ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN MẠNH HÙNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THAM QUAN – HƢỚNG DẪN
KHÁCH DU LỊCH TẠI CÁC CHÙA THỜ TỨ PHÁP.
NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP BỐN CHÙA:
DÂU, ĐẬU, TƢỚNG, DÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2014
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Lí do chọn đề tài 6
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 8
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 12
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 12
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 13
6. Đóng góp của đề tài 15
7. Bố cục luận văn 15
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 17
1.1. Lý luận về tổ chức 17
1.1.1. Khái niệm 17
1.1.2. Nguyên tắc của vấn đề tổ chức 18
1.1.3. Những yếu tố tác động đến vấn đề tổ chức 19
1.1.4. Nội dung của công tác tổ chức 20
1.2. Quan niệm về khách du lịch 21
1.3. Tổ chức hoạt động tham quan du lịch 22
1.3.1. Khái niệm 22
1.3.2. Những yếu tố tác động đến tổ chức hoạt động tham quan du lịch 24
1.4. Tổ chức hoạt động hƣớng dẫn du lịch 27
1.4.1. Khái niệm 27
1.4.2. Hƣớng dẫn viên du lịch 28
1.4.3. Những hoạt động trong công tác tổ chức hƣớng dẫn du lịch 30
DÀN 80
3.1. Những căn cứ cho việc đề xuất 80
3.1.1. Về mặt khoa học, pháp lý 80
3
3.1.2. Về mặt thực tiễn 81
3.2. Những đề xuất nhằm nâng cao tổ chức hoạt động tham quan – hƣớng dẫn tại các
chùa: Dâu, Đậu, Tƣớng, Dàn 84
3.2.1. Ứng xử văn hóa tại di tích 84
3.2.2. Một số nội dung tham quan, hƣớng dẫn 89
3.2.3. Đào tạo nguồn nhân lực du lịch 102
3.2.4.Tuyên truyền, quảng bá thông tin về tín ngƣỡng Tứ Pháp 102
3.3. Một số đề xuất giải pháp khác 104
3.3.1. Đối với công tác quản lý văn hóa và di sản, di tích lịch sử 104
3.3.2. Công tác bảo tồn và tổ chức hoạt động ở địa phƣơng 105
3.3.3. Đối với chính quyền cơ sở 106
3.3.4. Đối với các tổ chức, công ty lữ hành 108
3.3.5. Công tác giáo dục cộng đồng 108
Tiểu kết chƣơng 3 110
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 117
5
DANH MỤC BẢNG
STT
BẢNG SỐ
TÊN BẢNG
TRANG
1
Bảng 2.1
Tổ chức ban quản lý di tích các chùa: Dâu, Tƣớng, Dàn
69
2
Bảng 2.2
Số lƣợng khách quốc tế tới chùa Dâu qua các năm
72
tôn giáo ngày nay không chỉ bó hẹp ở một thực thể cộng đồng nhất định mà nó diễn ra
với sự giao lƣu ngày càng mạnh mẽ. Một nền văn hóa vừa giữ đƣợc nét đậm đà bản sắc
dân tộc, vừa phát huy đƣợc những giá trị cốt lõi trong quá trình phát triển đất nƣớc, hội
nhập toàn cầu hóa, đó chính là một nhiệm vụ và là mục tiêu mà Đảng ta qua nhiều văn
kiện Đại hội Đảng đã khẳng định.
Hoạt động du lịch của nƣớc ta dựa trên một phần là những giá trị tài nguyên vật
thể và phi vật thể do ông cha gìn giữ để lại đã dần khẳng định là một ngành kinh tế mũi
nhọn và trở thành trọng điểm trong thời gian tới. Tổng lƣợng khách du lịch quốc tế đến
Việt Nam năm 2012 ƣớc đạt 6.847.678 lƣợt, tăng 13,86% so với cùng kỳ năm 2011
[40, tr. 1], tiếp tục thể hiện đà tăng trƣởng của ngành du lịch nƣớc ta trong bối cảnh nền
kinh tế trong nƣớc và thế giới có nhiều khó khăn, biến động. Việt Nam với thế mạnh về
tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn (tài nguyên du lịch văn hóa) đã hình thành và
phát triển nhiều loại hình du lịch: du lịch biển, du lịch tham quan nghỉ dƣỡng, du lịch
mạo hiểm, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa…Trong thời gian tới ở nƣớc ta cùng với
loại hình du lịch biển thì du lịch văn hóa, du lịch tâm linh sẽ là những loại hình du lịch
phổ biến đối với du khách quốc tế và nội địa. Theo PGS. TS Nguyễn Phạm Hùng: (hầu
hết những điểm tham quan, tour du lịch trên nƣớc ta đều có liên quan đến nguồn tài
nguyên du lịch văn hóa). Chính vì vậy xây dựng những tuyến, tour du lịch văn hóa, tâm
linh; hoàn chỉnh những nguồn tài liệu về các điểm du lịch văn hóa, tâm linh, đặc biệt là
7
đối với những điểm tham quan du lịch mang tính đặc thù, là một việc làm cần kíp. Để
từ đó tạo nên cơ sở đầy đủ về nguồn thông tin góp phần phát triển du lịch nƣớc nhà.
Hoạt động tham quan hƣớng dẫn du lịch tại các ngôi chùa, đình, đền…đặc biệt
là các chùa thờ Tứ Pháp đối với ngƣời làm du lịch và với du khách cho đến nay vẫn
trong tình trạng chƣa hiểu rõ hoặc có biết nhƣng chƣa tƣờng tận và sâu sắc về những
nội dung, các khía cạnh truyền tải… Với đối tƣợng mang tính đặc thù nhƣ tín ngƣỡng
Tứ Pháp trong hệ thống các chƣơng trình du lịch, khung tổ chức tham quan, hƣớng dẫn
chƣa đƣợc xem xét, hoặc chƣa đƣợc xây dựng một cách có hệ thống.
Tín ngƣỡng Tứ Pháp là nét văn hóa đặc sắc tồn tại khá phổ biến ở vùng đồng
chùa có sự giao thoa văn hóa Phật giáo và tín ngƣỡng dân gian cổ xƣa tại khu vực vùng
Dâu… Đây là những đề tài có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà nghiên cứu. Từ các góc
độ khác nhau bằng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu các nhà khoa học, nhà nghiên cứu
đã dần đƣa ra những bằng chứng lịch sử thuyết phục, và họa lại bức tranh về văn hóa,
tôn giáo, tín ngƣỡng cũng nhƣ sự phong phú trong cuộc sống văn hóa tâm linh của
ngƣời dân vùng Dâu – Luy Lâu trong dòng chảy văn hóa Việt Nam.
Trong tác phẩm Lịch sử Phật giáo Việt Nam (2006) của tác giả Lê Mạnh Thát
đã khắc họa toàn bộ tiến trình về lịch sử Phật giáo từ khi du nhập đến khi phát triển và
đến những năm trong thời gian gần đây. Đặc biệt tác phẩm cũng đề cập những nội
dung về sự giao thoa văn hóa, dung hòa giữa Phật giáo và tín ngƣỡng cổ xƣa của ngƣời
Việt Bắc Bộ có liên quan đến hệ tín ngƣỡng Tứ Pháp mà điển hình là tại địa phận tỉnh
Bắc Ninh ngày nay, sau này có sự lan tỏa ra một số tỉnh thành khác trong nội vùng
châu thổ Sông Hồng. Tuy nhiên trong tác phẩm này tác giả cũng chỉ trình bày nội dung
trên nhƣ một sự bổ trợ cho nội dung chính là tìm hiểu Lịch sử Phật giáo Việt Nam
trong tiến trình lịch sử dân tộc. Chính vì vậy những yếu tố về tín ngƣỡng Tứ Pháp đƣợc
nhìn nhận trên góc độ nhà nghiên cứu lịch sử.
9
Tác phẩm Chùa Dâu và nghệ thuật Tứ Pháp của tác giả Phan Cẩm Thƣợng
(2002), đã đề cập rất cụ thể và chi tiết về lịch sử chùa Dâu, nghệ thuật điêu khắc, phản
ánh tín ngƣỡng Tứ Pháp trong từng chi tiết nghệ thuật đƣợc bài trí trong chùa, đình có
liên quan đến tín ngƣỡng Tứ Pháp tại vùng Dâu cũng nhƣ tại một số nơi khác. Tác giả
tiếp cận Tứ Pháp trên phƣơng diện là sự phản ánh, sự soi chiếu niềm tin tín ngƣỡng của
ngƣời dân vùng châu thổ Sông Hồng, đánh giá nghệ thuật của di sản vật thể: tƣợng các
Phật Bà, các bức hoành phi, ngọn tháp Hòa Phong, lễ hội Với những nét độc đáo về
nội dung, tác giả Phan Cẩm Thƣợng đã đem lại một góc nhìn mới về văn hóa, tín
ngƣỡng Tứ Pháp đối với những ngƣời làm văn hóa. Và đặc biệt với những ngƣời làm
du lịch dựa trên cơ sở những nội dung đó mà hiểu hơn đƣợc về tín ngƣỡng này.
Chùa Dâu – cổ châu, pháp vân, diên ứng tự (2011) của tác giả Nguyễn
Quang Khải và Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết (2011) do tác giả Nguyễn Hữu
mô tả lại một cách chi tiết về những hoạt động, lối ứng xử dân gian trong từng
tín ngƣỡng, trong đó có tín ngƣỡng Tứ Pháp. Tín ngƣỡng Tứ Pháp đƣợc tác giả
coi là một nét văn hóa độc đáo của ngƣời Việt vùng châu thổ sông Hồng.
Luận án Nghệ thuật tạo hình tượng nhân dạng thế kỉ XVII trong chùa Việt
ở châu thổ bắc bộ (2011) của tác giả Triệu Thế Việt đã có đề cập đến những hình
thái của tín ngƣỡng cầu mƣa, Tứ Pháp thông qua các hình thái tƣợng nhân dạng
trong một số di tích. Mặc dù là một nghiên cứu thuộc mã ngành nghệ thuật,
nhƣng những nội dung của luận án đã cung cấp cho tác giả luận văn thông tin
khá phong phú về hệ thống tƣợng trong di tích chùa Việt ở châu thổ Bắc bộ nói
chung, tại các chùa thờ Tứ Pháp nói riêng. Luận án là tài liệu tham khảo đắc lực
cho luận văn.
11 Cuốn sách Tổ chức sự kiện của tác giả Lƣu Văn Nghiêm đã đề cập tới những
vấn đề về lý luận, nội dung, những yếu tố tác động tới công tác tổ chức sự kiện. Tổng
hợp lại vấn đề đƣa ra khung tham chiếu cho công tác tổ chức sự kiện. Đề cập đến hoạt
động tổ chức trong ngành dịch vụ là các sự kiện nói chung. Đây là một tài liệu cung
cấp những nội dung khá mật thiết với nghiên cứu luận văn của tác giả.
Tác phẩm Ứng xử văn hóa trong du lịch do tác giả Trần Thúy Anh – chủ biên
(2010) đã tiếp cận đến vấn đề cụ thể trong hoạt động du lịch, đặc biệt là các hoạt động
du lịch văn hóa, đó là lối ứng xử văn hóa của nhà tổ chức du lịch trên phƣơng diện phía
cung du lịch, HDV - ngƣời trực tiếp hỗ trợ và phục vụ đoàn khách, du khách - những
ngƣời trực tiếp tham gia các hoạt động trong một tour du lịch, chƣơng trình tham
quan Cuốn sách mang tính định hƣớng theo những quy chuẩn về lối ứng xử văn hóa
trong công tác nghiệp vụ của ngƣời làm du lịch mà ở đây đi sâu vào đội ngũ HDV du
lịch. Đề tài luận văn đƣa ra những nội dung nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn tại
trong hoạt động tham quan – hƣớng dẫn khách du lịch. Chính vì vậy đây là một tài liệu
hỗ trợ mang tính định hƣớng cho nhiều nội dung của nghiên cứu.
Tác phẩm Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch của tác giả Đinh Trung Kiên đã cung
+ Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trƣờng hợp tại bốn chùa:
Dâu, Đậu, Tƣớng, Dàn cùng hệ thống các di tích tín ngƣỡng Tứ Pháp thuộc tỉnh Bắc
Ninh.
+ Phạm vi về thời gian: Những số liệu đƣợc sử dụng trong luận văn đƣợc thu thập từ
nhiều nguồn thông tin khác nhau từ những thời gian trƣớc tới năm 2013. Luận văn
đƣợc thực hiện trong thời gian từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích:
+ Thông qua việc phản ánh những thực tế về công tác tổ chức và việc thực hiện hoạt
động hƣớng dẫn, tham quan tại các điểm di tích, những nội dung trong nghiên cứu luận
13
văn nhằm phục vụ cho việc truyền tải thông tin, giá trị của tín ngƣỡng Tứ Pháp, các di
tích thờ Tứ Pháp đến với du khách một cách tốt hơn.
+ Đƣa ra đƣợc những nội dung trong công tác tổ chức hoạt động tham quan – hƣớng
dẫn khách du lịch tại các chùa thờ Tứ Pháp một cách khoa học và đầy đủ hơn.
- Nhiệm vụ:
+ Trình bày một cách có hệ thống cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về tổ chức hoạt động
tham quan – hƣớng dẫn khách du lịch tại các chùa thờ Tứ Pháp.
+ Đề xuất một số nội dung trong công tác tổ chức tham quan – hƣớng dẫn khách du
lịch tại các chùa thờ Tứ Pháp.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp công cụ
+ Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: Đối với phƣơng pháp này, trong quá trình
thực hiện, ngƣời nghiên cứu đã có xác định trƣớc về mặt nội dung, cũng nhƣ khía cạnh
khái quát của toàn bộ vấn đề đƣợc đƣa ra trong công trình nghiên cứu. Từ những vấn
đề đã đƣợc khu biệt lại, giúp cho tác giả thực hiện đúng hƣớng trong quá trình thu thập
và xử lí các loại tài liệu khác nhau.
+ Phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp tài liệu: Đây là phƣơng pháp mang
tính công cụ trong nhiều nghiên cứu khoa học. Đối với bất kì một công trình nghiên
thái của hoạt động…một cách chi tiết trong đó thể hiện đƣợc sự trải nghiệm, nhập thế
của tác giả trong quá trình nghiên cứu.
+ Phương pháp giải mã: Trong quá trình nghiên cứu khoa học, có những vấn đề, sự
vật, hiện tƣợng đƣợc ngƣời nghiên cứu phát hiện, ghi chép lại…sự xuất hiện của nó có
ý nghĩa nhất định. Điều này có thể thấy rất rõ trong các công trình nghiên cứu khảo cổ
học, nhân chủng học, hoặc những nghiên cứu có liên quan đến văn hóa, tâm linh…Vì
vậy phƣơng pháp giải mã là chìa khóa mở ra những lớp cửa, lớp ý nghĩa đƣợc ẩn đi, và
15
đƣa đến cho ngƣời nghiên cứu khả năng xác định đƣợc đúng thông điệp mà đối tƣợng
đã và đang phản ánh.
+ Sử dụng kiến thức liên ngành: Những nội dung phản ánh của đối tƣợng nghiên cứu
đƣợc làm rõ không chỉ dựa vào phƣơng pháp của một ngành khoa học nhất định, mà
cần phải có sự kết hợp của các phƣơng pháp có tính đặc thù của nhiều ngành khoa học
khác nhau. Sử dụng đồng thời nhiều kiến thức chuyên ngành để có đƣợc những góc độ
nhìn nhận khác nhau, những kiến giải về đối tƣợng nghiên cứu. Từ những khía cạnh
khác nhau đó tạo nên một hệ thống thông tin phản ánh tổng thể và đầy đủ về đối tƣợng.
+ Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Mỗi một đề tài nghiên cứu khoa học với
những đặc thù mã ngành khoa học khác nhau lại có những phƣơng pháp chuyên ngành
riêng. Phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành đƣợc sử dụng có tính xuyên suốt toàn bộ
nội dung của nghiên cứu. Nó thể hiện rõ quan điểm, góc độ và khía cạnh nhìn nhận của
tác giả về đối tƣợng đƣợc đƣa ra.
6. Đóng góp của đề tài
- Luận văn đóng góp một phần cho việc nghiên cứu những giá trị văn hoá truyền thống
Việt Nam.
- Luận văn có thể dùng làm tƣ liệu, tài liệu tham khảo trong nghiên cứu những môn
học có liên quan đến văn hoá truyền thống, tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức kinh doanh du lịch, HDV,
khách du lịch.
- Góp phần nâng cao chất lƣợng các tour du lịch có điểm tham quan liên quan tới các
17
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lý luận về tổ chức
1.1.1. Khái niệm
Về khái niệm “tổ chức”, đây không phải là một khái niệm mới trong nghiên cứu
khoa học. Song đối với khoa học du lịch và với vấn đề mà luận văn tập trung nghiên
cứu thì cần phải có cách nhìn nhận đúng hƣớng trong nội hàm của khái niệm này. Tác
giả đã thu thập, nghiên cứu các quan niệm có nghĩa khá gần trong khoa học du lịch.
Bên cạnh đó tác giả cũng có sự tiếp cận khái niệm, trên cơ sở dùng phƣơng pháp
nghiên cứu liên ngành, mà ở đây là khoa học quản lý.
Khái niệm “tổ chức” thƣờng đƣợc nhắc tới trong quản lý và là một phần quan
trọng của khoa học quản lý. Với ý nghĩa thông thƣờng “tổ chức” là một khái niệm
dùng để chỉ một đơn vị trong xã hội: hành chính sự nghiệp, đơn vị kinh doanh, cơ
quan, trƣờng học…là những kết cấu phân cấp của xã hội trong đó các thành viên bắt
buộc phải có những hoạt động hợp tác, sự tƣơng tác với nhau.
Trên phƣơng diện quản lý học đi sâu vào phƣơng diện chức năng, thì tổ chức để
chỉ việc nghiên cứu xem làm thế nào để tiến hành phân công, sắp xếp trình tự hợp lý để
đạt đƣợc mục tiêu và mục đích đã đƣợc đề ra trong quá trình thực hiện một công việc
nhất định. Cùng nghĩa này trong trích dẫn của viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý
có đƣa ra một số khái niệm về “tổ chức”: “tổ chức là một kết cấu đƣợc xây dựng theo
mục tiêu chung và tiến hành phân công nhiệm vụ, xác định chức trách, trao đổi thông
tin, kết hợp hỗ trợ làm việc đối với toàn bộ nhân viên trong tổ chức một cách hợp lý
sao cho có thể thu đƣợc hiệu quả cao nhất khi thực hiện mục tiêu…tổ chức là cả một
quá trình hay hoạt động hình thành kết cấu tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu chung một
cách hiệu quả”[41, tr. 43]. Theo những quan điểm này thì vấn đề quá trình sắp xếp và
việc thực hiện những nội dung đã đƣợc đƣa ra theo một trình tự nhằm đạt hiệu quả tối
ƣu trong công việc chính là những yếu tố quan trọng nhất của khái niệm “tổ chức”.
18
kết quả là việc hoàn thành mục tiêu mà thực hiện. Đối với những phần việc không hoặc
ít liên quan tới mục tiêu cần loại bỏ hoặc giảm thiểu tới mức tối đa.
Trong hoạt động du lịch nói chung và hoạt động tham quan, hƣớng dẫn khách
du lịch nói riêng các tổ chức du lịch, công ty du lịch, khách du lịch và những ngƣời có
liên quan cần phải thực hiện đến mức cao nhất nguyên tắc nhất quán trong mục tiêu đạt
tới, từ đó mới tạo đƣợc sự chuyên nghiệp trong toàn bộ chƣơng trình du lịch.
- Nguyên tắc hiệu quả
Trong quá trình thực hiện bất kì một công việc, nhiệm vụ nào thì vấn đề hiệu
quả sau quá trình làm việc đƣợc đặt lên hàng đầu. Để có thể đạt đƣợc mục tiêu đƣợc
đƣa ra có nhiều cách thực hiện khác nhau, song quá trình thực hiện công việc để đạt
đến mục tiêu đó một cách tối ƣu nhất mới đƣợc coi là hiệu quả. Nguyên tắc hiệu quả
chính là cơ sở cho sự sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
1.1.3. Những yếu tố tác động đến vấn đề tổ chức
- Tính phức tạp của công việc
Đối với những công việc mà để đạt đến mục tiêu cần phải trải qua nhiều công
đoạn, cần nhiều sự phối hợp giữa các bộ phận, nguồn lực. Vấn đề tổ chức, sắp xếp,
phân định các phần việc, các nguồn lực cho từng khâu đƣợc thực hiện cũng phức tạp
hơn rất nhiều. Mỗi một công đoạn, phần việc đƣợc thực hiện theo một trình tự, có thể
là diễn ra độc lập, đồng thời hoặc đan xen với nhau.
- Công việc đòi hỏi phải có kĩ năng cao
Quá trình hoạt động, làm việc có những phần, công việc đòi hỏi ngƣời thực
hiện, gọi chung là nhân lực phải đạt đƣợc một trình độ nhất định mới có thể hoàn thành
tốt, đạt hiệu quả cao khi làm việc. Điều này có thể lấy công việc của một HDV du lịch
làm ví dụ. Để có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu vô cùng đa dạng, làm cho khách du lịch
thuộc mọi đối tƣợng khác nhau có thể thỏa mãn đƣợc những nhu cầu chính đáng trong
quá trình thực hiện chuyến du lịch, chuyến tham quan đòi hỏi ngƣời HDV phải là
những ngƣời có kinh nghiệm trong hoạt động hƣớng dẫn, có kĩ năng trong hoạt động
20
giao tiếp, ứng xử… Nhƣ vậy yếu tố đòi hỏi kĩ năng trong công việc khiến công tác tổ
trình diễn ra nhiệm vụ.
- Xác định nội dung trong quá trình thực hiện
Các yếu tố trên đây chỉ là những phần khung cho quá trình thực hiện một hoạt
động, công việc nhất định. Xác định và đƣa ra đƣợc các nội dung, gọi tên đƣợc các
công việc, phần việc cần phải thực hiện là vấn đề chính của công tác tổ chức. Trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ, dựa vào các nội dung đã đƣợc xác định theo một trình tự
sắp xếp giúp cho chủ thể thực hiện đầy đủ và đúng định hƣớng đạt tới hiệu quả khi kết
thúc công việc.
1.2. Quan niệm về khách du lịch
Tại các điểm tham quan du lịch, đặc biệt là điểm du lịch tâm linh đối tƣợng
khách rất đa dạng. Với những hình thức khác nhau, khách tham quan có thể là đi theo
tour trọn gói, đi theo dạng Open tour, hoặc tự tổ chức đi tham quan, đi thăm thân và kết
hợp tham quan… Đối với đối tƣợng là khách tự do, vãng lai đi tham quan các khu du
lịch tâm linh mục đích chính của họ chủ yếu là để thỏa mãn sự tò mò, khám phá, thỏa
mãn nguyện tâm linh của họ. Vì vậy hoạt động tham quan của đối tƣợng khách này hầu
hết chỉ mang yếu tố ngẫu hứng không theo một lịch trình cụ thể nào khi đến điểm tham
quan. Trong luận văn này nội dung tổ chức hoạt động tham quan – hƣớng dẫn đƣợc đề
cập hƣớng tới đối tƣợng là khách du lịch thực sự. Do đó để có những nội dung phù hợp
với đối tƣợng nghiên cứu, luận văn cũng cần phải định hƣớng rõ về đối tƣợng đến với
điểm du lịch. Để từ đó thống nhất đƣợc các phần nội dung của đề tài.
Nhà xã hội học Cohen lại quan niệm: “Khách du lịch là một ngƣời đi tự nguyện,
mang tính nhất thời, với mong muốn đƣợc giải trí từ những điều mới lạ và thay đổi thu
nhận từ một chuyến đi tƣơng đối xa và không thƣờng xuyên”. [49, tr. 164-183]
Một khái niệm khác về du khách đƣợc đƣa ra bởi National Tourism Resources
Review Commission: “Du khách là ngƣời đi xa ít nhất 50 dặm để kinh doanh, giải trí,
22
lo công việc riêng tƣ hay bất kỳ lí do gì ngoại trừ việc đi lại hàng ngày cho dù có ở lại
đêm hay không” [32, tr. 20].
“Du khách là ngƣời từ nơi khác đến với /kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ
đƣợc xác định dƣới sự hƣớng dẫn của ngƣời có nghiệp vụ và trình độ chuyên môn
nhằm tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu nhất định trong chƣơng trình du lịch của mình khi
trực tiếp quan sát đối tƣợng tham quan và nghe thuyết minh” [21, tr. 122].
Theo mục 5 trong điều 4 về giải thích từ ngữ dùng trong Luật du lịch của nƣớc
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 44/2005/QH 11 ngày 14 tháng 6 năm 2005
có quy định: “Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có tài
nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thƣởng thức những giá trị của tài nguyên du
lịch”. [24, tr. 2]
Những quan niệm trên đây có thể thấy rằng một chƣơng trình tham quan,
chuyến tham quan du lịch cũng có những căn cứ về mặt thời gian, đó là hoạt động diễn
ra trong một khoảng thời gian nhất định thông thƣờng là trong ngày. Điều này có thể
phân biệt với một tour, hay một chƣơng trình du lịch. Nếu một tour du lịch có thể đƣợc
chia thành: tour du lịch ngắn ngày, tour du lịch dài ngày thì một chuyến tham quan du
lịch là nội hàm, là một phần của tour du lịch. Trong các giai đoạn thực hiện một
chƣơng trình du lịch (giai đoạn 1: thỏa thuận với khách; giai đoạn 2: chuẩn bị thực
hiện; giai đoạn 3: thực hiện chƣơng trình du lịch; giai đoạn 4: những công việc sau kết
thúc chƣơng trình) [46, tr. 28, 29], hoạt động tham quan thuộc giai đoạn 3. Có thể có
nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề phân định giữa một tour du lịch và một chuyến
tham quan du lịch. Trong luận văn này tác giả sử dụng hoạt động tham quan du lịch là
một hình thức hoạt động của du khách đƣợc diễn ra trong thời gian ngắn thông thƣờng
là trong ngày, dƣới sự hỗ trợ của HDV và những ngƣời có liên quan tại điểm tham
quan, giúp du khách thẩm nhận những giá trị, thỏa mãn nhu cầu tại điểm tham quan,
đối tƣợng tham quan.