Thực trạng và những giải pháp đề xuất để nâng cao năng lực ứng dụng marketing điện tử trong hoạt động của các doanh nghiệp du lịch việt nam - Pdf 74



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------o0o---------

CÔNG TRÌNH DỰ THI CUỘC THI
“Sinh viên nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học Ngoại thƣơng 2009”

Tên công trình
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT ĐỂ NÂNG CAO NĂNG
LỰC ỨNG DỤNG MARKETING ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP DU LỊCH VIỆT NAM

Nhóm ngành: XH1b


3. Vai trò của marketing điện tử đối với hoạt động của DN du lịch…………... 13
3.1. Vai trò của marketing điện tử đối với ngành du lịch……………………… 13
3.2. Ví dụ về công ty du lịch trên Thế giới ứng dụng thành công marketing
điện tử ……………………………………………………………………………... 15
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ NĂNG LỰC ỨNG
DỤNG MARKETING ĐIỆN TỬ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH
VIỆT NAM ……………………………………………………………………… 17
1. Tổng quan về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam
trong thời gian qua………………………………………………………………. 17
1.1. Vai trò của ngành du lịch đối với nền kinh tế Việt Nam…………………... 17 3

1.2. Cơ cấu dịch vụ ngành du lịch……………………………………………… 19
1.2.1. Nhóm các phương tiện vận chuyển…………………………………... 19
1.2.2. Nhóm các nhà hàng khách sạn……………………………………….. 20
1.2.3. Nhóm các ngành nghề truyền thống phục vụ cho ngành du lịch…….. 21
1.2.4. Các công ty kinh doanh dịch vụ du lich……………………………… 22
1.3. Cơ cấu các thị trường phát triển dịch vụ du lịch Việt Nam ………………. 23
2. Sự cần thiết phải ứng dụng marketing điện tử vào hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam………………………………………… 25
2.1. Tháo gỡ khó khăn………………………………………………………….. 26
2.2. Công cụ hiệu quả, tiện lợi…………………………………………………. 27
2.3. Công cụ ưu việt,vượt trội………………………………………………….. 27
3. Thực trạng và đánh giá năng lực ứng dụng marketing điện tử của các
doanh nghiệp du lịch Việt Nam…………………………………………………. 29

2. Giải pháp và đề xuất cụ thể về việc nâng cao năng lực ứng dụng marketing
điện tử ……………………………………………………………………………..

58
2.1. Giải pháp………………………………………………………………….. 58
2.1.1. Nhóm giải pháp về phía nhà nước ……………………………………. 58
2.1.2. Nhóm giải pháp về phía Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch, Tổng cục du
lịch và Hiệp hội du lịch Việt Nam…………………………………………………. 59
2.1.3. Nhóm giải pháp về phía các doanh nghiệp du lịch Việt Nam………… 61
2.2. Đề xuất của nhóm tác giả…………………………………………………. 66
2.2.1. Giai đoạn 1 - Giai đoạn chuẩn bị……………………………………… 66
2.2.2. Giai đoạn 2 - Giai đoạn phát triển…………………………………….. 68
2.2.3. Giai đoạn 3 - Giai đoạn duy trì………………………………………... 73
KẾT LUẬN ………………………………………………………………………. 79
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài: 5

2. Đối tƣợng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động Marketing điện tử.
Mục tiêu nghiên cứu: Khái quát thực trạng ứng dụng marketing điện tử để

xác, dễ hiểu và rõ ràng hơn cả.
1.1.1. Khái niệm theo nghĩa hẹp
Theo cuốn sách “E-Marketing” của Judy Straus, Adel El-Ansary và Raymond
Frost, marketing điện tử là kết quả của công nghệ thông tin trong hai cách thức sau.
Thứ nhất, nó làm tăng khả năng và hiệu quả các chức năng trong marketing truyền
thống. Thứ hai, công nghệ của marketing điện tử chuyển đổi thành nhiều chiến lược
marketing khác. Sự biến đổi đó dẫn đến những hình thức kinh doanh mới làm tăng
thêm giá trị khách hàng và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Theo định nghĩa của Phillip Kotler: “Marketing điện tử là quá trình lập kế
hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để
đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân - dựa trên các phương tiện điện tử và Internet”

1.1.2. Khái niệm theo nghĩa rộng
Theo cuốn sách “E-Marketing” của Judy Straus, Adel El-Ansary và Raymond
Frost, marketing điện tử là sự sử dụng công nghệ thông tin trong những quá trình thiết
lập, kết nối và chuyển giao giá trị đến khách hàng, để tiến hành các hoạt động 7

marketing nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức và duy trì quan hệ khách hàng
thông qua nâng cao hiểu biết của khách hàng, các hoạt động xúc tiến hướng mục tiêu
và các dịch vụ qua mạng hướng tới thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Nhóm tác giả cho rằng khái niệm marketing điện tử theo nghĩa rộng ở trên là
khá đầy đủ và chính xác. Do đó trong bài nghiên cứu này, chúng tôi xin sử dụng khái
niệm trên để dựa vào đó, đưa ra những phân tích và đánh giá về khả năng ứng dụng
marketing điện tử trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam
trong những phần tiếp theo.
1.2. Các loại hình marketing điện tử
Những hình thức cơ bản của Marketing điện tử bao gồm:

thông tin, bộ lập chỉ mục và bộ tìm kiếm thông tin. Các bộ này hoạt động liên tục từ
lúc khởi động hệ thống, chúng phụ thuộc lẫn nhau về mặt dữ liệu nhưng độc lập với
nhau về mặt hoạt động. Cỗ máy tìm kiếm tương tác với người dùng thông qua giao
diện trang web, có nhiệm vụ tiếp nhận và trả về những tài liệu thoả mãn yêu cầu của
người dùng. Các công cụ tìm kiếm khác nhau có những trình tự khác nhau để sắp xếp
các trang web theo mức độ tương thích với từ khoá mà bạn tìm kiếm. Công cụ tìm
kiếm được coi là sự lựa chọn đầu tiên để truy nhập tin tức hay thông tin về một sản
phẩm và dịch vụ nào đó không chỉ đối với những người mới truy cập vào mạng
Internet mà ngay cả những nhà marketing chuyên nghiệp. Đây là một công cụ
marketing trực tuyến thông qua sức mạnh tìm kiếm, bằng cách xếp hạng lượng truy
nhập của trang web thông qua khả năng dò tìm.
1.2.3. Quảng cáo trên các trang web
Đây là hình thức mua các vị trí trên trang web khác bên ngoài công ty để đặt các
mẫu quảng cáo như banner, logo, dòng chữ hoặc hình ảnh... Hình thức marketing trực
tuyến này phát triển lên từ phương pháp quảng cáo truyền thống là đặt các mẫu quảng
cáo trên các báo và tạp chí. Doanh nghiệp cần phải thiết kế trước những banner, logo
hay dòng chữ, hình ảnh mà mình dùng để quảng cáo. Sau đó, doanh nghiệp cần phải
thỏa thuận về vị trí quảng cáo trên trang web, thời hạn và giá cả…với đại diện của
công ty thiết kế website. Phương thức quảng cáo này khá đơn giản và không đòi hỏi
doanh nghiệp tốn nhiều thời gian và công sức.
1.2.4. Email Marketing
Đây là phương thức cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ và thu thập phản
hồi về sản phẩm, dịch vụ từ khách hàng thông qua email. Địa chỉ email của khách
hàng tiềm năng và hiện tại có thể được thu thập, cập nhật thường xuyên hoặc có thể
mua. Ngoài ra doanh nghiệp có thể thường xuyên gửi các thư giới thiệu (newsletters) 9

hoặc phát tán trên diện rộng những thông tin liên quan đến sản phẩm của mình.


10

thông tin, điện tử. Điều này xuất phát từ chính bản chất toàn cầu của Internet, cho phép
thông tin về sản phẩm, dịch vụ có thể đến với mọi cá nhân, tổ chức trên khắp thế giới
và giao dịch cũng có thể được thực hiện thông qua Internet, khiến phạm vi khách hàng
hiện tại và tiềm năng được mở rộng hơn.
1.3.2. Một số ích lợi và hạn chế của marketing điện tử
Ích lợi
Sự xuất hiện của marketing điện tử đã đem lại nhiều lợi ích như truyền tải thông
tin đến số lượng lớn đối tượng tiếp nhận với chi phí thấp hơn hẳn so với hình thức
marketing truyền thống. Thông điệp được truyền tải dưới nhiều hình thức phong phú
và đa dạng như văn bản, hình ảnh và âm thanh, phim ảnh và trò chơi…
Marketing điện tử có tính chất tương tác cao nhờ chức năng truy cập và kết nối
nhanh chóng thông qua Internet, do đó đối tượng nhận thông điệp có thể phản hồi tức
khắc hay giao tiếp trực tiếp với đối tượng gửi thông điệp. Hơn nữa, người tiêu dùng và
khách hàng có thể truy cập thông tin sản phẩm và thực hiện giao dịch, mua bán tại mọi
lúc và mọi nơi. Đây chính là lợi thế lớn và đặc thù của marketing điện tử so với các
loại hình marketing khác.
Marketing điện tử phát triển dựa trên quá trình mở rộng và quảng bá doanh
nghiệp nhờ việc sử dụng các phương tiện trực tuyến và một trong những lợi thế lớn
của hình thức này đó là sự có sẵn của lượng rất lớn thông tin. Marketing điện tử giúp
doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận và mở rộng thị trường dễ dàng và nhanh chóng
hơn.
Ngoài ra, marketing điện tử còn kết hợp tính sáng tạo và kỹ thuật cao của công
nghệ thông tin và hệ thống mạng Internet, bao gồm thiết kế, phát triển, quảng cáo và
bán hàng. Nhờ đó, doanh nghiệp sử dụng marketing điện tử có thể tiết kiệm được chi
phí bán hàng như chi phí thuê mặt bằng, giảm số lượng lực lượng bán hàng…So sánh
với các phương tiện khác như in ấn, báo đài hay truyền hình thì marketing điện tử có
lợi thế rất lớn nhờ chi phí thấp.

Nếu xét tới hoạt động marketing ở phương diện khái quát nhất, nó được sử
dụng để đạt tới 3 mục tiêu cơ bản như sau:
Lợi nhuận
Nhìn chung, mọi doanh nghiệp hoạt động trên thị trường, dù có những mục tiêu
trung gian nào thì mục tiêu cuối cùng mà họ hướng tới cũng là lợi nhuận kinh doanh.
Lợi nhuận là chỉ tiêu, là thước đo mức độ hoạt động hiệu quả của một doanh nghiệp.
Marketing, bằng con đường thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, thông qua hoạt
động tìm hiểu, phát hiện, phân tích chính những nhu cầu đó, qua đó giúp doanh nghiệp
đạt được mục đích của mình, hay nói cách khác, thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp. 12

Marketing chia vòng đời sản phẩm thành 4 giai đoạn: thâm nhập, tăng trưởng,
chín muồi và suy thoái. Với mỗi giai đoạn như vậy, hoạt động marketing giúp doanh
nghiệp định giá sản phẩm ở mức tối ưu, hợp lý nhất với khả năng thanh toán của người
tiêu dùng, phù hợp với tình hình thị trường lúc đó để tạo ra được doanh số tối đa và từ
đó, có thể có đạt tới lợi nhuận tối đa trong điều kiện có thể.
Thị phần
Thị trường là một yếu tố không thể thiếu đối với hoạt động kinh doanh, đồng thời
đó cũng là một trong những đối tượng quan trọng nhất trong hoạt động marketing.
Doanh nghiệp nào càng thành công trong việc chiếm lĩnh thị trường sẽ càng có nhiều
cơ hội để nâng cao doanh số hơn. Và chỉ tiêu thị phần cũng còn phản ánh lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp. Có một điều hiển nhiên là không một doanh nghiệp nào hoạt
động trên thương trường mà không cần ý thức tới các đối thủ cạnh tranh của mình, do
vậy, hoạt động marketing xuất hiện cũng nhằm mục đích trợ giúp cho doanh nghiệp
tìm thấy được lợi thế cạnh tranh của mình, đâu là điểm mạnh, đâu là điểm yếu (giá cả,
chi phí vận chuyển, đóng gói, chất lượng sản phẩm…). Điều này ứng với câu nói:
“Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”.
An toàn

Marketing nói chung mang những chức năng như sau:
- Nghiên cứu tổng hợp về thị trường để phát hiện ra cả những nhu cầu hiện tại lẫn
những nhu cầu tiềm năng của thị trường, cùng với triển vọng phát triển của thị
trường.
- Hoạch định chính sách kinh doanh của doanh nghiệp như: Chính sách sản
phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh
doanh…
- Tổ chức thực hiện những chính sách nói trên, bao gồm các hoạt động:
Nghiên cứu nhằm tạo ra những mẫu sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của người tiêu dùng.
Tổ chức và hoàn thiện hệ thống phân phối các sản phẩm.
- Điều tiết và thực hiện các hoạt động sản xuất, đóng gói, vận chuyển, bán hàng,
quảng cáo, dịch vụ…theo một chu trình thống nhất.
- Thực hiện việc kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh theo kế hoạch.
2.2.2. Chức năng của marketing điện tử
Nếu như các hình thức marketing truyền thống tập trung vào các chức năng
nghiên cứu, phát triển thị trường, hoạch định và triển khai chính sách bằng những công
cụ và phương pháp thông thường, thì marketing điện tử cũng thực hiện những chức 14

năng đó, nhưng được nhấn mạnh ở những công cụ thông minh vượt trội, đó là những
phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Ví dụ như máy tính, laptop, điện thoại thông
minh, mạng internet, mạng di động…Marketing điện tử với sự trợ giúp của công nghệ
thông tin sẽ giúp đỡ doanh nghiệp:
Thực hiện hành vi marketing theo từng đối tượng khách hàng. Việc phân chia
khách hàng có thể được thực hiện vô cùng nhanh gọn và tự động nhờ những phần
mềm chuyên dụng, phân loại khách hàng theo những tiêu chí nhất định, phụ thuộc vào
đặc tính sản phẩm cung cấp, giá cả sản phẩm, truyền thống mua sắm từng quốc gia…

đẹp, công viên giải trí…Do vậy, với tính chất trực tuyến, qua mạng, marketing điện tử
là một phương tiện quảng bá hữu ích cho doanh nghiệp và là một kênh thông tin vô
cùng tiện lợi cho người tiêu dùng. Có thể khái quát những vai trò quan trọng của
marketing điện tử đối với ngành du lịch thông qua hai đối tượng trên như sau:
Đối với doanh nghiệp du lịch
Marketing điện tử giúp cho doanh nghiệp du lịch truyền tải được thông tin tới
tận tay người tiêu dùng với tốc độ cao, thậm chí là ngay tức thì, cập nhật và trọn gói.
Người dân Việt Nam có tập quán chọn địa điểm và dịch vụ du lịch qua tiếp thị truyền
miệng, họ có thể tìm hiểu qua người thân, bạn bè, đồng nghiệp rồi tự mình tìm kiếm
thông tin trên mạng, chọn lựa những điểm đến phù hợp nhất với sở thích, khả năng tài
chính, sức khỏe…của mình. Thông tin này có thể đến với khách hàng ngay lập tức sau
khi công ty du lịch đưa lên trang web của mình.
Các tour du lịch, các chương trình khuyến mãi, giảm giá, tặng kèm, ưu đãi…có
thể được thể hiện qua nhiều hình thức như email, diễn đàn, banner…trên các trang 16

web có lượng truy cập cao. Công nghệ thông tin có thể giúp doanh nghiệp dễ dàng
quản lý và phân loại hệ thống khách hàng của họ với sự trợ giúp của những phần mềm
hiện đại. Các doanh nghiệp sử dụng những liên kết hiệu quả trang web của mình với
các trang web tìm kiếm, tra cứu nổi tiếng như Google, Yahoo, MSN…, quảng bá hình
ảnh du lịch Việt Nam qua các clip tự động hiện ra trên những trang web nổi tiếng.
Đối với khách hàng
Marketing điện tử là một hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại,
thậm chí nó còn là một xu hướng tất yếu của xã hội, hoạt động này mang tới cho người
tiêu dùng nhiều tiện ích như sau:
Người tiêu dùng hoàn toàn không phải mất công đi tìm hiểu tận nơi, hao phí
tiền của, thời gian và sức lực để có được thông tin về sản phẩm mà chỉ cần đơn giản là
ngồi ở nhà, dùng máy tính kết nối Internet của mình để tìm kiếm, tra cứu thông tin về

giải One Show lần thứ 34 ở New York - một trong những giải thưởng danh giá nhất
của ngành công nghiệp quảng cáo toàn cầu.
Sự đột phá trong chiến dịch này là đã khai thác triệt để Internet và các phương
tiện truyền thông, nhằm thu hút hơn 34.000 bài viết cho công việc chăm sóc dải san hô
ngầm khổng lồ ở quần đảo Hamilton và người viết đoạt giải sẽ được hưởng lương
110.000 USD. Chi phí cho chiến dịch này chỉ khoảng trên 1 triệu USD, tuy nhiên hiệu
quả quảng cáo toàn cầu của nó lại được ước tính lên tới 150 triệu USD. Chương trình
đã thu hút được 7 triệu lượt người quan tâm và tham gia, với 34.000 video dài 1 phút
từ 200 quốc gia, 200.000 blog và khoảng 43.000 bài viết về giải pháp nhằm chăm sóc
cho những dải san hô ngầm đó.
Quả thật, cuộc thi này đã thu hút được sự quan tâm không chỉ của người dân
nước Úc và hiệu quả quảng bá du lịch của nó cũng chưa từng thấy. Có thể thấy rằng,
những tác động tích cực của truyền thông, của các phương tiện điện tử trong quảng bá
du lịch, nhất trong bối cảnh phát triển không ngừng của những trang blog, hay các
mạng xã hội như ngày nay là không thể phủ nhận được. Và còn gì thú vị hơn, khi
không phải chính quyền địa phương tự PR cho hình ảnh của mình mà chính các
blogger viết bài quảng bá du lịch cho địa phương đó thông qua trang blog cá nhân của
họ, chúng sẽ mang tính khách quan hơn rất nhiều, đặc biệt là từ những blogger nổi
tiếng, hiệu quả quảng bá sẽ càng cao.
Tuy nhiên thực tế cho thấy, vai trò của các phương tiện điện tử trong quảng bá
du lịch vẫn chưa được đánh giá và quan tâm xứng đáng. Thành công vang dội của
chiến dịch mang tên "Công việc tốt nhất thế giới" của Queensland, Australia có lẽ là
bài học đáng giá cho nhiều quốc gia có thể thay đổi tư duy sáng tạo, từ đó tìm ra con
đường marketing hiệu quả cho ngành du lịch đất nước mình.
18
thấy rằng, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam không ngừng tăng qua các năm.
Bảng 1: Bảng số liệu về lƣợt khách quốc tế đến Việt Nam
từ năm 2003 đến năm 2008
2003 2004 2005 2006 2007 2008 20

Số lƣợt khách
quốc tế đến
Việt Nam
1238500 2927876 3467757 3583468 4171564 4235740
So sánh với
năm trƣớc
X 20.5% 18.4% 3% 16% 0.6%
(Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam)
Du khách nước ngoài đến Việt Nam mang lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế
Việt Nam. Nhờ lượng khách du lịch tăng hàng năm nên doanh thu từ ngành du lịch
cũng tăng lên. Năm 1999, doanh thu từ ngành du lịch là 15.600 tỷ đồng. Năm 2002, du
lịch đóng góp cho nền kinh tế quốc dân 23.300 tỷ đồng. Sang đến năm 2005, con số
này lên tới 30.000 tỷ đồng, tăng 15.4% so với năm 2004 và tăng 28,75% so với năm
2003. Đặc biệt, năm 2008, doanh thu của ngành du lịch lên tới 4 tỷ USD (khoảng
71.200 tỷ đồng). Có thể thấy rằng, du lịch thực sự là một trong những ngành kinh tế
mũi nhọn, quan trọng, thu về một lượng lớn ngoại tệ, thúc đẩy nền kinh tế phát triển và
rút ngắn khoảng cách của nền kinh tế Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế
giới.
Ngoài ra, du lịch còn có vai trò là cầu nối văn hóa, đưa nền văn hóa của Việt
Nam ra thế giới. Mục đích của phát triển du lịch không chỉ là lợi nhuận kinh tế, điều
quan trọng và căn bản hơn là du lịch cần trực tiếp góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh
của Việt Nam đối với thế giới cũng như các nước trong khu vực. Qua du lịch, khách

khách, xe buýt, xích lô; các phương tiện giao thông đường thủy như tàu biển, ca nô,..
Các phương tiện vận chuyển đóng vai trò rất quan trọng bởi vì đó chính là cầu nối giữa
các vùng lãnh thổ trên thế giới, giữa các thành phố trong một quốc gia…Chất lượng
của các phương tiện vận chuyển và sự phát triển của ngành du lịch có mối quan hệ với
nhau. Các phương tiện vận chuyển nếu có thể phục vụ được nhu cầu đi lại của khách
du lịch, tạo cho khách du lịch cảm giác an toàn, thoải mái thì sẽ kích thích được sự
phát triển của ngành du lịch; nếu không đáp ứng được nhu cầu trên thì sẽ cản trở sự
phát triển của ngành du lịch.
Trong thời gian vừa qua, ngành du lịch Việt Nam cũng đã ra sức phát triển chất
lượng của các phương tiện vận chuyển để phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách du lịch
trong nước và nước ngoài. Trước hết, về đường không, rất nhiều chuyến bay với mức
giá khác nhau được đưa ra để có thể phù hợp với nhu cầu của nhiều nhóm khách hàng
có thu nhập khác nhau. Ví dụ như hãng hàng không quốc gia Vietnam Airline đã liên
tục mở thêm rất nhiều chuyến bay mới, bay thẳng đến các thành phố trong nước cũng
như nước ngoài để giúp khách hàng tiết kiệm chi phí. Các phương tiện giao thông 22

đường bộ như tàu hỏa, xe khách cũng được nâng cấp với các dịch vụ mới như xe buýt
có giường nằm, xe buýt hai tầng, phục vụ khăn lạnh miễn phí, cung cấp đồ uống miễn
phí….cũng nhằm mục đích hỗ trợ khách hàng một cách tối đa. Hệ thống xích lô ở một
số thành phố như Hà Nội, Huế cũng đã được qui hoạch và phát triển một cách hợp lý
nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch mà lại không làm ảnh hưởng tới giao thông
và trật tự. Về các phương tiện đường thủy, hệ thống thuyền và tàu của chúng ta cũng
không ngừng được nâng cấp ngày một hiện đại hơn. Tổng cục du lịch Việt Nam đã
ban hành những tiêu chuẩn cho những con thuyền 2 sao, 3 sao, 4 sao, thường xuyên có
các đợt kiểm tra, đánh giá hàng năm để kiểm soát được chất lượng và kịp thời nâng
cấp. Phải nói rằng, hệ thống phương tiện vận chuyển an toàn, đem lại thoải mái cho du
khách chính là một phần không thể thiếu và rất cần được quan tâm trong cơ cấu dịch

Các ngành nghề truyền thống cũng là một trong những ngành bổ trợ cho ngành
du lịch. Khách du lịch đến nước ta ngoài mục đích tham quan những cảnh đẹp còn
muốn tìm hiểu về những nét văn hóa, những nghề truyền thống nổi tiếng của đất nước
Việt Nam như tranh Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc,và các mặt hàng thổ
cẩm, thủ công mỹ nghệ khác... Những mặt hàng truyền thống này đều là sản phẩm của
một nền văn hóa mang bản sắc riêng, được đúc kết và lưu truyền từ bao đời nay. Mỗi
mặt hàng, mỗi sản phẩm đều gắn với một làng nghề truyền thống, hay nói cách khác,
mỗi làng nghề đều nổi tiếng và được biết đến với một sản phẩm đặc trưng nào đó.
Khách du lịch đến Việt Nam thường rất tò mò tìm hiểu và yêu thích những mặt hàng
thủ công truyền thống này, cho nên họ thường mua lại để làm quà lưu niệm, quà tặng
hay vật kỷ niệm.
Bên cạnh đó, những loại hình nghệ thuật truyền thống như múa rối nước, ca trù,
nhã nhạc cung đình Huế, quan họ Bắc Ninh… hay những di sản văn hóa phi vật thể
như áo dài cũng có những sức hút kì lạ với du khách nước ngoài. Nếu ngành du lịch có
những kế hoạch và chiến lược để bảo tồn và phát triển những ngành nghề này một
cách hợp lý, chúng ta sẽ có thể thu hút một lượng rất lớn khách du lịch quốc tế đến
Việt Nam hàng năm.
1.2.4. Các công ty kinh doanh dịch vụ du lịch
Yếu tố cuối cùng chính là các công ty kinh doanh dịch vụ du lịch. Các công ty
du lịch không đưa ra một sản phẩm cụ thể cho khách du lịch, nhưng các công ty này
làm nhiệm vụ kết nối các dịch vụ khác nhau và cung cấp cho khách hàng sản phẩm
cuối cùng: đó là một tour du lịch với đầy đủ các dịch vụ như phương tiện vận chuyển,
nhà hàng khách sạn, các loại hình nghệ thuật truyền thống… Các công ty du lịch chính
là các công ty sắp xếp bố trí tour, lên chương trình, bố trí khách sạn, nhà hàng, quản lý
và phân bổ hướng dẫn viên…. Những hoạt động này có vai trò vô cùng quan trọng
trong sự phát triển của ngành du lịch bởi vì ấn tượng của khách du lịch về một đất
nước phụ thuộc vào những dịch vụ mà du khách được đáp ứng, những cảnh đẹp mà 24

lịch trong nước cũng như nước ngoài. Những năm trước đây, khi nền kinh tế Việt Nam
còn gặp nhiều khó khăn, nhu cầu đi du lịch đối với người dân còn là một nhu cầu xa
xỉ. Tuy nhiên, trong vòng 10 năm trở lại đây, khi mức sống của người dân tăng cao, 25

các nhu cầu về ăn, mặc, ở… đã được đáp ứng tốt thì người dân bắt đầu hướng đến
những nhu cầu cao hơn, ví dụ như đi du lịch. Người dân Việt Nam, với tính cách thích
đi đây đi đó, khám phá cho nên thị trường trong nước đã hứa hẹn là một thị trường đầy
tiềm năng phát triển. Ngày nay, khách du lịch Việt Nam chủ yếu hướng đến những
danh lam thắng cảnh đẹp trong nước như vịnh Hạ Long, biển Nha Trang, Đà Nẵng,
Lăng Cô, những thành phố đẹp và thơ mộng như Đà Lạt, Sa Pa…Nhiều du khách còn
chọn cho mình một tour du lịch xuyên Việt dài ngày để có thể khám phá hết vẻ đẹp
của đất nước. Một bộ phận khách hàng khác thì chọn cho mình những tour du lịch
nước ngoài, mà phổ biến nhất là các nước thuộc khu vực Đông Nam Á và Nam Á như
Thái Lan, Singapore,..Theo Tổng cục Du lịch, năm 2008, ngành du lịch đã phục vụ
cho hơn 20 triệu lượt khách nội địa, đó là một con số không hề nhỏ.
Thị trường nước ngoài chính là những khách du lịch nước ngoài có nhu cầu đi
du lịch tới Việt Nam. Khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam có thể đến từ rất nhiều
quốc gia khác nhau; trong đó, nhiều nhất là các khách du lịch đến từ Trung Quốc, Mĩ
và một số nước châu Âu... Dưới đây là bảng tổng hợp khách du lịch quốc tế đến Việt
Nam năm 2008.

Bảng 2: Khách quốc tế đến Việt Nam năm 2008 căn cứ theo
một số thị trƣờng lớn (đơn vị tính: lƣợt ngƣời)
Quốc gia Năm 2008
Năm 2008 so với năm 2007 (%)
Trung Quốc 650.055
113,1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status