1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN TRI THỨC
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng Đảng, Báo Lao Động
cuối tuần, báo An ninh thế giới cuối tháng, trong 3 năm, 2012 - 2014)
NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 62.32.01.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI – 2016
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
4
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục biểu đồ, bảng, ảnh
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
11
1.1. Khái quát về vấn đề nghiên cứu
11
1.2. Các nghiên cứu ở nước ngoài
13
1.3. Các nghiên cứu trong nước
24
Chương 2: THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ TRÊN BÁO CHÍ –
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
37
3.2. Thực trạng nội dung thông tin chuyên đề trên các báo, tạp chí thuộc
diện khảo sát
92
3.3. Thực trạng hình thức tổ chức thông tin chuyên đề trên các báo, tạp
chí thuộc diện khảo sát
111
Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC
TỔ CHỨC THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ BÁO IN
127
4.1. Đánh giá về việc tổ chức thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam
127
4.2. Những yếu tố tác động đến xu hướng phát triển thông tin chuyên
đề ở Việt Nam hiện nay
135
5
4.3. Thực tiễn, bài học kinh nghiệm tổ chức thông tin chuyên đề trên
thế giới
140
181
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Xu hướng phát triển:
XHPT
Thông tin chuyên đề:
TTCĐ
Báo in Việt Nam:
BIVN
Cơ quan báo chí:
CQBC
Báo chí – Truyền thông:
BCTT
Mạng xã hội:
MXH
98
5
6
Xây dựng Đảng
Biểu đồ 3.5. Số lượng bài trong chuyên đề trên An ninh thế giới
Bảng 3.6. Tỷ lệ thông tin chuyên đề phản ánh theo lĩnh vực
100
101
trên Hồ sơ sự kiện
7
7
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ lĩnh vực phản ánh của thông tin chuyên đề
102
8
trên Lao động cuối tuần
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ các bài chính có hộp dữ liệu trên Lao động
115
9
14
động cuối tuần ở trang bìa
Biểu đồ 3.13. Tỷ lệ sử dụng ảnh chân dung trên Báo An ninh
124
15
thế giới
Ảnh 4.1. Sinh viên năm thứ tư Khoa Báo chí, Học viện Báo chí
172
và Tuyên truyền thảo luận về thông tin chuyên đề
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Đề tài “Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam
hiện nay” (Khảo sát Chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng Đảng, Báo
Lao động cuối tuần, Báo An ninh thế giới giữa tháng - cuối tháng, trong 3 năm,
2012-2014) được thực hiện vì những lý do chính sau đây:
Thứ nhất, sự bùng nổ của truyền thông trong thời gian qua đã và đang
tạo ra môi trường giúp báo chí có những bước phát triển mạnh mẽ, với những
khác biệt rõ ràng so với trước đây, cả về nội dung và hình thức chuyển tải
thông tin. Với sự trợ giúp của những thành tựu khoa học kỹ thuật, TTĐC dần
chiếm lĩnh, chi phối được quá trình tiếp nhận thông tin của cộng đồng. Việc
yêu cầu cụ thể về nội dung, hình thức cho phù hợp với mỗi mô thức thông tin
khác nhau... là những câu hỏi đặt ra cần có sự nghiên cứu và giải đáp.
Thứ tư, hiện nay còn rất ít công trình nghiên cứu hệ thống về TTCĐ
trên báo in. Một số tác giả các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề tổ
chức TTCĐ trên báo chí, nhưng còn ở dạng riêng lẻ, tính khái quát chưa cao.
Việc nghiên cứu một cách có hệ thống về TTCĐ trên báo chí nói chung, trên
báo in nói riêng, vì thế là có ý nghĩa.
Thứ năm, thực tiễn hoạt động báo chí ở Việt Nam thời gian qua cho
thấy, đã xuất hiện những hình thức lợi dụng tính chất của việc tổ chức các
10
chuyên đề nhằm mục đích “ép” các đơn vị đăng quảng cáo trá hình, làm ảnh
hưởng không nhỏ tới diện mạo nền báo chí nước nhà.
Thứ sáu, trong quá trình tìm hiểu, tham gia giảng dạy ở các trung tâm
đào tạo báo chí khác nhau, nghiên cứu sinh nhận thấy TTCĐ dù đã được đưa
vào chương trình giảng dạy, nhưng chưa được thực sự coi trọng như những
nội dung chính, trọng tâm. Thực tế, việc tổ chức TTCĐ không đơn giản chỉ là
những kỹ năng đơn thuần, mà rất cần thiết được tổ chức một cách bài bản, từ
lý thuyết đến thực tiễn, cho phù hợp với các mô thức TTCĐ khác nhau.
Sáu lý do chính kể trên cho thấy sự cấp thiết, cả về lý luận và thực tiễn
của việc thực hiện đề tài “Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề trên báo
in Việt Nam hiện nay” (Khảo sát Chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng
Đảng, Báo Lao động cuối tuần, Báo An ninh thế giới giữa tháng - cuối tháng,
trong 3 năm, 2012-2014).
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm xác định XHPT TTCĐ trên BIVN, thông
qua việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về TTCĐ, phân tích
việc tổ chức TTCĐ trên các báo, tạp chí thuộc diện khảo sát, làm rõ bản chất
- Thứ ba, nghiên cứu sinh nêu ra những yếu tố tác động đến XHPT
TTCĐ ở Việt Nam hiện nay; chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với việc tổ chức
TTCĐ trên BIVN. Đồng thời, nghiên cứu sinh đưa ra khái quát tình hình thực
tiễn, bài học kinh nghiệm tổ chức TTCĐ trên thế giới thông qua nghiên cứu
một số trường hợp cụ thể, phù hợp với đề tài của luận án.
- Thứ tư, đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất
lượng TTCĐ trên BIVN, đặc biệt là các báo, tạp chí thuộc diện khảo sát. Từ
kết quả nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng sản phẩm TTCĐ trên BIVN
hiện nay, nghiên cứu sinh dự báo XHPT TTCĐ trên BIVN cùng một số XHPT
TTCĐ về nội dung, hình thức. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp và khuyến
nghị nhằm phát triển TTCĐ trên BIVN trong thời gian tới.
12
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc tổ chức TTCĐ trên BIVN
hiện nay về mặt nội dung, hình thức, cách thức tổ chức thực hiện. Từ đó, có
cơ sở đưa ra một số dự báo về XHPT TTCĐ báo in trong tương lai.
3.2. Đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát:Luận án khảo sát TTCĐ trên các ấn phẩm báo in
cụ thể là:Chuyên san Hồ sơ sự kiện (Tạp chí Cộng sản), Tạp chí Xây dựng
Đảng, Báo Lao động cuối tuần, Báo An ninh thế giới giữa tháng - cuối tháng.
Đây là các ấn phẩm báo in tiêu biểu về việc tổ chức TTCĐ theo quy mô tổ
chức thông tin là: trang chuyên đề, nhóm bài chuyên đề và số chuyên đề mà
nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu. Đồng thời, từ các đối tượng khảo sát,
nghiên cứu điển hình này, cùng những nghiên cứu về lý luận trên thế giới,
trong nước mà nghiên cứu sinh kế thừa, phát triển, xây dựng mới, sẽ là cơ sở
để các CQBC có thể nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn tổ chức các dạng
TTCĐ khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, thời điểm tiến hành, cũng như việc
5.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở nhận thức luận những vấn đề lý luận về triết
học, chính trị học, báo chí học (chức năng và đặc thù loại hình báo in, kinh tế
báo chí truyền thông, công chúng báo chí truyền thông hiện đại, tâm lý học
báo chí, đặc thù và tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo in…),các khoa học liên
quan như: kinh tế học, xã hội học, logic học, toán học... kết hợp phân tích lý
luận và thực tiễn nhằm làm rõ nội dung, nhiệm vụ của đề tài.
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu công cụ chính
sau đây để thực hiện đề tài:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được tiến hành
thông qua việc sưu tầm, tuyển chọn, nghiên cứu các tài liệu, như: sách, báo,
14
quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về báo chí, văn bản pháp luật liên
quan đến đề tài, giúp nghiên cứu sinh hiểu, hệ thống hóa luận điểm, so sánh,
minh họa cùng các kết qua khảo sát của mình, từ đó đưa ra quan điểm của cá
nhân để khẳng định khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp khảo sát: Phương pháp này được tiến hành thông qua
việckhảo sát, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, chứng minh... các thông
số thu được, nhằm có được kết quả khảo sát thực tiễn, cả định tính và định
lượng nhằm sử dụng để chứng minh giả thuyết đã đặt ra. Việc khảo sát được
nghiên cứu sinh tiến hành chặt chẽ, kỹ lưỡng, bảo đảm sự khoa khọc, tính
chính xác, đáng tin cậy.
- Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi (an-két): Phương pháp này được
tiến hành thông qua việc lập bảng hỏi, phiếu điều tra nhằm thu nhận các ý
kiến, đánh giá của công chúng về đối tượng nghiên cứu của đề tài. Phương
pháp này chỉ tiến hành riêng cho chuyên san Hồ sơ sự kiện, kết quả cũng chỉ
phù hợp với rất ít nội dung có liên quan đến thực trạng việc tổ chức TTCĐ
vào đặc tính so sánh theo chiều cạnh thời gian – không gian của việc tổ chức,
phát triển TTCĐ trên báo in để tiến hành nghiên cứu. Đó là việc thu thập và
phân tích thông tin theo thời gian (nghiên cứu lịch đại), trong một thời điểm,
hay một khoảng thời gian ngắn (nghiên cứu đồng đại). Từ những sự phát
triển, biến đổi của việc tổ chức TTCĐ trên báo in trong khoảng thời gian
ngắn, cũng như việc phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức TTCĐ tại thời
điểm hiện tại, nghiên cứu sinh có cơ sở đưa ra những nhận xét về quá trình
phát triển, cũng như dự báo XHPT TTCĐ trong thời gian tới.
6. Đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu đề tài của luận án góp phần:
- Làm rõ và mới hơn về nhận thức, cách tiếp cận, đánh giá về vai trò
của thông tin chuyên đề trên báo in nước ta trong điều kiện và yêu cầu mới;
Luận án cũng góp phần làm phong phú, sinh động hơn về lý luận và thực tiễn
của báo in trong bối cảnh cạnh tranh và khó khăn của báo in hiện nay, với các
kết quả nghiên cứu định tính và định lượng đáng tin cậy.
16
- Kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá về thông tin chuyên đề trên báo
in Việt Nam thông qua việc khảo sát các ấn phẩm tiêu biểu cho loại hình
thông tin chuyên đề theo quy mô tổ chức thông tin, là: Báo Lao động cuối
tuần, Chuyên đề An ninh thế giới giữa tháng – cuối tháng (trang chuyên đề);
Tạp chí Xây dựng Đảng (nhóm bài chuyên đề) và Chuyên san Hồ sơ sự kiện
(số chuyên đề), cùng việc nghiên cứu lý thuyết khẳng định rõ thế mạnh, hạn
chế của thông tin chuyên đề trên báo in.
- Trên cơ sở phân tích các cấp độ của thông tin chuyên đề theo quy mô
tổ chức thông tin, với việc phân tích chuyên sâu, đáp ứng hiểu biết sâu sắc về
vấn đề, sự kiện nào đó; luận án khẳng định đây là lợi thế của báo in trong việc
phát huy thế mạnh của mình trong cuộc cạnh tranh gay gắt với các loại hình
báo chí khác, và truyền thông xã hội trong tương lai.
+Ý nghĩa thực tiễn:
- Là tài liệu để lãnh đạo các cơ quan báo chí, trong đó có báo in, tham
khảo, đưa ra những quyết sách đúng, phù hợp với xu hướng phát triển của TTCĐ
trên báo in và các loại hình báo chí khác.
- Là tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu về các vấn đề liên quan
đến TTCĐ trên báo chí nói chung, trên báo in nói riêng; làm tài liệu tham khảo
cho các cơ sở đào tạo báo chí, cho cán bộ, giảng viên, người học ngành báo chí.
- Có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà báo viết chuyên đề,
những biên tập viên, những ai quan tâm tới chủ đề này.
- Có thể làm tài liệu tham khảo để các cơ sở đào tạo báo chí giảng dạy
môn các chuyên đề báo chí, hoặc báo chí chuyên biệt, báo chí dữ liệu...
- Đóng góp số liệu, thông tin cho hệ thống thư viện, phòng lưu trữ, nhà
văn hoá, cũng như cho báo chí khu vực và thế giới...
8. Kết cấu của đề tài
18
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài
gồm 5 chương,18tiết, 191 trang, 15hình minh họa. Cụ thể:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thông tin chuyên đề trên báo chí – những vấn đề lý luận cơ
bản
Chương 3: Thực trạng thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam
Chương 4: Những vấn đề đặt ra đối với việc tổ chức thông tin chuyên
đề báo in
Chương 5: Dự báo xu hướng phát triển thông tin chuyên đềở Việt Nam
và một số giải pháp, khuyến nghị
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát về vấn đề nghiên cứu
MXH và báo chí, có những phản ứng trái chiều khác nhau khi một số CQBC,
nhà xuất bản tỏ ra hào hứng thì không ít cơ quan thuộc lĩnh vực này lại lo ngại
mất đi tính chủ động trong việc cung cấp thông tin đến người đọc. Nhưng
thống kê cho thấy, hiện nay trung bình có khoảng 60% lưu lượng truy cập các
báo, trang tin điện tử đến từ người dùng Facebook.
Trong khi đó, kết quả khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Pow vào
năm 2014 cho thấy, 48% số người được hỏi nói rằng họ đọc tin tức về chính
trị và xã hội từ MXH... Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, đặc
biệt là vấn đề chia sẻ lợi nhuận từ nguồn quảng cáo trên Facebook đối với
những thông tin mà báo chí, các nhà xuất bản cung cấp... Tuy nhiên, “sự bắt
tay” giữa MXH này và các CQBC sẽ tác động không nhỏ đến sự phát triển
của báo chí trong tương lai. Vào tháng 3-2016, Facebook cho ra đời tính năng
truyền hình trực tiếp (live) từ Facebook cá nhân cho tất cả người dùng, khiến
mỗi chủ tài khoản của MXH này đều có thể làm truyền hình trực tiếp. Điều
20
này tác động mạnh đến các loại hình báo chí, và cần có những sự đổi thay về
luật pháp, sự hành nghề của cơ quan quản lý báo chí và các CQBC, nhà báo.
Vấn đề đáng chú ý khác, sự phát triển mạnh mẽ của báo mạng điện
tử, truyền hình khiến báo in đã, đang và sẽ còn bị chao đảo dữ dội. Số
lượng phát hành các tờ báo hàng đầu đều sụt giảm, thậm chí giảm tới gần
50% so với thời hoàng kim. Nhiều tờ báo phải giảm kỳ, thậm chí đình bản,
do không thể tự cân đối được tài chính để duy trì sự hoạt động. Mới đây
nhất, ngày 26-3-2016, The Independent - một trong những tờ báo uy tín
nhất ở Anh - đã ra mắt ấn phẩm cuối cùng để ngừng xuất bản báo giấy, chỉ
còn tập trung vào phát triển phiên bản điện tử, bởi trực tuyến sẽ là xu
hướng của tương lai. Tại Việt Nam, kể từ ngày 1-4-2016, tờ Thể thao 24h
thông báo tạm ngừng xuất bản trong 3 tháng để cơ cấu lại hoạt động…
Trong những sự chuyển hướng, thích ứng đầy khó khăn của báo in,
vi phản ánh (đề cập chủ yếu đến tin tức ở châu lục) dần xuất hiện trên báo chí
châu Âu ngày một nhiều, rõ nét hơn... Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,
báo in xuất hiện trên hầu khắp thế giới, trở thành phương tiện thông tin cơ bản
và hữu ích của con người. Báo chí ở Mỹ ra đời muộn hơn, nhưng nhanh
chóng có những bước phát triển, sớm tạo ra những hướng đi độc đáo, phù hợp
với yêu cầu của bạn đọc, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của báo chí trong
đời sống chính trị-xã hội. Báo chí Mỹ nhanh chóng vượt qua việc thông tin
kiểu tường thuật, mạnh dạn đột phá vào việc cung cấp những thông tin
chuyên sâu, mang tính lý giải, bình luận, định hướng cho công chúng. Có thể
khẳng định rằng, sau khi xuất hiện không lâu, báo in đã tổ chức TTCĐ theo
những lĩnh vực, phạm vi phản ánh khác nhau, như chính trị, kinh tế, xã hội,
quốc gia, khu vực, thế giới... Tiếp đến, các dạng TTCĐ cho lứa tuổi, giới tính,
ngành nghề... dần xuất hiện, phục vụ những đối tượng công chúng khác nhau.
Thực tế, nhiều thập niên qua có rất nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn
đề của báo chí hiện đại; sự tác động của toàn cầu hóa đến các phương tiện
truyền thông đại chúng; những xu hướng phát triển của báo chí hiện đại; cách
tổ chức thông tin, trình bày báo chí; những vấn đề liên quan đến tương lai của
22
báo in trong kỷ nguyên số... Theo tìm hiểu của nghiên cứu sinh, các cuốn
sách, những công trình nghiên cứu, các bài viết, bài nghiên cứu đăng tải trên
các phương tiện truyền thông đại chúng có liên quan trực tiếp đến TTCĐ
thường chỉ mổ xẻ một khía cạnh, bộ phận nào đó hoặc gián tiếp có liên quan
chứ không đề cập một cách sâu đậm, riêng biệt, hệ thống. Việc có đề cập đến
TTCĐ cũng hết sức khái lược, mang tính nhận diện và thiên về các kỹ năng,
kinh nghiệm viết bài, tổ chức các loại hình TTCĐ trên báo chí.
1.2.2. Sách
+Nhóm sách về lý luận và thực tiễn hoạt động báo chí
- E.P. Prôkhôrốp; Cơ sở lý luận của báo chí (tập 1,2 - 2005); Nxb
đến công tác biên tập, các chương còn lại bàn tới khá toàn diện các nội dung
về BCTT, từ ma-két tới thiết kế chương trình, đề tài và lĩnh vực, nghề làm báo
giữa chức năng thông tin và chức năng công quyền...
- Sally Adams, Wynford Hicks; Kỹ năng phỏng vấn dành cho các nhà báo
(2007), Nxb Thông tấn, Hà Nội [70]. Cuốn sách đề cập đến các kỹ năng phỏng vấn
dành cho các nhà báo một cách cụ thể, chi tiết, gồm các phần: Chuẩn bị và bắt
đầu; kỹ thuật phỏng vấn; hiểu được phỏng vấn và các vấn đề cần tránh; những
đối tượng phỏng vấn khác nhau...
- The Missouri Group; Nhà báo hiện đại (2014); Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí
Minh [86]. Cuốn sách đề cập đến cách tác nghiệp với sự hỗ trợ của máy tính
và những cơ sở dữ liệu trên mạng Internet; cách làm tin và viết tin cho báo
trực tuyến, bên cạnh những phương pháp truyền thống cho báo in và truyền
hình được cách tân theo nhu cầu mới của thời đại...
- Jane T. Harrigan, Karen Brown Dunlap; Con mắt biên tập (2011);
Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh [87]. Cuốn sách khẳng định, người
biên tập ngày nay không chỉ biết biên tập văn bản mà còn phải am hiểu các kỹ
năng trình bày, dàn trang và tư duy hình ảnh...
- Jack Hart; Huấn luyện viên của người viết báo (2007); Nxb Thông tấn, Hà
Nội [88]. Cuốn sách đề cập đa dạng về vấn đề thu thập ý tưởng, chủ đề viết tin
24
bài và cách phác họa bài vở, cùng những kinh nghiệm về việc sáng tác, sáng
tạo, duy trì bút lực để các tác phẩm đến với bạn đọc...
- Mitchell Stephens; Hơn cả tin tức – tương lai của báo chí (2015);
Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh [99]. Cuốn sách đề xuất một tiêu chuẩn
mới: “báo chí trí tuệ” (wisdom journalism) - một hỗn hợp của các hình thức
đưa tin – độc quyền, táo bạo, điều tra – với việc nắm bắt sự kiện đương thời
một cách am hiểu, sâu sắc, có tính diễn giải, thậm chí có chủ kiến kiên định...
- Tom Plate; Lời tự thú của một nhà báo Mỹ (2010); Nxb Trẻ, Thành
thạo một lĩnh vực chính và ít nhất một công việc chuyên môn; Tư duy tổng
hợp, khả năng hợp nhất các ý kiến từ những chuyên môn và những lĩnh vực
khác nhau thành một tổng thể liền lạc và liên kết sự hợp nhất đó với những
tổng thể khác; Tư duy sáng tạo, khả năng khám phá và làm rõ những vấn đề,
những câu hỏi và những hiện tượng mới; Tư duy tôn trọng, nhận biết, thấu
hiểu sự khác biệt giữa con người với nhau và Tư duy đạo đức, hoàn thành
trách nhiệm là một người lao động, một người công dân.
Tóm lại, thông qua việc nghiên cứu các cuốn sách thuộc nhóm lý luận
và thực tiễn hoạt động báo chí, nghiên cứu sinh rút ra các vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu sinh có được những kiến thức nền tảng, cơ bản,
hệ thống về báo chí; những kiến thức lý luận và kinh nghiệm về tình hình một
số quốc gia có nền báo chí phát triển cũng như trên thế giới, từ đó có thể tham
khảo, kế thừa để xây dựng khung lý thuyết của luận án, đồng thời tiến hành
khảo sát thực tiễn một số vấn đề liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Thứ hai, nghiên cứu sinh có cái nhìn cơ bản về lý luận báo chí, đặc
biệt là các vấn đề liên quan đến nội dung và hình thức của báo chí, làm cơ sở
để đánh giá, phân tích các nội dung liên quan đến luận án.
- Thứ ba, nghiên cứu sinh nắm được hệ thống những vấn đề liên quan
đế thể loại báo chí, đến các công việc quan trọng của báo chí, như tổ chức tòa
soạn, biên tập... làm cơ sở để khảo sát, phân tích về việc sử dụng các thể loại