Phản biện xã hội về đổi mới giáo dục tiểu học trên báo in Việt Nam hiện nay (khảo sát báo Giáo dục và thời đại, Tia Sáng, Sài Gòn giải phóng, Tuổi trẻ TP.HCM, H - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

************** TRẦN THỊ HOA PHẢN BIỆN XÃ HỘI VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
TIỂU HỌC TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY
(KHẢO SÁT BÁO GIÁO DỤC VÀ THỜI ĐẠI, TIA SÁNG, SÀI GÒN GIẢI
PHÓNG, TUỔI TRẺ TP.HCM, HÀ NỘI MỚI TỪ 2008-2011)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60.32.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM THÀNH HƯNG

Hà Nội - 2013
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: PHẢN BIỆN XÃ HỘI VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG 8
1.1. Phản biện xã hội và vai trò của báo chí trong việc thực hiện chức năng
phản biện xã hội 8
1.1.1. Khái niệm Phản biện xã hội 8
1.1.2. Chức năng của phản biện xã hội 10
1.1.3. Vai trò của báo chí trong hoạt động phản biện xã hội 12
1.1.3.1. Báo chí tạo ra trục phản biện xã hội gồm 3 nhóm Cộng đồng báo
giới- Cộng đồng trí thức- Dư luận xã hội 12
1.2.1. Khái niệm đổi mới giáo dục 17
1.2.2. Sự cần thiết của đổi mới giáo dục ở các cấp học phổ thông từ tiểu
học 17
1.3. Thế mạnh của báo in trong hoạt động phản biện xã hội 24
1.3.1. Đặc trưng của báo in 24
1.3.2. Khái quát về các báo in được khảo sát 26

thể tham gia phản biện xã hội 96
3.2. Các giải pháp phát triển phản biện xã hội trên báo in 97
3.2.1. Đối với nhà báo 97
3.2.2. Đối với ban biên tập 102
3.2.3. Đối với nhà Quản lý 107
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

3
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐH
Đại học
GD
Giáo dục
GD&TĐ
Giáo dục và Thời đại
HNM
Hà Nội mới
SGGP
Sài Gòn giải phóng
SGK
Sách giáo khoa
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông

vào chính năng lực phản biện xã hội về giáo dục trên báo chí thì chức năng
giáo dục của báo chí mới thực sự được thực hiện một cách triệt để và sâu sắc.
Để hạn chế những bất cập trong giáo dục, nhiều năm nay chúng ta tiến
hành đổi mới giáo dục ở nhiều cấp học, ngành học nhưng việc làm đó chưa
thực sự hiệu quả. Đổi mới giáo dục ở bậc tiểu học (bậc học có thể nói là đầu
tiên đặt những viên gạch nền móng cho việc hình thành nhân cách cũng như
trí tuệ) cũng chưa được quan tâm và nhìn nhận đúng đắn. Gánh nặng đặt lên
vai trẻ em nhiều hơn hứng thú mang lại cho các em trong quá trình học tập.
Trong khi chúng ta loay hoay tìm đường đi đúng cho giáo dục nước nhà thì áp
lực và thiệt thòi dồn về phía các em– thế hệ làm chủ đất nước trong tương lai
ngày một nhiều lên.
Sự chậm chễ trong việc tìm ra đường đi đúng cho giáo dục có nhiều
nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan, trong đó nguyên nhân từ chính
ngành giáo dục cũng như từ lịch sử dân tộc. Tuy nhiên chúng ta không thể lấy
những lí do đó để biện hộ cho sự yếu kém của nền giáo dục nước nhà. Báo chí
- mặt trận thông tin với khả năng tạo dư luận xã hội, có sức mạnh định hướng
dư luận đã có nhiều đóng góp không thể phủ nhận đối với sự phát triển chung
của xã hội trong những năm qua, đặc biệt ở lĩnh vực giáo dục. Tuy vậy, đối 5
với sự nghiệp đổi mới giáo dục, nhất là đổi mới giáo dục tiểu học, báo chí vẫn
chưa tạo ra một một diễn đàn có sức mạnh phản biện tổng lực làm thay đổi
hiện trạng yếu kém của lĩnh vực này.
Đề tài Phản biện về đổi mới giáo dục tiểu học trên một số báo in hiện
nay (Khảo sát sát báo Giáo dục và Thời dại, Tia sáng, Sài Gòn giải phóng,
Tuổi trẻ tp HCM, Hà Nội mới từ 2008-2011) không đi vào khai thác, tìm hiểu
vấn đề đổi mới giáo dục dưới con mắt của nhà giáo dục học hay nhà nghiên
cứu xã hội học. Tập trung vào việc đổi mới giáo dục ở bậc tiểu học trên báo
in, người viết luận văn này chỉ hi vọng sẽ cung cấp một cách nhìn khách quan

một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ đi theo hướng này. Cho đến nay,
đi vào nghiên cứu giáo dục ở khía cạnh đổi mới giáo dục có các đề tài sau:
1. Vấn đề đổi mới giáo dục – đào tạo trên báo Giáo dục & Thời đại và
báo Khuyến học – Đoàn Mạnh Hùng, K39A, ĐH KHXH & NV
2. Tuyên truyền đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục & Thời đại–
Nguyễn Thanh Hương, K45, ĐH KHXH & NV.
3. Báo in Việt Nam trong công cuộc đổi mới Giáo dục hiện nay – Văn
Phương Hoa, K11CH, ĐH KHXH & NV.
Tuy nhiên, vấn đề các khóa luận hay luận văn nói trên đặt ra tập trung
vào giáo dục nói chung; hoặc phạm vi nghiên cứu tập trung vào các báo của
ngành giáo dục; chưa chỉ ra khâu quan trọng của đổi mới giáo dục là cần có
tiếng nói phản biện mạnh mẽ tạo động lực đổi mới từ gốc, từ chính bậc tiểu
học.
Trên cơ sở tham khảo cách triển khai các đề tài liên quan, việc bổ sung
ý tưởng cũng như khắc phục thiếu sót từ các đề tài đó sẽ giúp luận văn được
hoàn chỉnh hơn. Đây vừa là thuận lợi đồng thời cũng là thách thức lớn đối với
tác giả trong quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu này. 7
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Những dẫn chứng, số liệu, phân tích trong luận văn là cứ liệu quan
trọng cung cấp cái nhìn khách quan và sâu sắc hơn đối với vấn đề đổi mới
giáo dục tiểu học mà báo chí (cụ thể là báo in) hiện nay đề cập đến thông qua
hoạt động chính là phản biện xã hội. Đặt trong bối cảnh xã hội và giáo dục
hiện nay thì đó là một phần việc cần cả báo chí và giáo dục nhìn nhận lại, một
chặng của con đường đúng đòi hỏi báo chí và giáo dục song hành.
Trên cơ sở đó, các biện pháp điều chỉnh, định hướng thông tin của báo
chí đối với đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới giáo dục tiểu học nói riêng
trở nên phù hợp hơn, hiệu quả hơn. Điều này sẽ góp phần định hướng chính

đủ năng lực thực hiện phản biện xã hội đối với những vấn đề phức tạp cuộc
sống đặt ra, đặc biệt là những bất cập trong hệ thống giáo dục ở nước ta hiện
nay.
1.1. Phản biện xã hội và vai trò của báo chí trong việc thực hiện
chức năng phản biện xã hội
1.1.1. Khái niệm Phản biện xã hội
Cho đến nay đã có một số khái niệm về Phản biện và Phản biện xã hội.
Trong phạm vi giáo dục -đào tạo, khái niệm Phản biện được dùng để chỉ hành
động đánh giá, thẩm định chất lượng luận văn tốt nghiệp Đại học, luận án trên
Đại học trước hội đồng chấm. (Phản biện ở đây phân biệt với Phản bác, khác
Phản bác ở chỗ: Phản bác là phủ nhận, gạt bỏ bằng lí lẽ, bằng cơ sở thực tiễn)
[24, tr. 1316]
Trong khoa học, khái niệm Phản biện được Từ điển tiếng Việt 2004-
Viện Ngôn ngữ học trình bày: Phản biện là đánh giá chất lượng một công
trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ lấy học vị trước hội đồng
chấm thi
Theo sách Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng: Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận,
thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau. 9
Còn Phản biện xã hội: là sự phản biện nói chung nhưng có quy mô và
lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội
dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã
hội, khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung
toàn xã hội, Nhà nước và các tổ chức liên quan.
Theo tác giả Nguyễn Trần Bạt, thì Phản biện xã hội là một hoạt động
khoa học, phản biện là tranh luận một cách khoa học… Về bản chất chính trị,
phản biện là một quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn

hội đó.
1.1.2. Chức năng của phản biện xã hội
Trong một xã hội nhiều nhóm lợi ích khác nhau, với những quyền và
nghĩa vụ khác nhau, phản biện xã hội là một hoạt động cần thiết để đảm bảo
xã hội đó vận hành theo chiều hướng phát triển. Phản biện xã hội chính là nhu
cầu của xã hội, “một cử chỉ” của xã hội khi đứng trước những vấn đề phức tạp
cản trở sự phát triển của xã hội. Bởi với một vấn đề xã hội quan tâm, thì nhất
thiết cần mổ xẻ, soi xét kĩ lưỡng, thậm chí phải “nói ngược” nếu đó là điều
cần thiết nhằm tìm ra tận cùng bản chất vất đề, đi đến giải quyết vấn đề. Như
vậy, phản biện xã hội đã thực hiện chức năng của mình:
Phản biện xã hội giúp điều tiết xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội
để tạo ra đồng thuận xã hội
Xã hội là một tập hợp của nhiều nhóm lợi ích. Trong quá trình phát
triển, các nhóm có nguy cơ mâu thuẫn về quyền lợi, dẫn đến những ẩn ức, ức
chế xã hội (trong trường hợp không được giải tỏa); cao hơn, có thể dẫn đến
tình trạng căng thẳng xã hội thường trực, thậm chí là tiền đề cho các cuộc
khủng hoảng chính trị - xã hội trên diện rộng.
Trạng như vậy diễn ra là bởi xã hội đã thiếu đi một cơ chế đối thoại,
phản biện để điều hòa mâu thuẫn, cân đối lợi ích giữa các nhóm liên quan. 11
Nếu chúng ta xem xã hội như một chỉnh thể toàn vẹn thì vận động xã hội là
quá trình “trao đổi chất” giữa các lực lượng xã hội. Mâu thuẫn/xung đột xã
hội sẽ làm gián đoạn phương thức trao đổi này cho đến khi cơ chế đối thoại,
phản biện xã hội xuất hiện.
Phản biện xã hội góp phần tái tạo, phục hồi trạng thái cân bằng vốn đã
bị phá vỡ trước đó, mở đường cho trạng thái đồng thuận xã hội xuất hiện.
Khi một xã hội trở nên đồng thuận, bản thân nó đã tự tạo cho mình
những tiền đề phát triển mới. Vì đồng thuận xã hội là điều kiện cần để phát

hưởng đáng kể lên đời sống cộng đồng. Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày
nay, vai trò tích cực của cộng đồng truyền thông càng giúp đẩy mạnh quá
trình xã hội hóa các hoạt động phản biện. Thông qua quá trình này, cộng đồng
dần nắm bắt được căn nguyên xuất hiện của hoạt động phản biện, từ đó dấy
lên nhu cầu quan tâm, nhận thức vấn đề đang được đặt ra. Phản biện xã hội là
thước đo sự văn minh, tiến bộ của xã hội. [36]
1.1.3. Vai trò của báo chí trong hoạt động phản biện xã hội
1.1.3.1. Báo chí tạo ra trục phản biện xã hội gồm 3 nhóm Cộng đồng báo
giới- Cộng đồng trí thức- Dư luận xã hội
Như đã đề cập đến ở mục 1.1.2, một trong những chức năng của phản
biện xã hội là: “Phản biện xã hội góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của
cộng đồng, phát triển ý thức về quyền và nghĩa vụ của người công dân”. Để
nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng với vấn đề xã hội đặt ra, trước
tiên cộng đồng phải được tiếp cận với thông tin về vấn đề đó.
Báo chí, loại hình thông tin mang tính chính trị- xã hội cao là diễn đàn
tốt nhất để cộng đồng tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin được tiếp nhận,
thông qua hoạt động phản biện bày tỏ thái độ một cách trách nhiệm nhất với
về vấn đề được đặt ra. 13
Nói như tác giả Nguyễn Trần Bạt, điều kiện để phản biện xã hội trở
thành một hoạt động có chất lượng khoa học, ngoài điều kiện thứ nhất cần
phải thực thi tự do ngôn luận, thì phản biện xã hội cần đạt đến trạng thái
chuyên nghiệp của quá trình thảo luận. Tức là trạng thái chuyên nghiệp của
quá trình thảo luận cần có sự tham gia của hai lực lượng, lực lượng thứ nhất
là để nói một cách chuyên nghiệp và lực lượng thứ hai là để nghĩ một cách
chuyên nghiệp. Trước khi nói phải nghĩ, nghĩ chuyên nghiệp là giới trí thức
và nói chuyên nghiệp là giới báo chí.
Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa các lực

Trả lời câu hỏi TTĐC sinh ra để làm gì, thực chất TTĐC sinh ra để
cung cấp thông tin, nó cung cấp thông tin bằng cách tạo nên giao tiếp của các
nhóm xã hội lớn, để tổ chức và kiểm soát xã hội.
Đặc điểm chủ đạo của TTĐC (Giao tiếp đại chúng):
• Giao tiếp gián tiếp bằng các phương tiện kĩ thuật (Không có liên hệ
ngược trực tiếp giữa nhà truyền thông và công chúng trong quá trình giao
tiếp)
• Là giao tiếp của các nhóm xã hội lớn.
• Thể hiện định hướng xã hội rõ ràng trong giao tiếp.
• Có tính tổ chức, chịu tác động của thiết chế xã hội trong giao tiếp
• Yêu cầu tuân theo các chuẩn mực chung trong giao tiếp cao.
• Tính tập thể của nhà truyền thông thể hiện rõ nét
• Thông tin mang đến cho công chúng (đại chúng). Những người này có
thể phân bố rải rác và ngẫu nhiên.
• Thông tin có tính chất định kì
[32, tr. 5]
Quá trình truyền thông trong TTĐC là quá trình thông tin hai chiều, từ
nguồn tới người tiếp nhận và người tiếp nhận tác động trở lại với nguồn gửi 15
thông điệp. Vì đối tượng tiếp nhận (R –receiver) thông tin trong truyền thông
đại chúng là số đông (những nhóm xã hội lớn) nên quá trình phản hồi thúc
đẩy sự tương tác xã hội giữa nguồn phát và người nhận, tạo môi trường cho
hoạt động phản biện xã hội tiến hành, hình thành dư luận xã hội .
Các giai đoạn hình thành dư luận xã hội với tác động của hệ thống
TTĐC diễn ra theo những bước sau:
- Công chúng làm quen với vấn đề được báo chí gợi ý hoặc đề xuất
- Đăng bài của các chuyên gia am hiểu về một chủ đề nào đó nhằm kích
thích lợi ích xã hội về một chủ đề nào đó. Việc trình bày các quan điểm khác

thiếu tính khoa học, nặng tính kích động xã hội, thiếu tầm chiến lược, nặng về
tiểu tiết cảm tính, thậm chí thể hiện trình độ thấp và thái độ thực dụng, bè
cánh tinh xảo của những người viết” .
Nếu phản biện xã hội đúng đắn, khoa học thì việc định hướng dư luận
sẽ đóng vai trò tích cực trong giải quyết vấn đề đặt ra, nếu hoạt động phản
biện xã hội không đúng đắn, không khoa học thì không những vấn đề đặt ra
không được giải quyết mà còn để lại hậu quả khôn lường cho xã hội.
Muốn phản biện xã hội trên báo chí không “loạn hướng”, mang tính
chủ quan thì cần tập hợp nhiều luồng ý kiến, quan điểm, tạo diễn đàn tranh
luận công khai về vấn đề đặt ra. Trên cơ sở nhìn nhận đa chiều về vấn đề, tìm
ra bản chất vấn đề để đi đến một thỏa thuận chung, một giải pháp chung giải
quyết vấn đề đó chứ không dừng ở việc khơi gợi vấn đề rồi bỏ lửng nó. Có
như vậy báo chí mới thực hiện vai trò phản biện xã hội một cách triệt để, thúc
đẩy xã hội phát triển.
1.2. Đổi mới giáo dục và sự cần thiết của đổi mới giáo dục phổ
thông trong thập niên đầu thế kỉ XXI 17
1.2.1. Khái niệm đổi mới giáo dục
Khái niệm đổi mới gần với cải cách: Cải cách là sửa đổi cho hợp lý
hơn, phù hợp hơn với tình hình mới.
Đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn hiệu
quả hơn so với trước. [24, tr. 657]
Theo đó có thể hiểu đổi mới giáo dục là hệ thống việc làm để nền giáo
dục thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn, hiệu quả hơn trước, phù hợp với nền giáo
dục chung của thế giới và sự phát triển chung của thời đại.
Đổi mới giáo dục muốn hiệu quả và đúng hướng cần một tư duy mới,
tiến hành một cách hệ thống, phát triển từ mô hình thực tế đã nghiên cứu lâu
dài và có hiệu quả, có cơ sở lý luận, có tầm nhìn chiến lược; không thể là các

Trường THPT; Trường phổ thông có nhiều cấp học; Trung tâm kỹ thuật tổng
hợp - hướng nghiệp.
Về giáo dục Phổ thông, Luật giáo dục 2005 cũng nêu rõ trong điều 26,
27, 28, 29 như sau:
Mục tiêu của giáo dục phổ thông
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng
lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông
Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn
diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với
tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học. 19
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa:
Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông;
quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục
phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức
đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của
giáo dục phổ thông.
Sách giáo khoa cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ

Năm 2007, Bộ GD&ĐT đã đề xuất hàng loạt sáng kiến: Phong trào
“Nói không với tiêu cực”, “Đề án tăng học phí”, “Đào tạo 20.000 tiến sĩ”,
“Đại học đẳng cấp quốc tế”, “Hỗ trợ dạy nghề và đào tạo việc làm cho thanh
niên”, “Cổ phần hóa các đại học công”… [34, tr. 18] nhưng tất cả các sáng
kiến đó không tạo được sự đồng thuận trong xã hội.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Đổi mới có tính cách
mạng nền gáo dục đào tạo của nước nhà”. Để đưa đất nước phát triển nhanh
với chất lượng cao và bền vững, tiến kịp thời đại trong kỉ nguyên thông tin và
tri thức, chúng ta cần tiến hành một cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để
có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà.
Trước hết, cần đổi mới tư duy về quan điểm và mục tiêu giáo dục và
đào tạo, từ đó mà đổi mới chương trình, nội dung, phương châm, phương
pháp giáo dục, đổi mới hệ thống tổ chức, công tác quản lee và hệ thống chính 21
sách nhằm hiện đại hóa nền giáo dục của nước ta phù hợp với truyền thống
văn hóa dân tộc và xu hướng phát triển chung của thời đại. [28, tr. 16]
Để có sự đổi mới cách mạng đó, trước tiên cần đánh giá lại vai trò, vị
trí của giáo dục bậc phổ thông. Vì giáo dục phổ thông là nền tảng của chung
của toàn bộ hệ thống giáo dục. Chúng ta không thể có giáo dục nghề nghiệp,
giáo dục ĐH và sau ĐH có chất lượng cao nếu giáo dục ở bậc phổ thông còn
yếu kém, bất cập. Nhìn nhận đúng vai trò của giáo dục phổ thông trong hệ
thống giáo dục thì các chính sách mang tầm vĩ mô chiến lược mới có thể đặt
ra đúng đắn, thúc đẩy giáo dục và xã hội phát triển theo kịp xu thế thời đại.
1.2.2.2. Sự cấp bách của đổi mới giáo dục tiểu học
Như đã trình bày ở trên, giáo dục phổ thông được coi là nền tảng của
giáo dục nói chung. Trong nền tảng đó, giáo dục tiểu học là cấp học đầu tiên
đặt cơ sở nền móng, là gốc của giáo dục và “của công cuộc xây dựng đất
nước”.

Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg Về việc đổi mới chương trình SGK Phổ thông,
Chương trình Tiểu học 2000 cũng đã được thực thi.
Chương trình Tiểu học 2000 triển khai với việc làm là cả nước dùng1
bộ SGK (năm 2002) không mang lại hiểu quả tích cực và đã vấp phải sự phản
đối của xã hội.
Với Chương trình cả nước dùng một bộ sách giáo khoa, thành quả của
Phương án Công nghệ giáo dục (thực nghiệm từ 1978) triển khai từ lớp 1 đến
lớp 5 trên phạm vi 43 tỉnh/thành cả nước đã bị xóa bỏ, “thế chỗ là Quyển sách
e/b đầy tai tiếng ở lớp Một, rồi các quyển “đồng loại” tuần tự thế chỗ ở các
lớp Hai, Ba, Bốn, Năm”. Tháng 5/2008, Công nghệ giáo dục đã chính thức bị
“khai tử”. 23
Tuy nhiên cũng trong năm 2008, trước tình trạng “đáng buồn triền
miên” của giáo dục ở vùng sâu, vùng xa thuộc 3 Tây (Tây Bắc / Tây Nguyên /
Tây Nam Bộ), Bộ GD&ĐT cho phép đưa Phương án Công nghệ giáo dục về
với 10 ngàn học sinh lớp Một ở các tỉnh Lào Cai, Sơn La, KonTum, Tây
Ninh, An Giang, Kiên Giang.
Hiện nay, vấn đề quá tải về nội dung chương trình sách giáo khoa phổ
thông trong đó có bậc tiểu học không thể giải thích bằng việc: "Một chương
trình, một bộ sách không thể phù hợp với tất cả các nhóm đối tượng HS, nên
việc quá tải đối với một số bộ phận HS là không thể tránh khỏi". Nạn dạy
thêm tràn lan ở bậc học này, đặc biệt là việc tổ chức ôn luyện cho học sinh
trước khi vào lớp 1 không thể là việc làm nhằm giúp học sinh theo kịp
chương trình học…
Trong khi thực tế hiện nay, cấp học ở bậc phổ thông được được báo chí
cũng như dư luận quan tâm nhiều nhất không phải là giáo dục tiểu học, mà
chủ yếu là giáo dục bậc THPT, bậc cao hơn lại chú trọng tới giáo dục ĐH.
Bởi đây là cấp học bước ngoặt, được chọn lọc thông qua các kì thi tuyển chọn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status