ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HOA HỘI ĐỒNG NIÊN: CÁC VAI TRÒ, KHUÔN MẪU VÀ
ỨNG XỬ TRONG XÃ HỘI NÔNG THÔN ĐANG
CHUYỂN ĐỔI: TRƯỜNG HỢP LÀNG QUAN ĐÌNH, XÃ
VĂN MÔN, HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn: PGS.TS. Lương Hồng Quang
HÀ NỘI - 2007
- iv -
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3. Đối tượng, phạm vi, địa bàn nghiên cứu 10
4. Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn 10
2.2.2.1. Vai trò trong việc tổ chức hội làng 85
2.2.2.2. Vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua dư luận xã hội 90
CHƢƠNG 3: HỘI ĐỒNG NIÊN VÀ SỰ PHẢN ÁNH MỘT XÃ HỘI NÔNG
THÔN ĐANG CHUYỂN ĐỔI 95
3.1. Phục hồi và biến đổi văn hoá truyền thống 97
3.2. Mở rộng xã hội dân sự: Dân chủ cơ sở và phát huy năng lực tự quản 106
3.3. Đa dạng hoá cấu trúc xã hội: sự phân hoá các nhóm xã hội và vai trò của cá
nhân 116
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133 - vi -
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Ý nghĩa
ĐN
Đồng niên
GS
Giáo sư
HĐC
Hội đồng canh
HĐN
Hội Đồng niên
KHXH
Khoa học xã hội
KHXH & NV
Khoa học xã hội và Nhân văn
- 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cho đến hiện nay, dù đã trải qua một thời gian dài nhưng có lẽ những câu nói
của nhà dân tộc học Từ Chi vẫn còn nguyên giá trị khi ông cho rằng: “Hiểu được
làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên tìm hiểu xã hội Việt
nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung, trong sức năng động lịch sử của nó, trong
ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hoá của nó, cả
trong những phản ứng của nó trước tình huống mà lịch sử đương đại đặt vào nó”
(Trần Từ, 1984, tr.12). Do đó, thông qua làng Việt, ta có thể nhận diện được xã hội
nông thôn đồng bằng sông Hồng trong lịch sử và hiện tại.Ý nghĩa đó khiến cho việc
nghiên cứu về làng – xã dù không còn là một chủ đề mới nhưng vẫn là một chủ đề
quan trọng cho các nhà nghiên cứu bàn luận, nhất là trong bối cảnh làng – xã đang
chịu sự tác động rất mạnh mẽ của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị
hoá nông nghiệp – nông thôn.
Vài thập kỷ trở lại đây, dưới tác động của quá trình đổi mới, các làng – xã
đang có những thay đổi mạnh mẽ trên nhiều phương diện trong đó phải kế tới xu
hướng phục hồi của các yếu tố truyền thống, đặc biệt là sự xuất hiện trở lại của hàng
loạt các tổ chức phi quan phương.
Trong lịch sử, các tổ chức phi quan phương là một phần cấu thành của cơ cấu
tổ chức làng – xã. Các tổ chức này thể hiện các chiều cạnh quan hệ xã hội khác
nhau của con người như nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, huyết thống… Mỗi loại
hình tổ chức có một vai trò khác nhau đáp ứng các nhu cầu về văn hoá, xã hội, kinh
tế… của người nông dân. Các tổ chức này cũng chính là những cầu nối giữa các cá
đề về trình độ phát triển của xã hội nông thôn hiện nay ra sao?
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy, nghiên cứu về những biến đổi của cơ
cấu tổ chức làng – xã và những biến đổi trong vai trò, khuôn mẫu của các tổ chức xã
hội phi quan phương sẽ góp phần vào tìm hiểu các động thái biến đổi của đời sống
xã hội nông thôn hiện nay. Đây là một loại nghiên cứu cơ bản ở tầm vĩ mô, cần phải
tiến hành trong một thời gian dài mới có thể trả lời cho vấn đề này một cách khái - 3 -
quát. Tuy nhiên, nghiên cứu trong phạm vi một tổ chức xã hội cụ thể trong một
khoảng không gian và thời gian nhất định cũng có thể cho thấy những biến đổi xã
hội mang tính bộ phận đang diễn ra ở đây. Những nghiên cứu trường hợp này nếu
được đặt trong sự so sánh với các kết quả tại những không gian và thời điểm khác
nhau, sẽ giúp ta thấy rõ hơn sự biến đổi qua thời gian của xã hội làng – xã trong quá
trình đổi mới và phát triển.
Trong số các tổ chức phi quan phương được phục hồi hiện nay, hội đồng niên
(HĐN) được coi là một nhân tố nổi bật. Tổ chức này có mặt tại nhiều làng – xã
nông thôn vùng châu thổ Bắc Bộ, nhất là ở các tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây, Hải Dương,
Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định…, thu hút một bộ phận đông đảo người dân tham
gia. Thông qua việc nghiên cứu đối tượng cụ thể này, có so sánh, đối chiếu một
phần với các tổ chức khác, tác giả mong muốn tìm hiểu một cách sâu sắc về quá
trình vận dụng các yếu tố truyền thống vào đời sống đương đại của người dân làng
– xã hiện nay. Qua đó có những cứ liệu cụ thể để hiểu rõ hơn những xu hướng biến
đổi của các tổ chức phi quan phương nói riêng và đời sống xã hội nông thôn nói
chung trong quá trình chuyển đổi hiện nay.
Nghiên cứu về các HĐN được thực hiện tại làng Quan Đình, xã Văn Môn,
huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, một làng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía
Bắc, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội. Với vị trí này, làng Quan Đình nằm trong khu
vực chịu sự tác động mạnh mẽ của xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị
xã hội Việt Nam cổ truyền. Những nghiên cứu này cung cấp nguồn tư liệu rất giá trị
để có thể hình dung được bối cảnh xã hội Việt Nam cổ truyền.
Bên cạnh những công trình mang tính khảo tả các làng – xã trên những nét
đại cương, còn có những công trình nghiên cứu về quá trình biến đổi của làng – xã
trong lịch sử sau khi các ngành khoa học xã hội được xây dựng trên quan điểm mác
xít. Thuộc nhóm công trình này phải kể đến Xã thôn Việt Nam (1959) của Nguyễn
Hồng Phong, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (1977,1978), Nông dân và nông
thôn Việt Nam thời cận đại (1990, 1992) do Viện Sử học phát hành; Thiết chế làng -
xã cổ truyền và quá trình dân chủ hoá hiện nay ở nước ta (1992) của Vũ Minh
Giang… Những công trình này không hẳn chỉ quan tâm đến các vấn đề của làng - - 5 -
xã cổ truyền mà là những nghiên cứu về làng - xã trong quá trình biến đổi của lịch
sử.
Những năm gần đây, việc nghiên cứu về làng – xã đương đại được chú trọng
theo hướng tiếp cận chuyên ngành và dựa trên các nghiên cứu trường hợp, được các
nhà nghiên cứu nước ngoài và trong nước tiến hành. Trong nhóm các công trình
nghiên cứu về làng - xã đương đại phải kể đến những nghiên cứu trường hợp về
những làng - xã cụ thể như Hải Vân - một xã ở Việt Nam, Đóng góp của xã hội học
vào việc nghiên cứu những sự quá độ (2001) của F.Houtart và G.Lemercinier - là
hai tác giả người Bỉ, Làng Nguyễn (1994) của Diệp Đình Hoa và nhiều công trình
nghiên cứu khác. Đặc biệt trong số các công trình nghiên cứu chuyên sâu về một
làng, phải kể đến các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài với cách tiếp
cận nhân học đã phân tích rất tỉ mỉ và sâu sắc về đời sống làng Việt. Đó là các tác
phẩm Cuộc cách mạng ở làng, truyền thống và sự chuyển đổi ở miền Bắc Việt Nam,
1925 – 1988 (Revolution in the village, Tradition and Transformation in North
Vietnam, 1925-1988) (1992) của Hy V.Lương, hay Làng Việt đối diện tương lai, hồi
sinh quá khứ (2007) của John Kleinen… Nhóm những công trình này là những
chức phi quan phương chỉ được bắt đầu vào đầu thập kỷ 80, đặc biệt là với công
trình Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (1984) của cố học giả Từ
Chi. Tác phẩm cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khá cụ thể, sinh động, về tổ chức
giáp, về cơ cấu tổ chức, chức năng, cách thức vận hành, những tác động của nó
trong đời sống làng Việt cổ truyền và đối với chính những thành viên trong lòng nó.
Tác phẩm còn đưa ra những luận giải rất khoa học về phe, giáp, về phường, hội
cùng những cung cách vận hành của chúng. Tác giả không chỉ dừng lại ở việc mô tả
các tổ chức mà tập trung vào việc nghiên cứu các tổ chức truyền thống từ phương
diện lý luận, trong đó đề cập đến khía cạnh vai trò của các tổ chức xã hội đối với
đời sống cộng đồng. Có thể coi đây là những viên gạch đầu tiên - những viên gạch
khá vững chắc, đặt nền móng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về cơ cấu tổ
chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Sông Hồng. Sau này, tác phẩm này được
biên soạn lại cùng với các công trình nghiên cứu khác của học giả Từ Chi trong
cuốn chuyên khảo Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người (2003).
Tiếp ngay sau đó, cuốn Lệ làng phép nước (1985) của Bùi Xuân Đính đã ra
mắt giới khoa học. Đây là tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về lệ làng cổ truyền Việt - 7 -
Nam từ tất cả các góc độ của nó, thông qua các bản hương ước cổ, ở tác phẩm này,
các tổ chức xã hội cổ truyền được thể hiện ở một góc độ khác, thông qua những quy
ước liên quan tới cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng xã của hương ước:
về việc lập ra các tổ chức trong làng, chức năng, quyền hạn và lề lối làm việc của
từng tổ chức cũng như của các thành viên trong đó, từ ngõ, xóm, dòng họ đến giáp,
phe, phường, hội…
Năm 1991, tập thể tác giả của Viện Kinh tế học thuộc Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam đã cho ra đời cuốn chuyên khảo Ảnh hưởng của các yếu tố truyền thống
đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, trong đó diễn giải về các hình thức hội, họ cổ
truyền trong nông thôn (mà các tác giả cuốn sách gọi là các hình thức tín dụng cổ
Rõ ràng là, trong những năm qua việc nghiên cứu về làng Việt cổ truyền nói
chung và về các tổ chức xã hội truyền thống của nó nói riêng, đã thu hút được sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Những công trình này đã
góp phần bảo lưu được giá trị văn hóa truyền thống của làng xã Việt Nam trên các
tài liệu thành văn. Từ đó giúp cho chúng ta có một cách nhìn toàn diện về giá trị của
các tổ chức xã hội truyền thống để phát huy thế mạnh, khắc phục những điểm yếu
kém của chúng trong đời sống cộng đồng; góp phần xây dựng văn hóa làng xã Việt
Nam “tiên tiến” nhưng vẫn thể hiện rõ bản sắc dân tộc.
Nhưng các nghiên cứu trên vẫn còn thiếu một sự tập hợp đi sâu về các tổ
chức xã hội phi quan phương, mới chỉ tập trung vào nghiên cứu một vài tổ chức
quan trọng như giáp, hay mới chỉ đưa ra những khái quát chung về một số tổ chức
như Hội Tư văn, Ban Khánh tiết và các tổ chức xã hội phi quan phương khác, đặc
biệt là các HĐN chưa được chú ý nghiên cứu đúng mức.
Cho đến nay, có thể nói chưa có một công trình nghiên cứu riêng biệt nào về
các HĐN. Tổ chức này chỉ được nhắc đến trong một số công trình của các nhà dân
tộc học, sử học… Đặc biệt, trong tác phẩm Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở
đồng bằng Bắc Bộ (1984), khi bàn về tổ chức giáp, tác giả Trần Từ đã đề cập một
cách sơ lược đến các HĐN và mô tả mối liên hệ giữa hai tổ chức này. Sau này,
HĐN cũng được nhắc đến trong các công trình của GS. Phan Đại Doãn, của nhà dân
tộc học Diệp Đình Hoa mà chúng tôi đã đề cập đến ở phần trên. Tuy vậy, trong các
tác phẩm này, HĐN chỉ được nhắc đến với tư cách là một loại hình tổ chức xã hội - 9 -
phi chính thống ở làng xã cổ truyền.Việc mô tả tổ chức này chỉ dừng lại ở khía cạnh
cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của nó.
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển trở lại của các HĐN, các công
trình nghiên cứu về làng – xã đương đại cũng đã nhắc đến tổ chức này, điển hình
trong công trình Sự biến đổi của làng – xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông
đang có những thay đổi nhất định và việc thay đổi đó có ảnh hưởng đến đời sống
làng – xã.
- Các nghiên cứu về các tổ chức phi quan phương cho đến nay chủ yếu
vẫn là những nghiên cứu mô tả. Các quan tâm về vai trò của các tổ chức phi quan
phương truyền thống truyền và những biến đổi của nó trong xã hội đương đại hầu
như ít được nhắc đến hoặc chỉ dừng lại ở những ý tưởng lẻ tẻ và mang tính gợi mở,
thiếu tính hệ thống
3. Đối tƣợng, phạm vi, địa bàn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn phân tích vai trò, khuôn mẫu và ứng xử của
HĐN ở một làng châu thổ Bắc Bộ như là sự tiếp nhận truyền thống và thích ứng của
người đương thời nhằm đảm bảo sự kết nối truyền thống và hiện đại. Thông qua các
phân tích này, tác giả muốn ghi nhận những động thái biến chuyển về văn hoá, xã
hội đang diễn ra trong xã hội nông thôn đương đại.
Phạm vi nghiên cứu: Có rất nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến các HĐN,
tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả chỉ xác định phạm vi nghiên
cứu của mình là các HĐN trong xã hội đương đại mà không đi sâu vào nghiên cứu
về lịch sử hình thành cũng như hoạt động của các HĐN trong xã hội truyền thống.
Địa bàn nghiên cứu: Luận văn được tiến hành trên cơ sở một nghiên cứu
trường hợp (case study) tại làng Quan Đình, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh
Bắc Ninh.
4. Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn
Với việc nghiên cứu về các HĐN, luận văn đặt ra mục đích tìm hiểu về quá
trình tiếp nhận các giá trị văn hoá và tổ chức truyền thống của người dân nông thôn
đương đại, cũng như các thích ứng của các giá trị và tổ chức ấy nhằm đáp ứng nhu
cầu của con người qua những biến đổi về thời gian. Để làm được điều đó, tác giả
luận văn sẽ tiến hành phân tích vai trò, các khuôn mẫu và các ứng xử liên quan đến
các HĐN thông qua tiếng nói, sự trải nghiệm và câu chuyện của chính các thành
viên trong các tổ chức này. Đồng thời, từ một khảo sát có tính đại diện, luận văn
muốn xác định rằng, các hoạt động của HĐN hiện nay đang phản ánh những xu
phương của nhà nước chỉ có thể coi là “phần cứng” trong hệ thống điều chỉnh
hành vi xã hội. Để bổ sung cho pháp luật, xã hội còn cần tới những chế định không
chính thức khác, chúng tôi gọi là những chế định phi quan phương.” (Vũ Minh
Giang, 1993)
Như vậy, khái niệm phi quan phương có thể được coi là đồng nghĩa với các
khái niệm phi chính thức (hay không chính thức), phi nhà nước đang được sử dụng
rộng rãi hiện nay. Nó được dùng để chỉ tính chất của một yếu tố nào đó xét trong
mối tương quan với hệ thống chính trị, trong đó, nhấn mạnh việc nằm ngoài sự
kiểm soát, quản lý của nhà nước một cách trực tiếp, “nằm ngoài” hệ thống chính trị
chính thức.
Trong lịch sử Việt Nam, các yếu tố quan phương và phi quan phương, chính
thức và không chính thức luôn tồn tại song hành cùng nhau. Bên cạnh các tổ chức
quan phương nằm trong cơ cấu quyền lực chính trị hay cơ quan chính quyền, còn có
rất nhiều các tổ chức được thành lập một cách tự phát từ các liên hệ của những
người có chung một nhu cầu nào đó. Các tổ chức này chính là các tổ chức phi quan
phương. Khái niệm tổ chức phi quan phương được hiểu là các tổ chức xã hội, các - 12 -
nhóm xã hội của quần chúng nằm ngoài cơ cấu quyền lực chính trị hay cơ quan
chính quyền của nhà nước, không chịu sự điều hành, quản lý trực tiếp cũng như hỗ
trợ về mặt tài chính của nhà nước. Nó được phát triển trên nền tảng tự nguyện và
cùng chia sẻ những giá trị và lợi ích chung của nhóm.
- Hội đồng niên: Bản thân khái niệm này đã xác định đặc trưng của loại hình
tổ chức này. Đó là một tổ chức tự nguyện, một tổ chức phi quan phương của những
người có cùng năm sinh, HĐN còn có các tên gọi khác là Hội đồng tuế hay Hội
đồng canh (HĐC). Trên lý thuyết, tất cả những người có cùng năm sinh đều có thể
thành lập các HĐN và thực tế tại một số nơi cũng có các HĐN của nữ giới hay có
sự tham gia của cả nam và nữ trong cùng một hội. Nhưng đa phần các HĐN chỉ
hành vi của cá nhân tương ứng với địa vị của cá nhân trong tập đoàn; đó là mặt
động của địa vị xã hội
2
. Ví dụ, các từ "mẹ", "lính gác", "thầy giáo" có nghĩa là địa vị
của con người trong một tập đoàn xác định, đồng thời cũng có nghĩa là cả một hệ
thống những hành vi xác định. Mỗi người có một địa vị xã hội nào đó, buộc phải
quan tâm đến điều mà tập đoàn mong đợi, yêu cầu đối với vai trò xã hội tương ứng.
Tham gia vào nhiều tập đoàn khác nhau, mỗi người thường thực hiện một số vai trò;
giữa những vai trò này, có thể phát sinh mâu thuẫn. Sự tương tác xã hội đòi hỏi mọi
thành viên phải nhất trí với nhau về nội dung của vai trò; quan niệm khác nhau về
những vai trò có liên quan đến nhau thì dẫn đến sự căng thẳng, xung đột. Không có
một sự phân loại rành mạch nào về các vai trò xã hội. Thường hay nêu ra những vai
trò về yêu cầu hành động (vd. thầy thuốc, lính gác), về phạm vi hay ngoại diên (vd.
công dân, hành khách), về ý nghĩa (vd. bạn hữu, người quen). Có người nêu ra những
vai trò đối xứng, vd, cha, con; những vai trò do tự nhiên mà có (tuổi, giới tính, xuất
thân) và do thành đạt mà có (trong kinh doanh, học tập).
- Khuôn mẫu: Theo nguyên gốc của từ này, khuôn mẫu được dùng để chỉ
việc làm theo một cái gì đó để tạo ra hàng loạt cái khác cùng kiểu. Hay một cái gì
đó có thể cho ta hiểu biết về hàng loạt những cái khác cùng một kiểu. (Hoàng Phê,
1988, tr.649)
Như vậy, theo nghĩa hẹp, khuôn mẫu thể hiện các đặc trưng hợp thành tiêu
chuẩn theo đó người khác làm theo, hay tạo ra các hàng loạt sản phẩm khác cùng
kiểu. Khái niệm khuôn mẫu được dùng nhiều trong toán học, tin học, tâm lý học,
ngôn ngữ học và các khoa học khác.Việc áp dụng khái niệm này trong từng lĩnh vực
2
liền với các yếu tố văn hoá. Nhân học văn hóa không chú trọng đến hành động ứng - 15 -
xử có tính chất cá biệt mà nghiên cứu môi trường xã hội văn hóa ảnh hưởng thế nào
đến ứng xử con người. Những ứng xử của con người ở các nền văn hoá khác nhau
thì không giống nhau do họ có được định hướng bởi các khuôn mẫu văn hoá khác
nhau. Trong khung cảnh văn hoá, con người có khả năng gán cho những ứng xử
một ý nghĩa ước định mà họ bắt buộc phải theo, các ý nghĩa đó thể hiện các khuôn
mẫu và biểu tượng văn hoá, đồng thời tương ứng với các vai trò của cá nhân trong
các tương tác.
- Xã hội nông thôn: Khái niệm “nông thôn” là một khái niệm khá bất định.
Hiện nay các nhà nghiên cứu thường sử dụng bộ ba phạm trù “nông thôn”, “nông
nghiệp”, “nông dân” để chứng tỏ nông dân và nông nghiệp là những đặc trưng cơ
bản của nông thôn. Nhưng đó chỉ là những đặc trưng vốn có trong lịch sử chứ
không phải là đặc trưng duy nhất hiện có. Theo tác giả Tô Duy Hợp, “xã hội nông
thôn được hiểu là hệ thống xã hội, hay nói chính xác hơn là một khu vực của hệ
thống xã hội tổng thể, với hệ đặc trưng sau đây. Nông thôn vốn là một khu vực cư
trú, hoạt động của nông dân, làm nông nghiệp, với tổ chức và thiết chế xã hội riêng
là xóm làng và với nền văn hoá đặc thù vốn có là văn hoá dân gian” (Tô Duy Hợp
và cộng sự, 2002, Tr.8). Những đặc trưng cơ bản nêu trên làm thành cái mà người
ta gọi là thuần nông (thuần nông nghiệp hoặc thuần nông thôn). Tuy nhiên, nông thôn
ngày nay không còn thuần nông như thế, hay nói một cách chính xác hơn, bộ phận thuần
nông đã và đang bị thu hẹp dần. Nông thôn ngày nay đã bị biến dạng, thậm chí đã bị biến
chất đáng kể. Đó là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển theo các khuynh hướng đô thị
hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Như vậy, khái niệm xã hội nông thôn bao gồm bình
diện "nông thôn" là phạm trù xã hội tổng thể, tổng hợp; bình diện "nông nghiệp" thuộc
phạm trù kinh tế, bình diện "nông dân" là phạm trù nhân vật xã hội chủ yếu ở nông thôn.
- Chuyển đổi: Nghiên cứu về cơ cấu xã hội thường gắn liền với khái niệm
đồng làng
trong
truyền
thống
Các tổ chức quan phƣơng truyền thống
Các tổ chức quan phƣơng hiện nay Cộng
đồng làng
hiện nay
Các tổ chức phi quan
phƣơng
Hội Đồng
Niên - 17 -
hội khác, trong đó tất yếu có cả các tổ chức quan phương. Khối 2 thể hiện mối quan
hệ giữa các loại hình tổ chức này là sự tác động qua lại hai chiều. Thông qua mối
quan hệ này mà các vai trò, khuôn mẫu và các cách ứng xử của các HĐN được bộc
lộ.
6. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Các nguồn tư liệu được sử dụng cho luận văn bao gồm:
1. Nguồn thứ nhất: tư liệu điền dã dân tộc học: các biên bản phỏng vấn sâu,
các ghi chép, ảnh… được ghi chụp tại địa bàn nghiên cứu. Các bảng biểu thống kê,
các báo cáo, tài liệu sưu tầm do UBND xã Văn Môn, thôn Quan Đình và một số cá
nhân cung cấp.
Chương này được chia thành 2 phần. Phần đầu nêu tổng quát về cơ cấu tổ
chức làng Việt cổ truyền và đương đại, trong đó đưa ra giả thuyết về nguồn gốc và
mối liên hệ của các HĐN trong lịch sử và sự phục hồi của tổ chức này ở thời điểm
hiện tại. Phần thứ hai giới thiệu cụ thể về làng Quan Đình và các HĐN ở làng Quan
Đình. Chương này có tính chất xác định bối cảnh cho các phân tích ở các chương
tiếp theo.
- Chƣơng 2: Hội đồng niên, các vai trò, khuôn mẫu và ứng xử (44 trang)
Chương này phân tích cụ thể về vai trò, khuôn mẫu và ứng xử của các HĐN
trên hai phương diện: các tương tác giữa các thành viên bên trong hội và HĐN trong
đời sống làng - xã.
- Chƣơng 3: Hội đồng niên và sự phản ánh một xã hội nông thôn đang
chuyển đổi (34 trang)
Nội dung của chương 3 là sự nhận diện những xu hướng biến đổi về văn hoá,
xã hội đang diễn ra tại các làng – xã được phản ánh qua các HĐN như việc phục hồi
và biến đổi văn hoá truyền thống, sự thay đổi của cấu trúc xã hội, mối quan hệ cá
nhân - cộng đồng và cộng đồng – nhà nước…
- Kết luận (4 trang)
Phần này tổng kết những kết quả nghiên cứu của luận văn, xem xét tính đúng
đắn của các giả thuyết đặt ra ban đầu, từ đó đưa ra một vài kiến nghị về việc phát
triển cộng đồng và quản lý xã hội tại các làng – xã hiện tại. - 19 -
CHƢƠNG 1
HỘI ĐỒNG NIÊN TRONG CƠ CẤU TỔ CHỨC LÀNG – XÃ
CHÂU THỔ BẮC BỘ VÀ Ở LÀNG QUAN ĐÌNH
giờ, mang tên thôn (lại một từ Hán). Như vậy, với làng và thôn, ta có hai thuật ngữ
gần như đồng nghĩa, nhưng mang sắc độ khác nhau: làng với hàm nghĩa tình cảm -
sử dụng trong ngôn ngữ thông thường còn thôn, biểu nghĩa nặng chất hành
chính.(Trần Từ, 1984, tr.135)
Xã là từ dùng để chỉ một cấp hành chính. Nếu một xã chỉ gồm một làng, hay
một làng là một xã mà người ta quen gọi là kết cấu “nhất xã nhất thôn”. Trong bi ký
và các văn bản hành chính, tên các làng đó thường được gắn với khái niệm “xã”. Ví
dụ làng Dương Liễu thuộc huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây cũ là
một xã thì các văn bản đều ghi là “Dương Liễu xã tục lệ”, “Dương Liễu xã địa bạ”.
Nếu một xã gồm nhiều làng thì trong bi ký, văn tế và các văn bản hành
chính, từ làng được thay bằng từ thôn là một từ Hán-Việt và đứng sau là từ xã.
Chẳng hạn, xã Vân Canh (thuộc huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội cũ)
gồm 3 làng: Kim Hoàng, Hữu Ái, An Trai thì các văn bản đều ghi: “Vân Canh xã,
Hữu ái thôn khoán lệ”.
Như vậy nếu hiểu theo nội dung trên đây thì trong cả hai trường hợp “nhất xã
nhất thôn” hay “nhất xã nhị tam thôn”…. làng đồng nhất với thôn hay nói một cách
khác từ thôn trong các văn bản Hán Nôm là một làng truyền thống được nhà nước
lắp ghép thành đơn vị hành chính cơ sở (xã) mà số làng được tích hợp tuỳ vùng, tuỳ
giai đoạn lịch sử.
Nghiên cứu về làng - xã, hầu hết các nhà nghiên cứu đều công nhận tính
phức tạp trong mối quan hệ giữa làng và xã trong lịch sử Việt Nam. Làng và xã đôi
khi tích hợp vào nhau, hoặc ít nhất cũng có quan hệ phụ thuộc, liên thông, liên kết
với nhau. Sự phân biệt giữa làng và xã đặt ra vấn đề nan giải về mặt lý thuyết và cả
về thực tiễn. Nó phản ánh mối quan hệ rắc rối giữa XHDS và nhà nước trong suốt