Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi 2006 1
Đánh giá vai trò, vị thế và năng lực của phụ nữ nông thôn
trong hoạt động kinh tế hộ tại huyện Đồng Hỷ- Thái Nguyên
Dự án phát triển Nông thôn bền vững (VS-RDE-01)
Phùng Thị Vân, Hoàng Thị Hơng Trà và Vũ Chí Cơng
Viện Chăn Nuôi
Abstract
120 households were selected randomly for the study including: 60 households belong to 2 hamlets in Hoa
Thuong village, the wives in the households are Kinh minority; 60 households belong to 2 hamlets in Khe
Mo village, the wives in the households are San Chay minorities. The specific objectives of the study are: to
assess the role of farming and non-farming activities in household economy in rural areas; to determine and
compare role and status of women in rural areas in socio-economic life, especially in livestock production,
and to assess the needs and constraints of women for increasing efficiency in livestock production,
enhancing up family income and poverty alleviation. Secondary data sources were used to crosscheck the
information gained through interviews. Questioning and interviewing people by using structured
questionnaire. Data analysis: description analysis (using means, and ranges) and analysis of qualitative data
will be used to calculation, discussion and for interpretation of results.
The findings: crop and livestock production accounted for 69.82-81.80% of total household income, of
which livestock enterprises accounted for 24.15-34.05%. Rural women take part around 76.00-78.40% of
agricultural household labor. The percentage of Kinh women group had the voice in decision-making process
on technical matters in crop and livestock production was higher than that of men. In contrast, the proportion
of Ethnic women group involved in decision-making on technical matters in crop and livestock production
was lower than that of men. Rural women play an important role in household economic activities and are
also responsible for daily homework. However, they have lowered the voice in decision-making in the family
and in society compared to men. Low productive livestock breeds, lack of knowledge and skills on livestock
Thái Nguyên là một tỉnh Trung du miền núi phía bắc Việt nam, 76,8% dân số sống ở Nông
thôn. Số lao động là 635.000 ngời, trong đó 59,27% là lao động nông nghiệp. Lao động
nữ chiếm 50,8% (GSO, 2002). Đồng Hỷ là huyện thuộc vùng núi và nrung du của tỉnh
Thái Nguyên, với 86% dân số sống ở nông thôn, trong đó 71,6% là sống bằng nghề nông
nghiệp (số liệu thống kê của huyện Đồng Hỷ, năm 2003).Vai trò và vị thế của phụ nữ
trong đời sống kinh tế- x hội, trong ngành nông nghiệp nói chung và đặc biệt trong chăn
nuôi nói riêng ở tỉnh Thái Nguyên cho đến nay cha có nghiên cứu điều tra chi tiết nào. Vì
vậy Đồng Hỷ đợc chọn làm một nghiên cứu điểm.
Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi 2006 3
Mục tiêu:
+ Đánh giá vai trò của các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp trong kinh tế hộ ở
vùng nông thôn.
+ Xác định và so sánh vai trò và vị thế của phụ nữ ở các vùng nông thôn trong đời sống
kinh tế- x hội, đặc biệt trong chăn nuôi.
+ Đánh giá những nhu cầu và những trở ngại đối với phụ nữ nông thôn trong phát triển
chăn nuôi để cải thiện sinh kế và xoá đói nghèo.
Tổng quan tài liệu
Hiện nay, Việt Nam đạt đợc kết quả rõ nét về giảm nghèo, nhng vẫn còn tỉ lệ 32% (Theo
tiêu chuẩn Quốc tế) hay 17% (theo tiêu chuẩn Quốc gia) số hộ sống ở mức nghèo đói vào
năm 2000 và 90,5% hộ nghèo là sống ở nông thôn (2,8 triệu hộ) (Chiến lợc tổng thể về
giảm nghèo và phát triển ở Việt Nam, 2002).
Tỉ lệ phụ nữ ở độ tuổi 15 59 sống ở nông thôn cao hơn khoảng 3 lần so với phụ nữ ở thành
phố. ở ngành nông nghiệp, lao động nữ chiếm 52% năm 1996, hơn 81,96% số nữ ở tuổi
15 lao động trong nghành nông nghiệp (Thực trạng việc làm ở Việt Nam, GSO, 1997).
- Xác định những vấn đề mà phụ nữ nông thôn đang phải đối mặt trong phát triển chăn
nuôi
Điểm nghiên cứu
Đề tài đợc tiến hành tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Hai x đợc chọn để tiến
hành nghiên cứu bao gồm: X Hoá Thợng là x thuộc vùng Trung du, nằm ở trung tâm
huyện và x Khe Mo là x vùng núi, nằm ở phía nam của huyện Đồng Hỷ
Chọn mẫu : 120 hộ đ đợc chọn ngẫu nhiên để điều tra bao gồm:
60 hộ thuộc 2 thôn (thôn Luông và thôn Tân Thái) ở x Hóa Thợng , ngời vợ trong gia
đình là ngời dân tộc Kinh
60 hộ thuộc 2 thôn (thôn La Na và thôn La Dy) ở x Khe Mo, ngời vợ trong gia đình là
ngời dân tộc Nùng và dân tộc Sán Chay
Thu thập và xử lý số liệu
Số liệu thứ cấp: Đợc sử dụng để kiểm tra chéo thông tin thu đợc từ phỏng vấn
Phỏng vấn đợc thực hiện theo bộ câu hỏi đ chuẩn bị sẵn
Phỏng vấn ngời chủ chốt: Một số ngời là chuyên gia hiểu biết sâu về kiến thức giới, bình
đẳng giới, vai trò phụ nữ trong gia đình, x hội đợc chọn là ngời chủ chốt để phỏng vấn
Phân tích số liệu: Thống kê mô tả (số trung bình, độ lệch) và phân tích định lợng đợc sử
dụng để tính, để bình luận và nhận định kết quả
Đặc điểm chung của các điểm nghiên cứu
X Hoá thợng: X nằm ở vùng Trung du phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, địa hình phân
chia thành khu vực đồi, núi thấp và dải đồng bằng. Tổng diện tích đất tự nhiên của x là
1354,3 ha trong đó 846,23 ha là đất nông nghiệp. Toàn x có 2249 hộ, đợc phân chia
thành 15 thôn, tổng số dân là 10172 ngời. Toàn x có 1436 hộ (63,85% số hộ )làm nông
nghiệp. Có 8 dân tộc cùng sinh sống trong x, bao gồm: dân tộc Kinh, Tày, Nùng, San Chí,
Trai Hoa, Sán Dìu và Cao Lan. Lơng thực bình quân/ đầu ngời là 230 kg năm 2003, tổng
Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi 2006 5
nam nữ nam nữ
Loaị hình lao động
% % % %
-Thuần túy làm nông nghiệp 70.0 87.5 41.2 58.1
-Phi nông nghiệp 7.8 4.54 10.6 8.1
-Nông nghiệp và phi nông
nghiệp
22.2 7.96 48.2 33.8
Chung 100 100 100 100 6
Phần Nghiên cứu về Dinh dỡng và Thức ăn Vật nuôiTỉ lệ lao động nữ thuần túy làm nông nghiệp ở cả 2 x điều tra đều cao hơn so với nam giới
(87,5% phụ nữ dân tộc Kinh so với 70,0% nam giới ở Hóa Thợng) và 58,1% phụ nữ dân
tộc Nùng và dân tộc sán Chay so với 41,2% nam giới ở X Khe Mo).
Tỉ lệ phụ nữ thuần túy tham gia lao động phi nông nghiệp tại cả 2 cơ sở đều thấp hơn so
với nam giới và xu hớng tơng tự đối với loại lao động làm nông nghiệp kết hợp với phi
nông nghiệp khi nhàn rỗi
.
Đất đai: Tổng diện tích đất bình quân/ hộ ở Hóa Thợng là 0,5 ha, trong đó đất nông
nghiệp là 0,27 ha, ở Khe Mo tổng diện tích đất/hộ bình quân là 1,36 ha, trong đó diện
tích đất nông nghiệp là 0,56 ha. X Khe Mo có tiềm năng về đất đai hơn so với x Hóa
Thợng.
Các hoạt động kinh tế hộ, vai trò, vị thế của phụ nữ trong hoạt động kinh tế hộ.
Hiện trạng về trồng trọt và chăn nuôi
ở Hoá thợng trồng trọt chủ yếu là trồng lúa (100% số hộ điều tra), trồng ngô và sắn. ở
dịch bệnh.
Thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ 2003 ( Biểu đồ 1)
Mức chi phí cho tiền ăn uống bình quân/ đầu ngời/ 1 ngày là 6.600 đồng và 5.500 đồng
tơng ứng cho x Hoá thợng và x Khe Mo vào thời điểm điều tra
.
Vai trò và vị thế của phụ nữ trong hoạt động kinh tế hộ
Bảng 3: Vai trò của phụ nữ trong trồng trọt (% số hộ)
TT Công việc Hoa thuong ( n= 60) Khe Mo ( n= 59)
Nam Nữ Nam và nữ
Nam Nữ Nam và nữ
1 Cày bừa 69.0 14.3 16.7 62.0 6.0 32.0
2 Gieo/ cấy 0
74.5
25.5 1.8
54.5
43.6
3 Chăm sóc, vun xới,
(42.4% ở phụ nữ so với 18.6% ở nam giới), trong khi đó ở Khe Mo tỉ lệ phụ nữ có quyền
quyết định lại thấp hơn so với nam giới 28,6% so với 44.6% ở nam giới)
Bảng 4 : Vai trò của phụ nữ trong chăn nuôi (% số hộ)
Hoa Thợng Khe Mo TT
Công việc
Nam Nữ Nam và nữ
Nam Nữ Nam và nữ
1 Kiếm thức ăn 0 88.5 11.5 5.5 72.2 22.2
2 Chế biến TA 0 85.5 14.5 3.7 79.7 16.7
3 Cho ăn 3.7 75.9 20.4 7.4 70.4 22.2
4 Chăm sóc, vệ sinh
chuồng trại
15.4 76.9 7.7 4.3 78.3 17.4
5 Phối giống 42.3 57.7 0 50.0 50.0 0
6 Chăn thả 24.0 20.0 56 21.3 31.9 46.8
Từ 75,9 88,5 % số các công việc liên quan đến chăn nuôi ở Hóa Thuong là do phụ nữ
đảm nhiệm. Tỉ lệ nam giới ở các hộ tham gia vào các hoạt động chăn nuôi chỉ chiếm từ
15,4 42,3% và các công việc họ tham gia nh phối giống, cắt cỏ, trông nom gia súc
ở Khe Mo tỉ lệ phụ nữ tham gia vào các công việc liên quan tới chăn nuôi rất cao (70,4
79,7%) trong số hộ điều tra. Tỉ lệ nam giới tham gia các công việc nh phối giống và cắt
cỏ chiếm từ 21,3 50,0% trong số hộ điều tra
Những số liệu ở bảng 4 nói lên rằng công việc chăn nuôi ở hầu hết trong gia đình tại 2 x
điều tra chủ yếu là do phụ nữ đảm nhiệm, phụ nữ ở Hóa Thợng đóng góp khoảng 78,4%
và phụ nữ Khe Mo đóng góp khoảng 76% trong chăn nuôi nông hộ
* Quyền quyết định của phụ nữ với các các hoạt động kỹ thuật trong chăn nuôi nông hộ
(mua bán tài sản nh trâu, bò, xe máy, đài, vô tuyến/ chuyển nhợng đất)
Quyền quyết định về những công việc khác trong gia đình
Với những công việc khác trong gia đình nh: Việc học hành của con cái, định hớng
nghề nghiệp cho con, dựng vợ gả chồng cho con cái, tham gia hoạt động x hội, quyết
định cùng vợ chồng trong gia đình (46,8 80,0%)
Vị thế của ngời phụ nữ ngoài x hội
Kết quả điều tra cho thấy phụ nữ dân tộc Kinh cũng nh phụ nữ dân tộc thiểu số chiếm tỉ
lệ thấp trong cơng vị lnh đạo chính trị cũng nh cấp lnh đạo chính quyền.
ở x Hóa Thợng chỉ có 17,3% phụ nữ trong cấp ủy thôn so với 82,7% ở nam giới. 23%
phụ nữ tham gia trong cấp Đảng ủy x so với 77% ở nam giới, chỉ có 18,75% phụ nữ tham
gia Hội đồng nhân dân x so với 81,25% ở nam giới.
ở Khe Mo có 27,27% nữ trong cấp ủy x so với 72,73% nam giới, 17,85% nữ giới trong
Hội đồng nhân dân x so với 82,15% ở nam giới
Những trở ngại mà phụ nữ nông thôn đang phải đối mặt trong phát triển chăn nuôi
. Cơ cấu giống vật nuôi
Các giống lợn, trâu, bò và gia cầm chủ yếu là giống nội, năng suất thấp (91,7- 92,7% số
lợn nái , 97,7-100% số trâu bò , 83,0-96,6% số gia cầm điều tra là giống nội, trong đó tỉ lệ
giống vật nuôi là giống nội ở Khe Mo luôn cao hơn so với ở Hoá Thợng 10
Phần Nghiên cứu về Dinh dỡng và Thức ăn Vật nuôi. Chuồng trại, phòng bệnh cho gia súc, gia cầm
ở Hóa Thợng có từ 60,0%-70.2% số hộ xây dựng chuồng nuôi lợn, trâu/ bò dạng bán
kiên cố, ngợc lại ở Khe Mo tỉ lệ số hộ có chuồng đang tạm bợ chiếm tỉ lệ cao từ 43,6%
đến 84,7%.
Có 68,4- 77.1% số hộ chăn nuôi ở Hóa Thợng đ sử dụng thuốc tiêm phòng cho gia súc,
Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi 2006 11
Tham gia các cuộc họp của tổ chức hội nông dân
Tỉ lệ nam giới tham gia các cuộc họp của tổ chức hội nông dân cao hơn so với phụ nữ ở cả
2 x điều tra: 56% nam và 36% nữ ở Hóa Thợng ; 88.9% nam và 7.4% nữ ở Khe Mo.
Lý do chính nam giới tham dự nhiều hơn các cuộc họp của hội nông dân là do họ là chủ
gia đình
Tham gia sinh hoạt hội phụ nữ
Có 98,3% số phụ nữ trong các hộ điều tra ở Hóa Thơng (nhóm nữ dân tộc Kinh) là tham
gia hội phụ nữ, trong khi đó chỉ có 60,1% số phụ nữ dân tộc trong số hộ điều tra tại Khe
Mo là tham gia hội phụ nữ. Một số phụ nữ đợc phỏng vấn cho rằng lý do họ không tham
gia sinh hoạt hội phụ nữ thôn vì không đem lại lợi ích mấy cho họ, một số ngời khác
nói rằng họ không có tiền để đóng khoản lệ phí sinh hoạt hội tuy rằng số tiền đóng rất ít.
Có 94,9-97,4% số phụ nữ tham gia hội phụ nữ họ cho rằng sinh hoạt hội phụ nữ có đem lại
lợi ích thực sự cho họ ( đợc chia sẻ kinh nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi, đợc biết nhiều
thông tin về chăm sóc sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình, nuôi dạy con cái, đợc vay vốn để
sản xuất, chăn nuôi )
Tham dự các khoá tập huấn
Trong 3 năm (2002 2004) chỉ có 36,67% số hộ ở Hóa Thợng và 22,03% số hộ điều tra
ở Khe Mo đợc mời tham dự tập huấn. ở Hóa Thợng phụ nữ là ngời chính đi dự tập
huấn, còn ở Khe Mo nam giới đi dự tập huấn là chính ( 76,9% tập huấn về trồng trọt, 60%
nam dự tập huấn về chăn nuôi và 100% nam dự tập huấn về trồng rừng
Bảng 5: Tham dự các khóa tập huấn 3 năm gần đây (2002-2004)
Hóa Thợng ( n=60) Khe Mo ( n= 59)
n % n %
1 Tập huấn
- Chăn nuôi 60 100 59 100.0
- Trồng trọt 52 86.7 54 91.5
2 Vay vốn với li suất u đi 45 75.0 51 86.4
3 Tham quan học tập mô hình trình diễn về chăn
nuôi/ trồng trọt
48 80.0 47 79.6
4 Hỗ trợ về tiêm phòng bệnh cho gia súc, gia cầm 60 100.0
59 100.0
5 Thị trờng 39 65.0 39 52.5
6 Tổ chức các buổi học thuật về giới có cả nam
giới cùng tham dự
43 71.6 45 76.2
Số liệu ở bảng 6 nói lên rằng các hộ ở cả 2 x điều tra có nhu cầu rất lớn về tập huấn , đặc
biệt tập huấn về chăn nuôi, hỗ trợ tiêm phòng bệnh cho gia súc gia cầm, đợc vay vốn với
li suất u đi, đợc đi tham quan và học tập ở các mô hình trình diễn về chăn nuôi và
trồng trọt.
Kết luận
. Trồng trọt và chăn nuôi ở x Hóa Thợng chiếm 81,8% và ở x Khe Mo chiếm 69,82%
trên tổng thu nhập của hộ, trong đó thu nhập từ chăn nuôi chiếm 24,15% ở Khe Mo và
34,05% ở Hóa Thợng
. Hai nhóm Phụ nữ nông thôn gồm dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số đều đóng vai trò
quan trọng trong lao động nông nghiệp của hộ: khoảng 56,5-64,9% trong trồng trọt và
76,0-78,4% trong chăn nuôi. Nhóm phụ nữ ngời Kinh có quyền quyết định nhiều hơn về
các vấn đề kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi so với nam giới, còn nhóm phụ nữ ngời dân
Lê Thi, Tác động của chính sách kinh tế mới đối với phụ nữ nông thôn Việt nam tại Hội thảo Về vấn đề
giới trong hoạt động khuyến nông - khuyến lâm, Hà nội 8-9 tháng 9/1999
Nguyễn Thiện Luân, Vai trò của phụ nữ trong sản xuất và lu thông lơng thực, Trình bày tại hội thảo
ngày15/10/1998 tại Hà nội
Niên giám thống kê, 2000, Nhà xuất bản thống kê
Niên giám thống kê, 2002, Nhà xuất bản thống kê
Niên giám thống kê, 2005, Nhà xuất bản thống kê
Thực trạng việc làm ở Việt nam 1996, Nhà xuất bản thống kê, 1997
Thống kê năm 2003, Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ
Tổng điều tra về tình hình kinh tế hộ gia đình, Tổng cục thống kê, 1994