BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
o0o
CÔNG TRÌNH DỰ THI CUỘC THI
“Sinh viên nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học Ngoại thƣơng 2009”
Tên công trình
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT ĐỂ NÂNG CAO NĂNG
LỰC ỨNG DỤNG MARKETING ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP DU LỊCH VIỆT NAM
Nhóm ngành: XH1b
1.3. Đặc điểm của marketing điện tử …………………………………………
6
1.3.1. Một số đặc điểm của marketing điện tử ……………………………
7
1.3.2. Một số lợi ích và hạn chế của marketing điện tử …………………….
7
2. Mục tiêu và chức năng của marketing điện tử ………………………………
9
2.1. Mục tiêu của marketing điện tử …………………………………………
9
2.1.1. Mục tiêu của marketing truyền thống………………………………
9
2.1.2. Mục tiêu của marketing điện tử ………………………………………
10
2.2. Chức năng của marketing điện tử …………………………………………
11
2.2.1. Chức năng của marketing truyền thống………………………………
11
2.2.2. Chức năng của marketing điện tử …………………………………….
12
3. Vai trò của marketing điện tử đối với hoạt động của DN du lịch…………
13
3.1. Vai trò của marketing điện tử đối với ngành du lịch………………………
13
3.2. Ví dụ về công ty du lịch trên Thế giới ứng dụng thành công marketing
điện tử ……………………………………………………………………………
15
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ NĂNG LỰC ỨNG
DỤNG MARKETING ĐIỆN TỬ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH
VIỆT NAM ………………………………………………………………………
27
2.3. Công cụ ưu việt,vượt trội…………………………………………………
27
3. Thực trạng và đánh giá năng lực ứng dụng marketing điện tử của các
doanh nghiệp du lịch Việt Nam………………………………………………….
29
3.1. Thực trạng và đánh giá chung…………………………………………….
29
3.1.1 Những thành tựu đạt được……………………………………………
29
3.1.2. Những hạn chế và thách thức tồn tại………………………………….
34
3.2. Đánh giá hiệu quả ứng dụng marketing điện tử ………………………….
39
3.2.1. Website: http://halongtravel.com/
40
3.2.2. Sử dụng và tối ưu hóa công cụ tìm kiếm ……………………………
46
3.2.3. Quảng cáo trên các trang web khác…………………………………
47
3.2.4. Email-Marketing……………………………………………………
48
4. Nguyên nhân……………………………………………………………………
48
4.1. Nguyên nhân thành công………………………………………………….
48
4.2. Nguyên nhân của những khó khăn hạn chế……………………………….
50
4.2.1. Các nguyên nhân thuộc môi trường nội tại của các doanh nghiệp du
lịch Việt Nam………………………………………………………………………
2.1. Giải pháp…………………………………………………………………
58
2.1.1. Nhóm giải pháp về phía nhà nước …………………………………….
58
2.1.2. Nhóm giải pháp về phía Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch, Tổng cục du
lịch và Hiệp hội du lịch Việt Nam………………………………………………….
59
2.1.3. Nhóm giải pháp về phía các doanh nghiệp du lịch Việt Nam…………
61
2.2. Đề xuất của nhóm tác giả………………………………………………….
66
2.2.1. Giai đoạn 1 - Giai đoạn chuẩn bị………………………………………
66
2.2.2. Giai đoạn 2 - Giai đoạn phát triển……………………………………
68
2.2.3. Giai đoạn 3 - Giai đoạn duy trì………………………………………
73
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………….
79
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
http://svnckh.com.vn
5
điện tử nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã giành được những thành công trong quá
trình marketing nói riêng và kinh doanh nói chung của mình.
Để có thể hiểu rõ và chính xác về “Marketing điện tử”, chúng tôi xin đưa ra
những khái niệm bao gồm khái niệm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng của
“Marketing điện tử”. Những khái niệm dưới đây được nhóm tác giả đánh giá là chính
xác, dễ hiểu và rõ ràng hơn cả.
1.1.1. Khái niệm theo nghĩa hẹp
Theo cuốn sách “E-Marketing” của Judy Straus, Adel El-Ansary và Raymond
Frost, marketing điện tử là kết quả của công nghệ thông tin trong hai cách thức sau.
Thứ nhất, nó làm tăng khả năng và hiệu quả các chức năng trong marketing truyền
thống. Thứ hai, công nghệ của marketing điện tử chuyển đổi thành nhiều chiến lược
marketing khác. Sự biến đổi đó dẫn đến những hình thức kinh doanh mới làm tăng
thêm giá trị khách hàng và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Theo định nghĩa của Phillip Kotler: “Marketing điện tử là quá trình lập kế
hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để
đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân - dựa trên các phương tiện điện tử và Internet”
1.1.2. Khái niệm theo nghĩa rộng
Theo cuốn sách “E-Marketing” của Judy Straus, Adel El-Ansary và Raymond
Frost, marketing điện tử là sự sử dụng công nghệ thông tin trong những quá trình thiết
lập, kết nối và chuyển giao giá trị đến khách hàng, để tiến hành các hoạt động
http://svnckh.com.vn
7
marketing nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức và duy trì quan hệ khách hàng
thông qua nâng cao hiểu biết của khách hàng, các hoạt động xúc tiến hướng mục tiêu
và các dịch vụ qua mạng hướng tới thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Nhóm tác giả cho rằng khái niệm marketing điện tử theo nghĩa rộng ở trên là
khá đầy đủ và chính xác. Do đó trong bài nghiên cứu này, chúng tôi xin sử dụng khái
tín của doanh nghiệp trên mạng Internet, và đây cũng là cách tốt nhất và đơn giản nhất
để hình thành và thể hiện được bản sắc riêng của doanh nghiệp.
1.2.2. Marketing bằng cỗ máy tìm kiếm (SEM - Search Engines
Marketing)
“Cỗ máy tìm kiếm” là cụm từ dùng chỉ toàn bộ hệ thống bao gồm bộ thu thập
thông tin, bộ lập chỉ mục và bộ tìm kiếm thông tin. Các bộ này hoạt động liên tục từ
lúc khởi động hệ thống, chúng phụ thuộc lẫn nhau về mặt dữ liệu nhưng độc lập với
nhau về mặt hoạt động. Cỗ máy tìm kiếm tương tác với người dùng thông qua giao
diện trang web, có nhiệm vụ tiếp nhận và trả về những tài liệu thoả mãn yêu cầu của
người dùng. Các công cụ tìm kiếm khác nhau có những trình tự khác nhau để sắp xếp
các trang web theo mức độ tương thích với từ khoá mà bạn tìm kiếm. Công cụ tìm
kiếm được coi là sự lựa chọn đầu tiên để truy nhập tin tức hay thông tin về một sản
phẩm và dịch vụ nào đó không chỉ đối với những người mới truy cập vào mạng
Internet mà ngay cả những nhà marketing chuyên nghiệp. Đây là một công cụ
marketing trực tuyến thông qua sức mạnh tìm kiếm, bằng cách xếp hạng lượng truy
nhập của trang web thông qua khả năng dò tìm.
1.2.3. Quảng cáo trên các trang web
Đây là hình thức mua các vị trí trên trang web khác bên ngoài công ty để đặt các
mẫu quảng cáo như banner, logo, dòng chữ hoặc hình ảnh Hình thức marketing trực
tuyến này phát triển lên từ phương pháp quảng cáo truyền thống là đặt các mẫu quảng
cáo trên các báo và tạp chí. Doanh nghiệp cần phải thiết kế trước những banner, logo
hay dòng chữ, hình ảnh mà mình dùng để quảng cáo. Sau đó, doanh nghiệp cần phải
thỏa thuận về vị trí quảng cáo trên trang web, thời hạn và giá cả…với đại diện của
công ty thiết kế website. Phương thức quảng cáo này khá đơn giản và không đòi hỏi
doanh nghiệp tốn nhiều thời gian và công sức.
1.2.4. Email Marketing
Đây là phương thức cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ và thu thập phản
hồi về sản phẩm, dịch vụ từ khách hàng thông qua email. Địa chỉ email của khách
hàng tiềm năng và hiện tại có thể được thu thập, cập nhật thường xuyên hoặc có thể
mua. Ngoài ra doanh nghiệp có thể thường xuyên gửi các thư giới thiệu (newsletters)
mở rộng ra thành “không gian thị trường” (market place) thể hiện ở phạm vi: thị
trường được mở rộng hơn trong thương mại điện tử. Thị trường ở đây vẫn được hiểu là
“tập hợp những người mua hiện tại và tiềm năng”. Tuy nhiên, người mua hiện tại và
tiềm năng được mở rộng hơn rất nhiều nhờ có Internet và các phương tiện công nghệ
http://svnckh.com.vn
10
thông tin, điện tử. Điều này xuất phát từ chính bản chất toàn cầu của Internet, cho phép
thông tin về sản phẩm, dịch vụ có thể đến với mọi cá nhân, tổ chức trên khắp thế giới
và giao dịch cũng có thể được thực hiện thông qua Internet, khiến phạm vi khách hàng
hiện tại và tiềm năng được mở rộng hơn.
1.3.2. Một số ích lợi và hạn chế của marketing điện tử
Ích lợi
Sự xuất hiện của marketing điện tử đã đem lại nhiều lợi ích như truyền tải thông
tin đến số lượng lớn đối tượng tiếp nhận với chi phí thấp hơn hẳn so với hình thức
marketing truyền thống. Thông điệp được truyền tải dưới nhiều hình thức phong phú
và đa dạng như văn bản, hình ảnh và âm thanh, phim ảnh và trò chơi…
Marketing điện tử có tính chất tương tác cao nhờ chức năng truy cập và kết nối
nhanh chóng thông qua Internet, do đó đối tượng nhận thông điệp có thể phản hồi tức
khắc hay giao tiếp trực tiếp với đối tượng gửi thông điệp. Hơn nữa, người tiêu dùng và
khách hàng có thể truy cập thông tin sản phẩm và thực hiện giao dịch, mua bán tại mọi
lúc và mọi nơi. Đây chính là lợi thế lớn và đặc thù của marketing điện tử so với các
loại hình marketing khác.
Marketing điện tử phát triển dựa trên quá trình mở rộng và quảng bá doanh
nghiệp nhờ việc sử dụng các phương tiện trực tuyến và một trong những lợi thế lớn
của hình thức này đó là sự có sẵn của lượng rất lớn thông tin. Marketing điện tử giúp
doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận và mở rộng thị trường dễ dàng và nhanh chóng
hơn.
Ngoài ra, marketing điện tử còn kết hợp tính sáng tạo và kỹ thuật cao của công
nghiệp.
2. Mục tiêu và chức năng của marketing điện tử
2.1. Mục tiêu của Marketing điện tử
2.1.1. Mục tiêu của marketing truyền thống
Nếu xét tới hoạt động marketing ở phương diện khái quát nhất, nó được sử
dụng để đạt tới 3 mục tiêu cơ bản như sau:
Lợi nhuận
Nhìn chung, mọi doanh nghiệp hoạt động trên thị trường, dù có những mục tiêu
trung gian nào thì mục tiêu cuối cùng mà họ hướng tới cũng là lợi nhuận kinh doanh.
Lợi nhuận là chỉ tiêu, là thước đo mức độ hoạt động hiệu quả của một doanh nghiệp.
Marketing, bằng con đường thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, thông qua hoạt
động tìm hiểu, phát hiện, phân tích chính những nhu cầu đó, qua đó giúp doanh nghiệp
đạt được mục đích của mình, hay nói cách khác, thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp.
http://svnckh.com.vn
12
Marketing chia vòng đời sản phẩm thành 4 giai đoạn: thâm nhập, tăng trưởng,
chín muồi và suy thoái. Với mỗi giai đoạn như vậy, hoạt động marketing giúp doanh
nghiệp định giá sản phẩm ở mức tối ưu, hợp lý nhất với khả năng thanh toán của người
tiêu dùng, phù hợp với tình hình thị trường lúc đó để tạo ra được doanh số tối đa và từ
đó, có thể có đạt tới lợi nhuận tối đa trong điều kiện có thể.
Thị phần
Thị trường là một yếu tố không thể thiếu đối với hoạt động kinh doanh, đồng thời
đó cũng là một trong những đối tượng quan trọng nhất trong hoạt động marketing.
Doanh nghiệp nào càng thành công trong việc chiếm lĩnh thị trường sẽ càng có nhiều
cơ hội để nâng cao doanh số hơn. Và chỉ tiêu thị phần cũng còn phản ánh lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp. Có một điều hiển nhiên là không một doanh nghiệp nào hoạt
động trên thương trường mà không cần ý thức tới các đối thủ cạnh tranh của mình, do
cũng tương tự như marketing truyền thống, nhưng với công cụ số hóa, sự trợ giúp của
công nghệ thông tin, marketing điện tử luôn thể hiện được những ưu việt vượt trội của
mình. Điều này sẽ được nhóm tác giả trình bày cụ thể ở những phần sau của đề tài.
2.2. Chức năng của marketing điện tử
2.2.1. Chức năng của marketing truyền thống
Marketing nói chung mang những chức năng như sau:
- Nghiên cứu tổng hợp về thị trường để phát hiện ra cả những nhu cầu hiện tại lẫn
những nhu cầu tiềm năng của thị trường, cùng với triển vọng phát triển của thị
trường.
- Hoạch định chính sách kinh doanh của doanh nghiệp như: Chính sách sản
phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh
doanh…
- Tổ chức thực hiện những chính sách nói trên, bao gồm các hoạt động:
Nghiên cứu nhằm tạo ra những mẫu sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của người tiêu dùng.
Tổ chức và hoàn thiện hệ thống phân phối các sản phẩm.
- Điều tiết và thực hiện các hoạt động sản xuất, đóng gói, vận chuyển, bán hàng,
quảng cáo, dịch vụ…theo một chu trình thống nhất.
- Thực hiện việc kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh theo kế hoạch.
2.2.2. Chức năng của marketing điện tử
Nếu như các hình thức marketing truyền thống tập trung vào các chức năng
nghiên cứu, phát triển thị trường, hoạch định và triển khai chính sách bằng những công
cụ và phương pháp thông thường, thì marketing điện tử cũng thực hiện những chức
http://svnckh.com.vn
14
năng đó, nhưng được nhấn mạnh ở những công cụ thông minh vượt trội, đó là những
phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Ví dụ như máy tính, laptop, điện thoại thông
minh, mạng internet, mạng di động…Marketing điện tử với sự trợ giúp của công nghệ
triển với tốc độ chóng mặt) nhưng marketing trực tuyến, hay marketing điện tử đã thể
hiện khả năng vượt trội của mình trong sự phát triển của mọi ngành nghề, đặc biệt là
lĩnh vực du lịch. Du lịch, có thể nói là một ngành dịch vụ đặc biệt, vì sản phẩm mà nó
cung cấp không phải là hữu hình, mà là những sản phẩm mang tính chất vô hình. Đó
có thể là một tour du lịch, những bữa ăn ngon tại khách sạn nổi tiếng, những bãi biển
đẹp, công viên giải trí…Do vậy, với tính chất trực tuyến, qua mạng, marketing điện tử
là một phương tiện quảng bá hữu ích cho doanh nghiệp và là một kênh thông tin vô
cùng tiện lợi cho người tiêu dùng. Có thể khái quát những vai trò quan trọng của
marketing điện tử đối với ngành du lịch thông qua hai đối tượng trên như sau:
Đối với doanh nghiệp du lịch
Marketing điện tử giúp cho doanh nghiệp du lịch truyền tải được thông tin tới
tận tay người tiêu dùng với tốc độ cao, thậm chí là ngay tức thì, cập nhật và trọn gói.
Người dân Việt Nam có tập quán chọn địa điểm và dịch vụ du lịch qua tiếp thị truyền
miệng, họ có thể tìm hiểu qua người thân, bạn bè, đồng nghiệp rồi tự mình tìm kiếm
thông tin trên mạng, chọn lựa những điểm đến phù hợp nhất với sở thích, khả năng tài
chính, sức khỏe…của mình. Thông tin này có thể đến với khách hàng ngay lập tức sau
khi công ty du lịch đưa lên trang web của mình.
Các tour du lịch, các chương trình khuyến mãi, giảm giá, tặng kèm, ưu đãi…có
thể được thể hiện qua nhiều hình thức như email, diễn đàn, banner…trên các trang
http://svnckh.com.vn
16
web có lượng truy cập cao. Công nghệ thông tin có thể giúp doanh nghiệp dễ dàng
quản lý và phân loại hệ thống khách hàng của họ với sự trợ giúp của những phần mềm
hiện đại. Các doanh nghiệp sử dụng những liên kết hiệu quả trang web của mình với
các trang web tìm kiếm, tra cứu nổi tiếng như Google, Yahoo, MSN…, quảng bá hình
ảnh du lịch Việt Nam qua các clip tự động hiện ra trên những trang web nổi tiếng.
Đối với khách hàng
Marketing điện tử là một hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại,
hiệu quả và sáng tạo, nhằm quảng bá cho ngành du lịch của nước mình.
Dưới đây là một bài học kinh nghiệm của ngành du lịch Australia, chiến lược
này còn được đánh giá là chiến lược quảng bá thông minh nhất thế giới. Chiến lược
mang tên “Công việc tốt nhất thế giới” do CumminsNitro, một công ty quảng cáo ở
Melbourne, Australia, thực hiện. Chiến dịch này đã giành được vị trí cao nhất trong
giải One Show lần thứ 34 ở New York - một trong những giải thưởng danh giá nhất
của ngành công nghiệp quảng cáo toàn cầu.
Sự đột phá trong chiến dịch này là đã khai thác triệt để Internet và các phương
tiện truyền thông, nhằm thu hút hơn 34.000 bài viết cho công việc chăm sóc dải san hô
ngầm khổng lồ ở quần đảo Hamilton và người viết đoạt giải sẽ được hưởng lương
110.000 USD. Chi phí cho chiến dịch này chỉ khoảng trên 1 triệu USD, tuy nhiên hiệu
quả quảng cáo toàn cầu của nó lại được ước tính lên tới 150 triệu USD. Chương trình
đã thu hút được 7 triệu lượt người quan tâm và tham gia, với 34.000 video dài 1 phút
từ 200 quốc gia, 200.000 blog và khoảng 43.000 bài viết về giải pháp nhằm chăm sóc
cho những dải san hô ngầm đó.
Quả thật, cuộc thi này đã thu hút được sự quan tâm không chỉ của người dân
nước Úc và hiệu quả quảng bá du lịch của nó cũng chưa từng thấy. Có thể thấy rằng,
những tác động tích cực của truyền thông, của các phương tiện điện tử trong quảng bá
du lịch, nhất trong bối cảnh phát triển không ngừng của những trang blog, hay các
mạng xã hội như ngày nay là không thể phủ nhận được. Và còn gì thú vị hơn, khi
không phải chính quyền địa phương tự PR cho hình ảnh của mình mà chính các
blogger viết bài quảng bá du lịch cho địa phương đó thông qua trang blog cá nhân của
họ, chúng sẽ mang tính khách quan hơn rất nhiều, đặc biệt là từ những blogger nổi
tiếng, hiệu quả quảng bá sẽ càng cao.
Tuy nhiên thực tế cho thấy, vai trò của các phương tiện điện tử trong quảng bá
du lịch vẫn chưa được đánh giá và quan tâm xứng đáng. Thành công vang dội của
chiến dịch mang tên "Công việc tốt nhất thế giới" của Queensland, Australia có lẽ là
bài học đáng giá cho nhiều quốc gia có thể thay đổi tư duy sáng tạo, từ đó tìm ra con
đường marketing hiệu quả cho ngành du lịch đất nước mình.
trò là một nguồn thu ngoại tệ lớn. Đẩy mạnh hoạt động du lịch đã và đang đem lại
những hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế. Theo số liệu của Tổng cục du lịch Việt
Nam, lượng khách du lịch đến Việt Nam ngày càng tăng. Năm 1995, tổng số lượt
khách quốc tế đến Việt Nam là 610.600 lượt khách. Con số này đã tăng gấp đôi sau 6
năm; tổng số lượt khách quốc tế đến Việt Nam năm 2001 là 1.221.200 lượt khách. Ta
thấy rằng, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam không ngừng tăng qua các năm.
Bảng 1: Bảng số liệu về lƣợt khách quốc tế đến Việt Nam
từ năm 2003 đến năm 2008
2003
2004
2005
2006
2007
2008
http://svnckh.com.vn
20
Số lƣợt khách
quốc tế đến
Việt Nam
1238500
2927876
3467757
3583468
4171564
4235740
So sánh với
năm trƣớc
http://svnckh.com.vn
21
trong tổng thu nhập quốc dân, khôi phục được nhiều nghề truyền thống, và đưa hình
ảnh Việt Nam đến gần hơn với thế giới.
1.2. Cơ cấu dịch vụ ngành du lịch
Với những vai trò quan trọng đã được đề cập ở trên, ngành du lịch cũng phải
xây dựng cho mình những dịch vụ nhằm phục vụ tốt nhất cho khách du lịch trong và
ngoài nước. Các dịch vụ chăm lo cho du khách từ lúc bắt đầu cho tới ngày kết thúc
chuyến đi chính là những dịch vụ thuộc cơ cấu của ngành du lịch. Cơ cấu dịch vụ
ngành du lịch bao gồm rất nhiều những phân ngành khác nhau và cũng có rất nhiều
cách thức phân chia cơ cấu dịch vụ của ngành du lịch. Tuy nhiên, nhóm tác giả đưa ra
cách phân chia mà theo chúng tôi là khá chính xác và rõ ràng nhất, đó là 4 nhóm dịch
vụ tiêu biểu: các phương tiện vận chuyển, hệ thống nhà hàng khách sạn, các ngành
nghề truyền thống phục vụ cho ngành du lịch, và các công ty kinh doanh dịch vụ du
lịch.
1.2.1. Nhóm các phƣơng tiện vận chuyển
Trước hết, có thể khẳng định rằng các phương tiện vận chuyển là một trong
những dịch vụ hỗ trợ tích cực nhất cho ngành du lịch. Đó là phương tiện giao thông
đường không như máy bay; các phương tiện giao thông đường bộ như tàu hỏa, ôtô, xe
khách, xe buýt, xích lô; các phương tiện giao thông đường thủy như tàu biển, ca nô,
Các phương tiện vận chuyển đóng vai trò rất quan trọng bởi vì đó chính là cầu nối giữa
các vùng lãnh thổ trên thế giới, giữa các thành phố trong một quốc gia…Chất lượng
của các phương tiện vận chuyển và sự phát triển của ngành du lịch có mối quan hệ với
nhau. Các phương tiện vận chuyển nếu có thể phục vụ được nhu cầu đi lại của khách
du lịch, tạo cho khách du lịch cảm giác an toàn, thoải mái thì sẽ kích thích được sự
phát triển của ngành du lịch; nếu không đáp ứng được nhu cầu trên thì sẽ cản trở sự
phát triển của ngành du lịch.
Trong thời gian vừa qua, ngành du lịch Việt Nam cũng đã ra sức phát triển chất
Hoà), Vinpearl Resort & Spa Nha Trang (Khánh Hoà), Furama (Đà Nẵng)…
Sự phát triển của các hệ thống nhà hàng, khách sạn cũng có mối quan hệ với sự
phát triển của ngành du lịch. Hệ thống nhà hàng khách sạn chất lượng cao, phục vụ tốt
sẽ kích thích du lịch phát triển, hệ thống nhà hàng kém chất lượng sẽ kìm hãm sự phát
triển của ngành du lịch. Đặc biệt, để nâng cao chất lượng của hệ thống khách sạn ở
Việt Nam, trong những năm gần đây, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã đưa ra giải
thưởng “10 khách sạn hàng đầu Việt Nam”. Giải thưởng này được Tổng cục Du lịch
khởi xướng từ năm 1999 trong một chương trình quảng bá du lịch Việt Nam, khuyến
khích các khách sạn nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Giải thưởng được tổ
chức thường niên và được trao cho 10 khách sạn tốt nhất Việt Nam. Để nhận được giải
thưởng có uy tín này, bên cạnh các tiêu chuẩn cơ bản về cơ sở hạ tầng và dịch vụ, các
khách sạn đoạt giải còn phải đạt được một số tiêu chuẩn khác như đảm bảo an ninh trật
http://svnckh.com.vn
23
tự trong khách sạn, bảo đảm tuyệt đối an toàn về tài sản và tính mạng cho khách đến
lưu trú và vui chơi giải trí, an toàn vệ sinh thực phẩm, Đạt được giải thưởng cao quý
do chính Tổng cục Du lịch trao tặng cũng là một trong những phương thức quảng bá
hiệu quả và khẳng định thương hiệu của khách sạn.
1.2.3. Nhóm các ngành nghề truyền thống phục vụ cho ngành du lịch
Các ngành nghề truyền thống cũng là một trong những ngành bổ trợ cho ngành
du lịch. Khách du lịch đến nước ta ngoài mục đích tham quan những cảnh đẹp còn
muốn tìm hiểu về những nét văn hóa, những nghề truyền thống nổi tiếng của đất nước
Việt Nam như tranh Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc,và các mặt hàng thổ
cẩm, thủ công mỹ nghệ khác Những mặt hàng truyền thống này đều là sản phẩm của
một nền văn hóa mang bản sắc riêng, được đúc kết và lưu truyền từ bao đời nay. Mỗi
mặt hàng, mỗi sản phẩm đều gắn với một làng nghề truyền thống, hay nói cách khác,
mỗi làng nghề đều nổi tiếng và được biết đến với một sản phẩm đặc trưng nào đó.
Khách du lịch đến Việt Nam thường rất tò mò tìm hiểu và yêu thích những mặt hàng
kiếm khách hàng tiềm năng cho mình. Thông thường, các công ty du lịch Việt Nam
thường tìm kiếm khách hàng thông qua 2 cách sau đây. Cách thứ nhất được dành cho
những khách hàng đến Việt Nam trước rồi mới tìm các tour du lịch phù hợp với mình.
Cách thứ hai là cách dành cho những khách hàng đã bỏ sức ra tìm kiếm thông tin qua
mạng trước, đặt tour và dịch vụ trước khi đến Việt Nam. Với những khách hàng thuộc
nhóm người đến Việt Nam rồi mới tìm tour du lịch, các văn phòng của các công ty du
lịch đặt trên các tuyến phố trọng điểm về du lịch như Hàng Bè, Hàng Trống, Mã
Mây…sẽ là cách làm hiệu quả nhất của các công ty du lịch. Một văn phòng được bố trí
gọn gàng, sạch sẽ với nhiều tờ rơi quảng cáo, poster bắt mắt; đội ngũ tư vấn viên nhiệt
tình, hết lòng tư vấn, giúp đỡ khách; catalogue đẹp mắt với những thông tin chi tiết, cụ
thể; giá cả cạnh tranh chính là cách mà rất nhiều các công ty du lịch hiện nay đang
thực hiện. Đối với nhóm khách hàng thứ hai, trang web chính là công cụ hữu hiệu
nhất. Công ty du lịch nào có thể tạo lập được một trang web đẹp hơn, đầy đủ thông tin
hơn và dễ dàng tìm thấy bằng các công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo… hơn thì
công ty đó có được lợi thế cạnh tranh. Các công ty kinh doanh dịch vụ du lịch, với
những vai trò khác nhau của mình chính là một trong những nhân tố vô cùng quan
trọng trong cơ cấu dịch vụ ngành du lịch Việt Nam.
1.3. Cơ cấu các thị trƣờng phát triển dịch vụ du lịch của Việt Nam
Thị trường phát triển dịch vụ du lịch của Việt Nam được chia ra làm hai thị
trường chính: đó là thị trường trong nước và thị trường nước ngoài.
Thị trường trong nước bao gồm những khách du lịch Việt Nam có nhu cầu đi du
lịch trong nước cũng như nước ngoài. Những năm trước đây, khi nền kinh tế Việt Nam
còn gặp nhiều khó khăn, nhu cầu đi du lịch đối với người dân còn là một nhu cầu xa
xỉ. Tuy nhiên, trong vòng 10 năm trở lại đây, khi mức sống của người dân tăng cao,
http://svnckh.com.vn
25
các nhu cầu về ăn, mặc, ở… đã được đáp ứng tốt thì người dân bắt đầu hướng đến
những nhu cầu cao hơn, ví dụ như đi du lịch. Người dân Việt Nam, với tính cách thích
392.999
93,9
Đài Loan (TQ)
303.527
95,1
Úc
234.760
104,5
Thái Lan
183.142
109,6
Pháp
182.048
99,1
Malaysia
174.008
113,4