Tài liệu Đề tài "Thực trạng và nhưng giải pháp cho công tác quy hoạch sử dụng đất” - Pdf 87



Luận Văn Tốt Nghiệp

Đề Tài : Thực trạng và nhưng giải pháp
cho công tác quy hoạch sử dụng đất 1
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đô thị hoá với tốc độ ngày càng cao là xu thế tất yếu của các quốc gia
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong sự nghiệp phát triển
kinh tế- văn hoá- xã hội của các quốc gia, các đô thị đóng vai trò như những
hạt nhân quan trọng. Các hoạt động kinh tế văn hoá chủ yếu của quốc gia đã
và sẽ diễn ra chủ yếu ở các đô thị. Nghiên cứu các vấn đề quản lý kinh tế- xã
hội ở đô thị nước ta là hết sức cần thiết cho trước mắt cũng như lâu dài. Hiện
tại, đô thị Việt Nam tuy còn nhỏ bé so với đô thị các nước trên thế giới. Trong
tương lai, đô thị Việt Nam sẽ phát triển nhanh vì đó là xu thế chung của thế
giới và với hoàn cảnh thuận lợi hiện nay là sự hợp tác của các nước trong khu
vực và trên thế giới…
Thành phố Hải Dương là tỉnh lỵ của tỉnh Hải Dương nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm phía Bắc của đất nước, là đầu mối giao thông chính với
quốc lộ, tỉnh lộ, thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy
việc quản lý quy hoạch xây dựng, sử dụng đất xây dựng, bảo vệ môi trường
sinh thái và từng bước nâng cao nếp sống về giữ gìn trật tự an toàn đô thị là

Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát
triển kinh tế xã hội, hệ thống dân cư mà mỗi nước có quy định riêng tuỳ theo
yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Song phần nhiều đều thống nhất lấy
hai tiêu chuẩn cơ bản:
- Quy mô và mật độ dân số: Quy mô trên 2000 người sống tập trung,
mật độ trên 3000 người/km
2
trong phạm vi nội thị.
- Cơ cấu lao động: Trên 65% lao động là phi nông nghiệp.
Như vậy, đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ có số dân từ
2000 người trở lên và trên 65% lao động là phi nông nghiệp.
Việt Nam quy định đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ với
tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp
thấp hơn. Điều đó xuất phát từ đặc điểm nước ta là một nước đông dân, đất
không rộng, đi từ một nước nông nghiệp lên chủ nghĩa xã hội
1.2. Khái niệm về đô thị hoá

3
Đô thị hoá chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau, vì vậy có thể nêu khái niệm dưới nhiều góc độ
Trên quan điểm một vùng: Đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát
triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá là một quá trình biến đổi
về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư những vùng không
phải đô thị thành đô thị. Một bước chuyển biến rõ nét trong quy hoạch và xây
dựng, quản lý đô thị tạo tiền đề vững chắc cho phát triển cao hơn vào những
năm tiếp theo.
1.3. Khái niệm về đất đô thị
Đất đô thị là đất thuộc khu vực nội thành, nội thị xã, thị trấn được quy
hoạch sử dụng làm nhà ở, trụ sở các cơ quan tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh

sở vào mục đích kinh doanh, buôn bán nhỏ hay xây dựng nhà ở cũng còn phổ
biến, làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự và an toàn giao thông đô thị).
Sở dĩ còn nhiều tồn tại trong quá trình quản lý sử dụng đất đô thị là do
trình độ quản lý của chúng ta còn nhiều yếu kém, đồng thời cũng thiếu một
đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao về công tác quy hoạch và sử dụng đất.
Do yếu tố lịch sử, chính trị, kinh tế việc xây dựng của chúng ta vốn đã
tự do không theo một quy hoạch nào mặc dù hiện nay chúng ta bắt đầu quan
tâm đến công tác quy hoạch và phát triển đô thị nhưng hệ thống các quy
hoạch tổng thể và chi tiết cho tất cả các đô thị hầu như chưa hoàn thiện và
chưa công bố rộng rãi vì vậy việc xây dựng hiện nay vẫn chưa được kiểm soát
theo đúng quy hoạch. Mặt khác, cho đến nay các hình thức sử dụng đất và các
hình thức sở hữu nhà đất của chúng ta còn đan xen, các thủ tục hành chính
còn nhiều điểm rườm rà, không cần thiết, cán bộ còn nhũng nhiễu làm cho
việc thực hiện cấp chứng chỉ quy hoạch và cấp phép xây dựng còn chậm do
đó đã làm ảnh hưởng đến công tác kiểm soát việc xây dựng phù hợp với quy
hoạch tổng thể sử dụng đất.

5
Chương II
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT

2.1. Giới thiệu về Thành phố Hải Dương- tỉnh Hải Dương
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Hải Dương nằm trên trục đường Quốc lộ 5A cách Thủ đô Hà Nội 59
km về phía Đông, cách TP Hải Phòng 47 km về phía Tây, trong vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng
Hiện nay TP Hải Dương là đô thị loại III với diện tích gần 36 km
2
, bao
gồm 13 phường, xã trong đó có 11 phường và 2 xã

tâm: Trần Phú, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Lê Thanh Nghị, Quang Trung,
Trần Hưng Đạo.
STT Đơn vị hành chính
Diện tích tự nhiên
(km
2
)
Số dân
(12/2002)
(người)
Toàn Thành phố HD 36,2355 133.272
II Nội thành 23,3437 116.989
1 Phường Phạm Ngũ Lão 0,7404 11.186
2 Phường Nguyễn Trãi 0,5779 8.760
3 Phường Lê Thanh Nghị 0,8394 7.485
4 Phường Trần Phú 0,4347 7.784
5 Phường Quang Trung 0,8609 12.251
6 Phường Trần Hưng Đạo 0,3878 5.324
7 Phường Cẩm Thượng 2,5501 5.570
8 Phường Bình Hàn 2,4324 14.713
9 Phường Ngọc Châu 6,3446 17.615
10 Phường Thanh Bình 5,4808 19.041
11 Phường Hải Tân 2,6946 7.260
II Ngoại Thành 12,8918 16.283
1 Xã Việt Hoà 6,1542 7.124
2 Xã Tứ Minh 6,7375 9.159

7
Quan sát biến động dân số hàng năm từ năm 1989 đến năm 2002 cho
thấy: trong 5 năm đầu dân số đi khỏi Thành phố nhiều hơn số đến, và số

Hệ thống thoát nước của thành phố: hồ Bình Minh, hồ Bạch Đằng và 5
km hào thành với tổng diện tích 50 ha; khu vực này phục vụ cho việc điều hoà
chứa nước mưa và nước thải. Hệ thống cống đường phố dài 41 km, trong đó 5
km đường trục chính với đường kính 500 mm- 1000 mm được xây dựng cũ,
còn lại 36 km đường cống nhánh. Các đường cống ngầm đa phần xuống cấp
trầm trọng. Việc xây dựng các đường cống thoát nước hiên nay mang tính
chất chắp vá, đối phó, cục bộ gây lãng phí và khó khăn cho việc cải tạo sau
này.
Hệ thống xử lý rác thải: rác thải của thành phố được thu gom vận
chuyển đến chôn lấp tại bãi rác Ngọc Châu (diện tích 3 ha)
Hệ thống nghĩa trang Thành phố quản lý nghĩa trang Cầu Cương (3ha)
phục vụ cho nhu cầu của 6 phường nội thành, 2 xã và 5 phường còn lại
(phường mới) đều có nghĩa trang riêng nằm trên địa bàn do các xã, phường
này quản lý.
Các công trình văn hoá thể thao: nhà thi đấu thể thao của thành phố
tầm cỡ quốc gia nhưng trang thiết bị và điều kiện thi đấu chưa tương xứng.
Hệ thống sân bãi thể thao gồm: sân vận động trung tâm, sân tập Đô Lương,
nhà văn hoá trung tâm, khu triển lãm, rạp chiếu phim, câu lạc bộ bóng bàn, bể
bơi, trường bắn, câu lạc bộ thể hình… đang được khai thác và sử dụng.
Hệ thống công trình dịch vụ: có 2 khách sạn là doanh nghiệp nhà nước,
ngoài ra là hệ thống khách sạn, nhà hàng tư nhân. Có 2 chợ lớn 8 chợ khu
vực và một trung tâm thương mại.
Hệ thống bưu điện viễn thông: trung tâm bưu điện tỉnh là trung tâm
hiên đại đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân.
Công tác quản lý đô thị trong thời gian gần đây đã được chú trọng dần
vào nền nếp. Thành phố đã ban hành quy chế “ Quản lý đô thị” và được triển
khai đến mọi tầng lớp nhân dân làm cơ sở pháp lý để tăng cường công tác
quản lý đô thị. Tuy nhiên, tình trạng xây dựng chưa phép, xây dựng không

9

Khu CN phía Nam TP 40 1,1 0,6-1,2 1-2
Khu CN kho, cảng
Cống Câu
10 0,28 0,7 1
Cụm CN Bắc- Tây Bắc
TP
200-
250
5,52- 6,9
Cụm CN đường Ngô
Quyền Bảng 2: Các khu công nghiệp và cụm công nghiệp

Tên khu đô thị, khu du
lịch sinh thái
Diện tích (ha)
Quy mô
vốn đầu tư
(tỷ. đ)
Diện tích đường giao
thông phục vụ
(ha)
Khu đô thị văn hoá- thể
thao phía Đông
74,07 607 42
Khu đô thị phía Tây 331,65 1853 258,63
Khu du lịch sinh thái
phía Đông Nam

không sát thực tế, một số điều kiện đặt ra không thực hiện được nên đi vào
sản xuất không đạt hiệu qủa, có một vài doanh nghiệp phải dừng sản xuất.
Bản thân nhiều người còn thiếu tự tin, ngại đầu tư vào sản xuất vào các khu,
cụm CN

12
+ Về công tác quy hoạch hiện nay còn nhiều bất cập không theo kịp tốc
độ xây dựng quá nhanh, dẫn đến hiện tượng “ Quy hoạch treo” vô cùng lãng
phí cả về tiền của và công sức
+ Cơ chế chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp còn nhiều
bất cập như việc vay vốn, bổ sung vốn lưu động, thủ tục thành lập doanh
nghiệp, giải quyết đất đai còn nhiều vướng mắc

13
Chương III
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
A- GIẢI PHÁP
3.1. Thiết lập quy hoạch tổng thể, quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn
Thành phố Hải Dương
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm tam giác tăng trưởng kinh tế
của khu vực đồng bằng Bắc Bộ, ba phía là ba thành phố lớn: Thủ đô Hà Nội,
thành phố cảng Hải Phòng và thành phố Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh). Thành
phố Hải Dương là thủ phủ của tỉnh Hải Dương, có các cơ quan quan trọng của
Đảng và Nhà nước như: Tỉnh uỷ- Hội đồng nhân dân- Uỷ ban nhân dân tỉnh,
các đoàn thể chính trị xã hội của tỉnh, các sở, ban ngành của tỉnh và thành
phố. Năm 1997 đã được Nhà nước công nhận là Thành phố trực thuộc tỉnh và
phân cấp đô thị loại III (Theo nghị định 72/2000- NĐCP của chính phủ ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status