và bổ ích rất nhiều cho các em trong cuộc sống
hiện tại và tương lai [32].
Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
17
Nhìn chung, phần lớn các tài liệu nghiên cứu đều khẳng định tầm
quan trọng của GD SKSSVTN đối với VTN. Tuy nhiên, những công trình

18
+ Nhu cầu an toàn: Nhu cầu được bảo vệ bản thân, bảo vệ tài sản,
được sống yên ổn, ví dụ như bảo hiểm, uống nước sạch, không khí để tồn
tại
- Nhóm nhu cầu cấp cao bao gồm:
+ Nhu cầu xã hội: Nhu cầu được yêu thương, nhu cầu lệ thuộc, mong
muốn có quan hệ với người khác, sự quan tâm, sự phối hợp hoạt động
+ Nhu cầu được kính trọng về các giá trị bản thân, sự độc lập, sự
công nhận thành quả và tôn trọng từ người khác
+ Nhu cầu tự khẳng định mình: phát triển nhân cách, tự hoàn thiện,
phát huy những tiềm năng của mình [17]
Theo A. Maslow, nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự phân cấp các
mức độ quan trọng với nguyên tắc nhu cầu ở cấp độ nào thấp hơn phải
được thỏa mãn thì mới nảy sinh các nhu cầu cao hơn. Tuy nhiên, không
nhất thiết phải thoả mãn hoàn toàn một nhu cầu nào đó như quan điểm của
A. Maslow mà chỉ cần thoả mãn một phần nhu cầu cấp dưới nào đó con
nguời đã muốn thực hiện nhu cầu cấp cao hơn. Tóm lại, việc sắp xếp thứ
bậc các nhu cầu như trên chỉ mang tính tương đối. Tuy nhiên, việc vận
dụng thang nhu cầu của A. Maslow vào việc nghiên cứu nhu cầu GD
SKSSVTN của học sinh PTTH hiện nay có một ý nghĩa đáng kể, bởi việc
biết rõ học sinh PTTH đang ở bậc thang nhu cầu nào, các hoạt động GD
SKSSVTN sẽ có thể hướng tới việc thoả mãn nhu cầu đó. Trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài, nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH được
giới hạn ở ba nội dung: nhu cầu được tiếp nhận các kênh thông tin có liên
quan đến SKSSVTN, nhu cầu về các nội dung kiến thức SKSSVTN, nhu
cầu về sự hỗ trợ của xã hội.
1.2.2. Giáo dục
GD là một mặt không thể thiếu được của đời sống xã hội và là động
lực phát triển xã hội. Có khá nhiều khái niệm GD được diễn giải theo nhiều
cách khác nhau. Nhìn chung, GD được hiểu là “Sự hình thành có mục đích

đình và GD xã hội.
GD có thể chia thành GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội.
GD nhà trường hay là GD ở nhà trường là một thiết chế GD chuyên
biệt, có những đặc trưng cơ bản như: mang tính ý thức và có mục đích rõ
Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
20
ràng, được tổ chức và diễn ra theo kế hoạch đào tạo xác định, nội dung GD
nhà trường được chọn lọc một cách khoa học và hệ thống. Hoạt động GD
nhà trường, quá trình GD của nhà trường do giáo viên và các cán bộ quản
lý nhà trường tổ chức và thực hiện.
GD gia đình là sự tác động thường xuyên và có mục đích của con
người, nhất là người lớn trong gia đình và toàn bộ nếp sống của gia đình
đến trẻ. Mục tiêu GD của gia đình rất linh hoạt và thay đổi theo thời gian,
phụ thuộc vào sự biến biến đổi và phát triển của trẻ, vào sự vận động và
phát triển của xã hội xung quanh, vào chính cuộc sống của gia đình và
những định hướng giá trị của gia đình.
GD xã hội là các hoạt động GD của các thiết chế và môi trường GD
ngoài nhà trường, nhằm vào đối tượng là toàn thể xã hội, trong đó có thế hệ
trẻ trong và ngoài nhà trường. GD xã hội bao gồm: hoạt động GD của các
cơ quan có chức năng GD chung cho toàn xã hội (các cơ quan thông tin
tuyên truyền, văn hoá, nghệ thuật ); hoạt động GD của các tổ chức xã hội,
các trường Đảng, trường Đoàn ; hoạt động GD của các cơ sở ngoài nhà
trường, [30, 25-28]
Trong phạm vi của đề tài, GD SKSSVTN đã được cụ thể hoá từ
những hoạt động GD nhà trường, gia đình và xã hội nêu trên, trong đó GD
xã hội được giới hạn ở các nội dung: sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội và
các phương tiện thông tin đại chúng.

có tính tương đối. Ở Việt Nam, VTN là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi [47].
Trong đề tài này, thuật ngữ “Vị thành niên” được dùng để chỉ nhóm đối
tượng là lớp người từ 16 đến 18 tuổi. Đây là nhóm đối tượng diễn ra rất
nhiều thay đổi về tâm sinh lý lứa tuổi dậy thì, đồng thời chịu sự chi phối
của các mối quan hệ trong cuộc sống và những tác động mạnh mẽ của
những yếu tố xã hội. Điều đặc biệt là các em có tâm lý muốn làm người
lớn, thích sống độc lập, thích tự khẳng định mình. Đối với riêng nhóm học
sinh PTTH, đây cũng là thời kỳ mà nhận thức xã hội của các em đang dần
trưởng thành, va chạm với xã hội tăng lên, sức ép từ môi trường xung
quanh và nhiệm vụ học tập cũng nặng nề hơn những năm phổ thông trước
đó. Tìm hiểu nhu cầu GD SKSSVTN ở nhóm đối tượng này sẽ thể hiện rõ
Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
22
nét những nguyện vọng, mong muốn, yêu cầu của học sinh và VTN về
GD SKSSVTN.
1.2.4. Sức khoẻ sinh sản, Sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Khái niệm SKSS đã được chấp nhận và được chính thức hoá trong
phạm vi toàn thế giới từ Hội nghị Cairo: “Sức khoẻ sinh sản là tình trạng
hoàn toàn khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần, xã hội và không chỉ là không
có bệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan tới hệ thống,
chức phận và quá trình sinh sản. Như thế, sức khoẻ sinh sản có nghĩa là
mọi người có thể có cuộc sống tình dục an toàn, hài lòng, họ có khả năng
sinh sản, tự do quyết định có sinh con hay không, sinh con khi nào và sinh
bao nhiêu con”.
Từ khái niệm trên, SKSS được hiểu là có những hàm ý sau đây:
- Con người có quyền có một cuộc sống tình dục thoả mãn và an
toàn

Từ đó, SKSSVTN là khái niệm SKSS được ứng dụng một cách thích
hợp và bình đẳng cho đối tượng VTN.
1.2.5. Giới tính (Sex)
“Giới tính chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới xét về mặt y -
sinh học. Sự khác biệt này có liên quan đến quá trình tái sản xuất nòi
giống, cụ thể là phụ nữ có thể mang thai và sinh con, còn nam giới là một
trong các yếu tố tạo ra quá trình thụ thai” [20].
Từ khái niệm trên, ta thấy, giới tính nói lên tính ổn định về tương
quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản. Chức năng sinh sản của phụ nữ
và nam giới là không thể thay đổi hay dịch chuyển cho nhau. Giới tính là
bất biến về thời gian cũng như không gian. Xét về giới tính, phụ nữ cổ xưa
cũng như phụ nữ ngày nay và phụ nữ ở mọi vùng trên trái đất đều giống
nhau ở chức năng mang thai và sinh con, cũng như tất cả nam giới đều
giống nhau ở vai trò sinh sản của mình. Ngày nay, với tiến bộ của khoa học
kỹ thuật, người ta đã có thể phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, các
phẫu thuật này chỉ mang tính hình thể còn không thể thay đổi được các
chức năng sinh học.
1.2.6. Tình dục (Sexual)
Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông
trung học hiện nay

Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh
24
“Tình dục là một nhu cầu tự nhiên của con người bắt đầu xuất hiện
từ tuổi dậy thì và là một phần của bản năng duy trì nòi giống” [15].
Tổ chức Y tế thế giới năm 1975 đã đưa ra khái niệm “Sức khoẻ tình
dục là sự tổng hợp các khía cạnh thể chất, tình cảm, tri thức và xã hội của
con người có tính dục, sao cho cuộc sống của con người phong phú hơn,
tốt đẹp về nhân cách, về giao tiếp và tình yêu” [15].
Với khái niệm này, tình dục là sự phát triển tự nhiên, mang tính tất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status