1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI BÍCH HÀ
TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ
NHU CẦU CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI ĐIỀU KIỆN
SINH HOẠT, LÀM VIỆC VÀ ĐÀO TẠO CHUYÊN MÔN
(Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14
1.1. Cơ sở lý luận : 14
1.1.1. Các lý thuyết tiếp cận: 14
1.1.1.1. Lý thuyết phân công lao động: 14
1.1.1.2. Lý thuyết trao đổi xã hội: 15
1.1.1.3. Các lý thuyết liên quan tới di dân: 17
1.1.2. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu: 19
1.1.2.1. Khái niệm "Gia đình": 19
1.1.2.2. Khái niệm "Lao động", "Người lao động": 19
1.1.2.3. Khái niệm "Dịch vụ giúp việc gia đình": 20
1.1.2.4. Khái niệm “Người giúp việc gia đình”: 20
1.1.2.5. Khái niệm “Hoạt động giúp việc gia đình”: 21
1.1.2.6. Khái niệm “Nhu cầu”: 21
1.1.2.7. Khái niệm “Chuyên môn”, “Đào tạo", "Đào tạo chuyên môn": 22 3
1.2. Cơ sở thực tiễn: 23
1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 23
1.2.2. Tổng quan địa bàn nghiên cứu: 27
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1. Một số đặc trưng nhân khẩu - xã hội của người giúp việc gia đình và hộ gia
đình thuê người giúp việc: 32
2.1.1. Nhóm người giúp việc gia đình: 32
2.1.2. Hộ gia đình thuê người giúp việc: 33
2.2. Thực trạng hoạt động giúp việc tại Hà Nội hiện nay: 35
2.2.1. Lý do lựa chọn nghề giúp việc và nguồn giới thiệu: 35
2.2.2. Các loại hình công việc: 38
4 DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Thứ tự
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Nghề nghiệp của người được hỏi
30
Bảng 2.2
Thu nhập từ công việc trước khi làm giúp việc gia đình
32
Bảng 2.3
Nguồn giới thiệu công việc cho người giúp việc gia đình
33
Bảng 2.4
Nội dung công việc của người giúp việc gia đình
35
Bảng 2.5
Số tiền gửi về nhà hàng tháng
40
Bảng 2.6
Mục đích sử dụng của nguồn tiền gửi về gia đình
41
Bảng 2.7
Thời gian dành cho việc về thăm nhà của người giúp việc
44
Thứ tự
Tên biểu
Trang
Biểu đố 2.1
Tương quan giữa độ tuổi người giúp việc và tiền công
hàng tháng
38
Biểu đồ 2.2
Khó khăn của người giúp việc gia đình
66
Biểu đồ 3.1
Nhu cầu của người giúp việc đối với điều kiện sinh hoạt
71
Biểu đồ 3.2
Nhu cầu của người giúp việc đối với điều kiện làm việc
74
Biểu đồ 3.3
Mong muốn được đào tạo của người giúp việc theo các
nội dung đào tạo
84
Một khảo sát gần đây của Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em, Ủy
ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (trước đây) được tổ chức vào năm 2005 cho thấy
nhu cầu về dịch vụ giúp việc gia đình ở khu vực đô thị, đặc biệt là tại các thành phố
lớn, ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, việc đáp ứng những nhu cầu về dịch vụ giúp
việc gia đình đang diễn ra một cách tự phát. Hoạt động giúp việc gia đình, về mặt
quản lý nhà nước, chưa được coi là một nghề. Các quy định của pháp luật về lao 7
động giúp việc gia đình còn chung chung, trong khi đây là một hình thức lao động
với những đặc trưng riêng. [21]
Một mặt, các hoạt động giúp việc gia đình đã đáp ứng phần nào nhu cầu kinh
tế - xã hội của cả những gia đình sử dụng dịch vụ giúp việc và những gia đình có
lao động đi giúp việc. Việc sử dụng dịch vụ giúp việc gia đình ở nhiều gia đình đã
giúp người phụ nữ và các thành viên gia đình giảm bớt gánh nặng công việc gia
đình, có nhiều thời gian hơn cho công việc ở ngoài xã hội, nghỉ ngơi và giải trí. Các
hoạt động giúp việc gia đình cũng góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở
một bộ phận dân cư, trong đó có nhiều phụ nữ nông thôn. Mặt khác, do chưa có
những biện pháp quản lý nhà nước cần thiết, nên có những dấu hiệu cho thấy, đã
nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội,
cũng như quyền lợi của các bên liên quan đến hoạt động này. Hiện tượng người
giúp việc bị đối xử thiếu công bằng, bị xâm hại thân thể hay những vụ việc hình sự
như người giúp việc lấy trộm tài sản, hoặc tùy tiện bỏ việc làm hoặc nghiêm trọng
hơn đe dọa tính mạng của gia đình người thuê đang trở thành những vấn đề gây bức
xúc dư luận xã hội
Nguồn cung chủ yếu của hoạt động giúp việc trong gia đình là những phụ nữ
nghèo từ nông thôn, họ có trình độ học vấn tương đối thấp, ít hiểu biết về đời sống
xã hội tại đô thị và hầu như chưa qua đào tạo bài bản về nghề giúp việc gia đình.
Việc gia nhập vào một gia đình khác với lối sống và hệ thống giá trị, chuẩn mực
khác biệt sẽ tạo ra những xung đột giữa gia đình thuê người giúp việc và người giúp
người thuê.
3. Mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nhằm làm rõ thực trạng hoạt động giúp việc gia đình hiện nay, qua đó
tìm hiểu nhu cầu về điều kiện sinh hoạt, làm việc cũng như việc đào tạo chuyên
môn của người giúp việc gia đình, nhằm đưa ra những kết luận, khuyến nghị giúp
cho việc xây dựng chính sách quản lý với dịch vụ giúp việc gia đình như một nghề
lao động chân chính. 9
3.2.Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài nhằm trả lời các câu hỏi như hiện nay hoạt động giúp việc gia đình ở
Hà Nội đang diễn ra như thế nào? Người giúp việc đang làm những công việc gì?
Điều kiện sống, làm việc của họ ra sao? Người giúp việc gia đình có nhu cầu đối
với việc thay đổi điều kiện sống, làm việc và đào tạo chuyên môn hay không?
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, xác định những khái niệm liên
quan.
- Tìm hiểu các hình thức giúp việc gia đình hiện có tại địa bàn nghiên cứu, qua tính
chất công việc, thời gian, cường độ lao động, thù lao, các chế độ đi kèm công việc.
- Tìm hiểu nhu cầu của người lao động về việc đảm bảo các điều kiện sống và làm
việc: nơi ở, chế độ ăn nghỉ, loại hình công việc, thời gian làm việc, chăm sóc sức
khỏe.
- Tìm hiểu nhu cầu được đào tạo chuyên môn của người lao động.
- Đưa ra một số khuyến nghị liên quan tới việc xây dựng chính sách quản lý hoạt
động của dịch vụ giúp việc gia đình và đào tạo nghề thuộc lĩnh vực này.
4. Đối tượng, khách thể:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động giúp việc gia đình tại Hà Nội và nhu cầu của người lao động đối
Ban đầu, ý định của nhóm nghiên cứu là tiến hành thu thập thông tin từ 600
người giúp việc và đại diện chủ hộ trong cùng một gia đình. Điều này giúp có được
so sánh, đối chiếu thông tin thu được giữa hai nhóm. Tuy nhiên, điều tra thử cho
thấy việc này là khó khăn vì rất ít chủ hộ đồng ý cho người giúp việc của gia đình
mình cùng được tham gia cung cấp thông tin vì e ngại rằng họ sẽ nói ra những điều
khác với thông tin mà chủ hộ cung cấp. Do vậy, nhóm nghiên cứu quyết định chọn
2 nhóm độc lập để tiến hành thu thập thông tin.
Tác giả tham gia nghiên cứu này với tư cách thư ký đề tài, trực tiếp tham gia
từ xây dựng đề cương, thiết kế bộ công cụ cho tới việc lựa chọn địa bàn nghiên cứu.
Do vậy, tác giả có điều kiện nắm rõ mục tiêu cũng như hướng nghiên cứu để có thể
hình dung rõ ràng hơn về đề tài luận văn của mình. Đồng thời, cũng có điều kiện để 11
thu thập thêm những số liệu định tính và định lượng phục vụ riêng cho mục đích
nghiên cứu của luận văn.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ này đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động
giúp việc gia đình và đề xuất giải pháp quản lý. Tuy nhiên với mục đích tìm hiểu
những nhu cầu của người lao động - lực lượng quan trọng tạo nên chất lượng của
hoạt động này nên tôi đã bổ sung thêm một số câu hỏi về nhu cầu của người lao
động đối với điều kiện sinh hoạt, làm việc và đào tạo chuyên môn.
6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Nhằm thu thập những thông tin sâu sắc hơn, phát hiện những vấn đề mới,
đáng chú ý liên quan tới đề tài nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn sâu các đối
tượng được tiến hành với:
- 05 người lao động.
- 05 đại diện hộ gia đình thuê người giúp việc gia đình.
6.3. Phương pháp thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm được sử dụng trong đề tài này nhằm tìm hiểu và thu thập
những ý kiến của những nhóm đối tượng khác nhau khi bàn luận về cùng một chủ
Người giúp việc
Đặc trưng nhân khẩu
xã hội
Động cơ cần việc làm
Gia đình
Đặc trưng nhân khẩu
xã hội.
Nhu cầu thuê người
giúp việc. Điều kiện kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội
Thực trạng hoạt động giúp việc gia đình
Lý
do
làm
giúp
việc
gia
đình
Loại
hình
công
việc
Điều
kiện
sống,
làm
động xã hội, giúp cho nhiều gia đình thành thị đảm nhiệm tốt hơn chức năng gia
đình, có nhiều thời gian hơn tập trung vào công việc trả lương và chăm lo nhiều hơn
cho các thành viên gia đình trong lĩnh vực tình cảm, tinh thần. [11. tr.131-133]
Theo quan niệm xã hội học do A. Comte khởi xướng, phân công lao động là
sự chuyên môn hoá nhiệm vụ lao động nhằm thực hiện chức năng ổn định và phát
triển xã hội. Bên cạnh đó, phân công lao động xã hội không đơn thuần là sự chuyên
môn hoá lao động mà thực chất là quá trình gắn liền với sự phân hoá xã hội, phân
tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội. Theo Comte, phân công lao động dẫn tới sự
phân chia xã hội, cụ thể là những người phụ nữ ở vùng nông thôn, có thu nhập thấp
di cư ra thành thị để làm công việc có thu nhập cao hơn và thực hiện những yêu cầu
của người sử dụng lao động ở thành thị.
Tuy nhiên, nhìn phân công lao động theo lăng kính chức năng luận, Comte
và Durkheim cho rằng sự phân công lao động trong xã hội thực hiện chức năng
củng cố mối quan hệ gắn bó giữa các cá nhân và trật tự xã hội.
Đối với Durkheim, sự phân công lao động tạo ra sự đoàn kết xã hội.
Durkheim viết rằng: sự phân công lao động không chỉ biến mỗi cá nhân thành một 15
tác nhân trao đổi như các nhà kinh tế học nhấn mạnh, mà còn tạo ra cả một hệ thống
các quyền lợi và nghĩa vụ gắn kết họ một cách lâu dài với nhau. Kết quả của sự
phân công lao động trong xã hội là sự hình thành phức hệ các lý tưởng, các giá trị,
chuẩn mực chung, khách quan có khả năng quy định trách nhiệm, quyền hạn, buộc
các cá nhân phải liên hệ phụ thuộc vào nhau theo một khuôn mẫu nhất định. Hình
thức phân công lao động đơn giản tạo ra loại đoàn kết xã hội cơ học hay đoàn kết
máy móc. Hình thức phân công lao động phức tạp tạo ra sự đoàn kết hữu cơ.
Sự phân công lao động trong xã hội có thể xảy ra trên cơ sở khác nhau về
đặc điểm tự nhiên của chủ thể lao động, cũng như dựa vào các đặc điểm, yêu cầu
phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Durkheim chia phân công lao động thành hai loại: Phân công lao động bình
Đây là mô hình đơn giản nhất của tương tác giữa các cá nhân. Nhưng theo
Homans ngay cả với những tương tác xã hội phức tạp như quan hệ quyền lực
cũng tuân theo những nguyên tắc trên. Trong thực tế cuộc sống xã hội, quá trình
tương tác theo mô hình trao đổi xã hội là rất phổ biến. Theo Homans, toàn bộ các
tương tác xã hội là một tập hợp phức tạp của các trao đổi.
Lý thuyết trao đổi còn được phát triển bởi Peter Blau. Blau tập trung vào lý
giải các kết quả tập thể, như phân phối quyền lực trong xã hội. Thay vì điều kiện có
hiệu lực, ông nghiên cứu rõ hơn từ cơ cấu kinh tế, cho rằng tương tác kinh tế có giá
trị đối với con người. Con người để tâm đến trao đổi xã hội vì cùng một nguyên
nhân là họ gắn với các trao đổi kinh tế – họ cần ở nhau những thứ mà họ không thể
cung cấp cho bản thân mình. Hơn nữa, Peter Blau cố gắng phát triển lý thuyết trao
đổi mà không bỏ đi đặc tính không thể giảm bớt của các tương tác xã hội. Trái với
Homans, Blau nêu rõ một số đặc tính của trao đổi xã hội là nổi bật.
Đối với Blau, cơ sở của trao đổi xã hội dựa trên phần thưởng dự đoán trước
của liên kết. Phần thưởng có thể hoặc ở bên trong (sự hài lòng trong thâm tâm khi ở
với ai đó), bên ngoài (lợi ích hoặc dịch vụ hữu hình mà người ta có thể cung cấp),
hoặc cả hai. Trao đổi xã hội, giống như trao đổi kinh tế, xuất hiện khi liên kết mang
lại cho cả hai bên phần thưởng mà họ không thể tự có được.
Liên hệ với nội dung nghiên cứu của đề tài, quá trình tương tác giữa người
giúp việc và người thuê là một quá trình trao đổi xã hội, trong đó cả hai cùng hướng 17
tới "phần thưởng" mà mình nhận được từ mối quan hệ này. Để có được phần
thưởng là sự nghỉ ngơi hoặc dành thời gian cho các hoạt động cá nhân khác, hay
con cái, cha mẹ có người chăm sóc, người thuê phải bỏ ra các chi phí như tiền
lương, tiền thưởng hoặc sự chăm sóc, đối xử phù hợp với người giúp việc. Ngược
lại, người giúp việc vì muốn giữ công việc của mình, được nhận thù lao và những
phần thưởng xứng đáng, phải bỏ công sức để lao động. Đồng thời, cả hai bên, nếu
muốn quá trình trao đổi được diễn ra lâu dài và xuôn sẻ, đều phải chấp nhận hy sinh
Từ quan điểm này người ta gọi lí thuyết của Lewis là mô hình cân bằng. Lý thuyết
của Lewis đã đặt nền móng cho lý thuyết mới có tên gọi là Mô hình kinh tế đôi của
Ranis và Fei ra đời vào thập kỷ 60 thế kỷ XX.
Trong thập kỉ 50, khi mà các làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị không
ngừng tăng lên ngay cả khi lao động ở đô thị thất nghiệp nhiều. Điều này làm cho lý
thuyết của Lewis đã đơn giản hoá nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng di dân từ
nông thôn ra đô thị là do yếu tố kinh tế quyết định. [17]
Lý thuyết di cư của Everett S.Lee: Trong cuốn sách “Một học thuyết chung
về di cư” (A general theory of migration, xuất bản năm 1966), E.S. Lee, một nhà
nghiên cứu thuộc đại học Pensylvania, Hoa Kỳ, đã tổng kết một số các yếu tố quyết
định đến việc di cư của người dân từ nông thôn ra thành thị. Ông chia thành hai
nhóm yếu tố: a/ Nhóm yếu tố tiêu cực - nghèo đói, sự thiếu thốn các cơ hội kinh tế,
thiếu đất, mức sống thấp ở quê nhà; b/ Nhóm yếu tố tích cực - sự thịnh vượng, cơ
hội, công việc làm ăn, mức sống cao ở nơi đến… Trong hai nhóm yếu tố này,
những yếu tố tiêu cực tác động mạnh hơn buộc người ta phải rời nơi sinh sống của
mình còn các yếu tố tích cực phản ánh sự hấp dẫn của nơi đến.
Ngoài ra, Lee còn phân tích một số các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc di
dân. Đó là nhận thức, sự thông minh, hiểu biết của người di cư qua kinh nghiệm bản
thân hay qua các kênh thông tin đại chúng, qua bạn bè, họ hàng… Đây là điều mà
các lý thuyết trước đó ít đề cập tới. Việc di cư, theo Lee còn phụ thuộc vào tính toán
và thu nhập mong đợi trong thời gian nhất định hơn là tính toán về khác biệt thu
nhập giữa thành thị và nông thôn. [17]
Việc áp dụng các lý thuyết về di dân khi tìm hiểu về hoạt động giúp việc gia
đình giúp làm sáng tỏ những nguyên nhân dẫn đến quyết định ra thành phố làm 19
nghề giúp việc gia đình của người lao động và nhìn nhận những lý do này dưới góc
độ quản lý xã hội.
1.1.2. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu:
Chủ thể lao động: là cá nhân, nhóm, tổ chức xã hội với các đặc điểm, phẩm
chất được hình thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa và trong hoạt động lao
động. Chính chủ thể lao động với sự nỗ lực vật chất - tinh thần của họ đã gắn kết
các yếu tố lao động thành một quá trình sản xuất. Đồng thời, thông qua lao động,
con người không những cải tạo thế giới mà còn biến đổi chính bản thân mình.
[11,tr.122-123]
Như vậy, có thể định nghĩa rằng người lao động là các cá nhân thuộc các
nhóm, tổ chức xã hội với các đặc điểm và phẩm chất riêng được hình thành và phát
triển trong quá trình xã hội hóa và trong quá trình lao động.
1.1.2.3. Khái niệm "Dịch vụ giúp việc gia đình":
Hiện nay chưa có một định nghĩa chung nhất về dịch vụ giúp việc gia đình
dù cụm từ này được sử dụng trong rất nhiều văn bản và được chấp nhận trong xã
hội. Trên cơ sở những đặc trưng của loại hình dịch vụ này, tác giả xin đưa ra cách
hiểu của mình về dịch vụ giúp việc gia đình là loại hình dịch vụ thuộc khu vực kinh
tế phi chính thức nhằm cung cấp nguồn lao động làm các công việc nội trợ hoặc
chăm sóc các thành viên cho các gia đình có nhu cầu. Người được thuê giúp việc
trong gia đình trực tiếp làm những công việc như đi chợ, chuẩn bị bữa ăn, dọn dẹp
nhà cửa, trông trẻ, trông người già yếu và nhận lương theo thỏa thuận giữa người
thuê và người giúp việc.
Dịch vụ giúp việc gia đình còn có thể hiểu đơn giản là những công việc được
làm bởi người không phải thành viên của gia đình.
1.1.2.4. Khái niệm “Người giúp việc gia đình”:
"Người giúp việc gia đình, (người hầu hay người ở theo cách gọi trong các
xã hội trước đây )là những người làm việc và thường chung sống cùng hộ gia đình
với người thuê. Ở những hộ gia đình lớn, có thể có nhiều người giúp việc làm các
công việc khác nhau, như một phần của hệ thống thứ bậc phức tạp. 21
Người giúp việc gia đình thường làm những công việc như nấu ăn, giặt là,
22
Và con người là thực thể xã hội, khác với các loài động vật khác, họ luôn hướng tới
việc thoả mãn các nhu cầu của mình, nói cách khác, họ hành động theo nhu cầu.
Việc được đáp ứng các nhu cầu từ thấp tới cao như một cái thang dẫn họ tới việc tự
hoàn thiện mình và giúp ích cho xã hội. [12]
Người giúp việc cũng là một nhóm đối tượng với những đặc trưng riêng, do
vậy họ cũng có những nhu cầu riêng gắn với hoàn cảnh sống và làm việc của mình.
Ở đây, chúng tôi cũng xem xét nhu cầu của người lao động theo hai nhóm nhu cầu
bậc thấp, bao gồm các nhu cầu về đảm bảo điều kiện sinh hoạt (nơi ăn, chỗ ở, chăm
sóc sức khỏe, nghỉ ngơi giải trí) và điều kiện làm việc và các nhu cầu bậc cao liên
quan đến nhu cầu về địa vị trong gia đình chủ nhà và đào tạo chuyên môn để được
nâng cao vị thế của mình.
1.1.2.7. Khái niệm “Chuyên môn”, “Đào tạo", "Đào tạo chuyên môn":
Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng
năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm,
lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm
nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã
hội. [13, tr.11]
Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến
thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những
tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích
nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Khái niệm
đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, đào tạo được dùng để đề cập
đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ
nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo
chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo [13,tr.11]
Đào tạo chuyên môn là hoạt động nhằm cung cấp kiến thức cũng như kỹ
năng chuyên sâu thuộc một lĩnh vực nghề nghiệp cho người lao động. [13,tr.11] 24
dùng dịch vụ giúp việc gia đình. Qua phân tích số liệu cuộc điều tra sự tiêu dùng tại
Hoa Kỳ năm 1993, tác giả đã chỉ ra rằng việc sử dụng dịch vụ giúp việc gia đình và
việc lựa chọn hình thức đi ăn bên ngoài đã giúp người phụ nữ giảm bớt gánh nặng
công việc nhà. Tác giả đã đánh giá sự tác động của các yếu tố: vị trí của người phụ
nữ trong hôn nhân (thu nhập, nghề nghiệp của người phụ nữ), địa vị kinh tế - xã hội
của gia đình (mức sống, chủng tộc, thu nhập, nghề nghiệp, học vấn của người
chồng) tới việc sử dụng dịch vụ giúp việc gia đình. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy,
nếu như mọi yếu tố khác là như nhau, những gia đình mà người phụ nữ có địa vị
cao hơn cũng như những gia đình có địa vị kinh tế- xã hội cao hơn sử dụng dịch vụ
giúp việc gia đình và đi ăn bên ngoài nhiều hơn. [5, tr.219-231]
Qua tìm hiểu một số nghiên cứu nước ngoài về chủ đề dịch vụ giúp việc gia
đình, có thể thấy chủ đề này đã được quan tâm tìm hiểu ở nhiều quốc gia trên các
khía cạnh khác nhau. Đây sẽ là cơ sở khoa học cho việc tiếp cận, so sánh kết quả
trong nghiên cứu tình hình thực tế Việt nam về thực trạng giúp việc gia đình, các
yếu tố tác động đến thực trạng này, những vấn đề còn tồn tại.
* Ở Việt Nam:
Lao động giúp việc gia đình là một hoạt động kinh tế xã hội có từ lâu đời ở
nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới. Hoạt động giúp việc gia đình ở
Việt Nam trong khoảng 20 năm trở lại đây trở nên phổ biến và phát triển so với giai
đoạn trước đó là do có nhiều gia đình có điều kiện kinh tế khá hơn hẳn so với thời
kỳ kinh tế bao cấp, cũng như sự dư thừa lao động phổ thông ở khu vực nông thôn
dưới tác động của công cuộc cải cách kinh tế. Một yếu tố cơ bản khác thúc đẩy loại
hình dịch vụ này phát triển là chính sách của Nhà nước ta cho phép và khuyến khích
phát triển dịch vụ khu vực kinh tế tư nhân và phi chính thức. Yếu tố thứ ba là việc
mở rộng những hình thức quản lý về mặt hộ khẩu hay đăng ký tạm trú tạo điều kiện
để những người lao động nông thôn được tự do ra thành phố tìm việc làm.
Tác giả Mai Huy Bích trong bài viết “Người làm thuê việc nhà và tác động
mà ít quan tâm tới đối tượng cung cấp dịch vụ. [21]
Một nghiên cứu khác của tác giả Lê Việt Nga năm 2005 đã thực hiện thu
thập thông tin từ cả ba đối tượng liên quan trực tiếp đến hoạt động này là người lao
động, chủ hộ gia đình thuê người giúp việc và người làm nghề môi giới hoạt động