ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN PHAN NGỌC TIẾN
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THAM QUAN - HƢỚNG DẪN TẠI
CÁC ĐIỂM DU LỊCH VĂN HÓA CHĂM, NINH THUẬN
(Nghiên cứu trường hợp tháp Po Klong Garai, làng dệt thổ cẩm
truyền thống Chăm Mỹ Nghiệp, làng gốm Bàu Trúc) )
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
5. Phương pháp nghiên cứu 12
6. Đóng góp của đề tài 14
7. Bố cục luận văn 14
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THAM
QUAN HƢỚNG DẪN 15
1.1. Lý luận về tổ chức 15
1.1.1. Khái niệm 15
1.1.2. Nguyên tắc của vấn đề tổ chức 16
1.1.3. Những yếu tố tác động đến vấn đề tổ chức 17
1.1.4. Nội dung của công tác tổ chức 18
1.2. Quan niệm về khách du lịch 19
1.3. Tổ chức hoạt động tham quan du lịch 20
1.3.1. Khái niệm 20
1.3.2. Những yếu tố tác động đến tổ chức hoạt động tham quan du lịch 21
1.4. Tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch 24
1.4.1. Khái niệm 24
1.4.2. Hướng dẫn viên du lịch 25
1.4.3. Những hoạt động trong công tác tổ chức hướng dẫn du lịch 29
1.4.4. Vị trí và ý nghĩa của vấn đề tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch 31
1.4.5. Một số yếu tố khách quan tác động đến vấn đề tổ chức hoạt động
hướng dẫn du lịch 33
2
1.5. Khái quát về người Chăm Ninh Thuận 35
1.5.1. Lịch sử hình thành người Chăm Ninh Thuận 35
1.5.2. Cơ sở hình thành văn hoá Chăm tại các điểm du lịch văn hoá Chăm 38
1.5.3. Một số đặc thù của tín ngưỡng tại các điểm du lịch văn hoá Chăm 43
Tiểu kết chương 1 46
3.1.4. Căn cứ thực trạng còn hạn chế 95
3.2. Những đề xuất nhằm nâng cao tổ chức hoạt động tham quan – hướng dẫn
tại các điểm du lịch văn hoá Chăm 97
3.2.1. Ứng xử văn hóa tại các điểm du lịch văn hoá 97
3.2.2. Một số nội dung tham quan, hướng dẫn 101
3.2.3. Về nhân lực du lịch văn hóa Chăm Ninh Thuận 108
3.2.4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác tham quan hướng dẫn111
3.2.5. Tăng cường quản lý dịch vụ thuyết minh, hướng dẫn du lịch 112
3.3. Một số đề xuất giải pháp khác 113
3.3.1. Về xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa Chăm Ninh Thuận 113
3.3.2. Về bảo tồn di sản văn hóa Chăm, tổ chức hoạt động và định hướng
phát huy giá trị văn hóa du lịch Ninh Thuận 114
3.3.3. Về tổ chức, quản lý của chính quyền cơ sở với du lịch văn hóa Chăm118
3.3.4. Đối với các tổ chức, công ty lữ hành 119
3.3.5. Công tác giáo dục cộng đồng 120
Tiểu kết chương 3 121
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 127 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
CHỮ VIẾT TẮT
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
1
5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tổ chức ban quản lý tháp Po Klong Garai 78
Bảng 2.2: Bảng thống kê lượng khách và doanh thu hàng năm tại khu di tích tháp Po
Klong Garai 84
Bảng 2.3: Bảng thống kê lượng khách du lịch đến tham dự lễ hội Kate của người Chăm
ở tỉnh Ninh Thuận (ước lượng một số năm) 85 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Hiện trạng lượng khách du lịch đến các tỉnh vùng Duyên hải Nam
Trung Bộ năm 2011 71
Biểu đồ 2: Hiện trạng thu nhập du lịch các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ 71
Biểu đồ 3: Hiện trạng lượng khách du lịch đến Ninh Thuận giai đoạn
2005 - 2011 82
Biểu đồ 4: Hiện trạng lượng khách du lịch quốc tế đến Ninh Thuận từ 2005 –
2011 82
Biểu đồ 5:Hiện trạng lượng khách du lịch nội địa đến Ninh Thuận từ 2005 –
2011 83
khẳng định là một ngành kinh tế mũi nhọn và sẽ là ngành kinh tế trọng điểm trong
thời gian tới.
Vì vậy trong thời gian tới du lịch văn hóa sẽ là loại hình du lịch phổ biến đối
với du khách quốc tế và nội địa. Cho nên việc xây dựng những tuyến, tour du lịch
văn hóa tìm hiểu văn hoá của các tộc người một cách hoàn chỉnh. Cũng như hoàn
chỉnh những nguồn tài liệu về các điểm du lịch văn hóa của các tộc người, đặc biệt
là đối với những điểm tham quan du lịch mang tính đặc thù, là một việc làm cần
7
kíp. Để từ đó tạo nên cơ sở đầy đủ về nguồn thông tin góp phần phát triển du lịch và
truyền bá nền văn hoá nước nhà ra thế giới.
Hiện nay, hoạt động tham quan hướng dẫn du lịch tại các điểm du lịch văn
hoá Chăm tại Ninh Thuận đối với người làm du lịch và với du khách cho đến nay
vẫn trong tình trạng chưa hiểu rõ hoặc có biết nhưng chưa tường tận và sâu sắc về
những nội dung, các khía cạnh truyền tải… Đối với văn hoá mang tính đặc thù như
văn hoá Chăm thì trong hệ thống các chương trình du lịch, khung tổ chức tham
quan, hướng dẫn chưa được xem xét, xây dựng một cách có hệ thống.
Người Chăm ở Việt Nam là dân tộc bản địa, sinh sống lâu đời trên dải đất
miền Trung Việt Nam, có mối giao lưu rộng rãi đa chiều với nhiều thành phần cư
dân vùng lục địa và hải đảo Đông Nam Á. Đặc biệt nền văn hoá Sa Huỳnh, cách
ngày nay 2500 năm được xem là tiền thân của nền văn hoá Champa với những di
tích dọc các tỉnh duyên hải miền Trung từ Quảng Bình đến Đồng Nai. Các thế hệ
người Chăm đã để lại những đền tháp uy nghi, những bi kí, những làng nghề thủ
công truyền thống, những lễ hội, điệu múa quạt uyển chuyển, duyên dáng như
những vũ công bước ra từ những phù điêu trên tháp cổ, dẫu cho có mất đến hàng
trăm năm tuổi cho đến nay vẫn còn quyến rũ, say đắm lòng người. Tìm hiểu về văn
hoá Chăm tại Ninh Thuận, chúng tôi muốn làm sáng tỏ hơn về vùng đất, con người
nơi đây nhằm phục vụ phát triển du lịch cũng là vấn đề có ý nghĩa vô cùng to lớn
đối với người làm du lịch và truyền bá văn hoá Chăm một cách chính xác đến cho
du khách. Góp phần hoàn chỉnh công tác tổ chức cho hoạt động du lịch mà đặc biệt
của các tác giả người pháp như E.Aymorier (1980), M.Durand (1903), L.Finot
(1901), ACabaton (1901)… và của người Ấn Độ đã được hoàn thành và công bố.
Trong đó tác phẩm tiêu biểu nhất là Le Royaume de Champa "Vương quốc Chàm”
(Pari, 1928) của E.Maspero, được coi là một trong những tác phẩm bao quát nhất,
phản ánh khá rõ nét vào toàn diện về sinh hoạt văn hóa cũng như tín ngưỡi của
người Chăm. Đây là công trình có sự đầu tư rất kỹ càng nên rất có giá trị trong việc
nghiên cứu văn hoá Chăm sau này.
Sau năm 1975, các học giả Việt Nam đã xuất bản nhiều công trình về người
Chăm như Nguyễn Khắc Ngữ (1967) với công trình “Mẫu hệ Chàm”, Nguyễn Văn
Luận (1968 – 1974) là một trong những người đi đầu tập trung nghiên cứu về các
9
nghi thức và tín ngưỡng người Chăm Bà La Môn ở Ninh Thuận - Bình Thuận và lễ
nghi tín ngưỡng của người Chăm Hồi Giáo ở Nam Bộ, Dohamide (1963) “Vài nhận
xét về người Chàm tại Việt Nam ngày nay” đăng trong tạp chí Bách khoa, Sài Gòn,
”Những hiện tượng huyền bí trong tập tục Chàm” (tạp chí Bách khoa, Sài Gòn,
1974), Dohamide và Dorohiêm (1965) cho xuất bản cuốn ”Dân tộc Chàm lược sử”
(Sài Gòn, 1965), Phan Lạc Tuyên (1974), đã bảo vệ luận án tiến sĩ về “Việt Nam và
Champa, sự phát triển lịch sử của mối tương quan giữa hai nền văn minh” tại Ba
Lan …
Bên cạnh đó, văn hóa của cộng đồng người Chăm tại Ninh Thuận là nền tảng
đóng góp vào các công trình nghiên cứu, luận án, bài viết như “Nghề thủ công cổ
truyền của người Chăm ở Việt Nam” (TP.HCM, 1997) – luận án Phó tiến sĩ của Võ
Công Nguyên, “Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam” (TP.HCM, 1993) – luận án
Phó tiến sĩ của Phan Văn Dốp… Đồng thời, những công trình, bài viết đã được xuất
bản và đăng tải trên nhiều sách báo, tạp chí khoa học (Dân tộc học, Khảo cổ học…)
như “Người Chăm Thuận Hải” (Thuận Hải, 1989) của Sở văn hóa – thông tin tỉnh
Thuận Hải, “Lễ hội Rij Nưgar của người Chăm” (Hà Nội, 1998) của tác giả Ngô
Văn Doanh, “Lễ hội người Chăm” (Hà Nội, 2003) của Sakaya, đặc biệt “Lễ hội
Kate Chăm 2000” (Ninh Thuân, 2000) do Sở Thương Mại và Du Lịch Ninh Thuận
Chăm. Có những nghiên cứu đi sâu về tín ngưỡng, nhà cữa của người chăm, có
những hướng nghiên cứu về văn hoá lễ hội… Nhưng đến nay chưa có nhiều nghiên
cứu nhìn nhận dưới góc độ vận dụng những giá trị văn hoá, tín ngưỡng người Chăm
vào phục vụ du lịch, hay những hoạt động du lịch đã và đang diễn ra như thế nào tại
những vùng, điểm di tích văn hoá chăm tại Ninh Thuận. Vì thế tôi chọn đề tài luận
văn là “Tổ chức hoạt động tham quan - hướng dẫn tại các điểm du lịch văn hóa
Chăm, Ninh Thuận. Nghiên cứu trường hợp tháp Po Klong Garai, làng dệt thổ cẩm
truyền thống Chăm Mỹ Nghiệp, làng gốm Bàu Trúc”. Để từ đó có thể phát huy
được những giá trị độc đáo trong văn hoá Chăm tại Ninh Thuận.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề tổ chức, hoạt động tham quan hướng dẫn khách du lịch tại các điểm
du lịch văn hoá Chăm, mà điển hình trong luận văn là tại các điểm: tháp Po Klong
Garai, làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống Chăm Mỹ Nghiệp, làng gốm Bàu Trúc.
11
Những giá trị văn hoá tại các điểm du lịch văn hóa người chăm Ninh Thuận:
nội dung, kiến trúc nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng…. phục vụ cho hoạt động tham
quan – hướng dẫn du lịch.
- Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Hoạt động tham quan, hướng dẫn dựa trên những giá
trị văn hóa: nghệ thuật, tâm linh, lễ hội, kiến trúc… tại các điểm du lịch văn hóa của
người Chăm Ninh Thuận.
Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trường hợp tại các
điểm du lịch văn hóa Chăm tại tỉnh Ninh Thuận: tháp Po Klong Garai, làng dệt thổ
cẩm truyền thống Chăm Mỹ Nghiệp, làng gốm Bàu Trúc.
Phạm vi về thời gian: Những số liệu được sử dụng trong luận văn được thu
thập từ nhiều nguồn thông tin khác nhau từ những thời gian trước tới năm 2013.
Luận văn được thực hiện trong thời gian từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 10 năm
2014.
Phương pháp điền dã: Bên cạnh sử dụng những phương pháp nghiên cứu
mang tính lí luận, thì một nghiên cứu khoa học không thể không thực hiện công tác
nắm bắt trực tiếp đối tượng. Để có thể thực hiện nhiệm vụ này, phương pháp điền
dã phát huy được những ưu điểm của mình. Phương pháp nghiên cứu này được tác
giả sử dụng chủ yếu trong nội dung phần chương 2 và chương 3.
Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp Phương pháp điều tra xã hội
học là một trong nhiều phương pháp có thể giải quyết một phần vấn đề này trong
nghiên cứu. Với những định lượng được đưa ra trên cơ sở tổng hợp những thông
tin, ý kiến về những nội dung mang tính định tính, thì việc có thể đưa ra những con
số (định lượng hóa) như vậy cũng phần nào tạo được tính hình, tính số cho những
nhận định không thể định lượng được. Đồng thời tùy vào nội dung của câu hỏi điều
tra mà người nghiên cứu có được những thông tin quý giá phản ánh tính khách quan
những thực tế cần minh chứng, làm rõ trong những vấn đề được đưa ra bàn luận về
đối tượng.
- Nhóm phương pháp tiếp cận
Phương pháp khảo tả: Là phương pháp khảo sát và mô tả lại những đối
tượng trong quá trình nghiên cứu. Những đối tượng nghiên cứu ở trạng thái có thể
là tĩnh hoặc động, có thể đo, đếm, hoặc có thể định lượng được bằng nhiều cách
13
thức khác nhau. Từ việc khảo sát toàn bộ hoặc một phần đối tượng tùy theo mục
đích mà người nghiên cứu lưu lại thông tin và mô tả lại bằng nhiều cách thức khác
nhau. Mục đích của phương pháp này là phản ánh một cách đầy đủ nhất về đối
tượng và những mối liên hệ của chúng trong phạm vi nghiên cứu đã được định vị.
Phương pháp miêu thuật: Phương pháp miêu thuật đáp ứng được trong việc
phản ánh lại một cách chân thực nhất đối tượng là những sự việc, hiện tượng đã
được người nghiên cứu hướng tới. Phương pháp miêu thuật chính là sự miêu tả lại
đối tượng, thuật lại những nội dung hay nói cách khác là sự tái hiện lại những sự
vật, hiện tượng, trạng thái của hoạt động…một cách chi tiết trong đó thể hiện được
sự trải nghiệm, nhập thế của tác giả trong quá trình nghiên cứu.
- Góp phần nâng cao chất lượng các tour du lịch có điểm tham quan liên
quan tới các điểm du lich văn hoá Chăm. Từ đó hoàn thiện công tác tổ chức các tour
du lịch tới điểm tham quan có tính đặc thù này.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phần phụ
lục, phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động tham quan hướng dẫn
Chương 2. Thực trạng tổ chức hoạt động tham quan hướng dẫn khách du lịch tại
các điểm du lịch văn hóa Chăm Ninh Thuận
Chương 3. Những giải pháp nâng cao tổ chức hoạt động tham quan – hướng dẫn
khách du lịch tại các điểm du lịch văn hóa Chăm Ninh Thuận.
15
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THAM
QUAN HƢỚNG DẪN
1.1. Lý luận về tổ chức
1.1.1. Khái niệm
Khái niệm “tổ chức”, đây không phải là một khái niệm mới trong nghiên cứu
khoa học. Tuy nhiên, đối với khoa học du lịch và với vấn đề mà luận văn tập trung
nghiên cứu thì cần phải có cách nhìn nhận đúng hướng với khái niệm này. Qua thu
thập và nghiên cứu các quan niệm gần trong khoa học du lịch. Trên cơ sở dung
phương pháp nghiên cứu liên ngành là khoa học quản lý.
Khái niệm “tổ chức” thường được nhắc tới trong quản lý cùng với ý nghĩa
thông thường “tổ chức” là một khái niệm dùng để chỉ một đơn vị trong xã hội: hành
chính sự nghiệp, đơn vị kinh doanh, cơ quan, trường học…là những kết cấu phân
cấp của xã hội trong đó các thành viên bắt buộc phải có những hoạt động hợp tác,
sự tương tác với nhau.
Đứng trên phương diện quản lý học và đi sâu vào chức năng, thì tổ chức để
quan tới ngành dịch vụ du lịch. “Tổ chức” với nghĩa thứ hai được sử dụng như là
một quá trình sắp xếp và thực hiện các hoạt động như: ăn, lưu trú, tham quan,
hướng dẫn… mà những vấn đề này là những hợp phần tạo nên hoạt động du lịch
trong cả nước.
Với đề tài “Tổ chức hoạt động tham quan – hướng dẫn tại các điểm du lịch
văn hóa Chăm, Ninh Thuận. Nghiên cứu trường hợp tháp Po Klong Garai, làng dệt
thổ cẩm truyền thống Chăm Mỹ Nghiệp, làng gốm Bàu Trúc” thì khái niệm về “tổ
chức” theo nghĩa thứ hai phản ánh đúng hướng và sát với nội dung của đề tài.
1.1.2. Nguyên tắc của vấn đề tổ chức
1.1.2.1. Nguyên tắc mục tiêu nhất quán
Qua quá trình tổ chức thực hiện một công việc mà mục tiêu đã được đưa ra
thì sự phân định và liệt kê toàn bộ công việc cần thiết phải tuân thủ theo nguyên tắc
nhất quán giữa công việc và mục tiêu. Những công việc được đưa ra phải hỗ trợ và
nhằm kết quả là việc hoàn thành mục tiêu mà thực hiện. Đối với những phần việc
không hoặc ít liên quan tới mục tiêu cần loại bỏ hoặc giảm thiểu tới mức tối đa.
17
Trong hoạt động du lịch nói chung và hoạt động tham quan, hướng dẫn
khách du lịch nói riêng các tổ chức du lịch, công ty du lịch, khách du lịch và những
người có liên quan cần phải thực hiện đến mức cao nhất nguyên tắc nhất quán trong
mục tiêu đạt tới, từ đó mới tạo được sự chuyên nghiệp trong toàn bộ chương trình
du lịch.
1.1.2.2. Nguyên tắc hiệu quả
Trong quá trình thực hiện bất kì một công việc, nhiệm vụ nào thì vấn đề hiệu
quả sau quá trình làm việc được đặt lên hàng đầu. Để có thể đạt được mục tiêu được
đưa ra có nhiều cách thực hiện khác nhau, song quá trình thực hiện công việc để đạt
đến mục tiêu đó một cách tối ưu nhất mới được coi là hiệu quả. Nguyên tắc hiệu
quả chính là cơ sở cho sự sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
1.1.3. Những yếu tố tác động đến vấn đề tổ chức
1.1.3.1. Nguồn lực trong công tác tổ chức
1.1.4. Nội dung của công tác tổ chức
1.1.4.1. Xây dựng và đưa ra một lịch trình thực hiện cụ thể
Tính hiệu quả, sự hoàn thành nhiệm vụ là mục tiêu của một hoạt động, công
việc. Để đạt được mục tiêu chủ thể thực hiện cần lập nên một lịch trình thực hiện các
hoạt động, nhằm xử lý từng bước những vấn đề gặp phải trên lộ trình tới mục tiêu.
Một lịch trình làm việc phải được liệt kê cụ thể các vấn đề về: thời gian, địa
điểm, nhân lực thực hiện, cơ sở cho việc thực hiện Dựa vào những thông tin đã
được định hình rõ, việc thực hiện các hoạt động sẽ tạo nên tính logic, khoa học.
1.1.4.2. Xác định các lưu ý trong quá trình thực hiện
Trong quá trình thực hiện các hoạt động, công việc, vấn đề tổ chức cũng đã
lường trước những yếu tố cần tránh, yếu tố phải thực hiện đúng hướng và đầy đủ,
hoặc những yếu tố có thể là tác động ngoại cảnh đến quá trình thực hiện. Xác định,
nắm bắt được đầy đủ và chi tiết những yếu tố này sẽ tạo cho việc thực hiện đúng
hướng, không có nhiều trở ngại.
1.1.4.3. Công tác chuẩn bị
Trong công tác tổ chức, sự chuẩn bị về toàn bộ các mặt tác động đến quá
trình diễn ra các hoạt động hướng tới mục tiêu được hoạch định. Thông thường là
19
sự xác định các yếu tố: về nguồn nhân lực - là các chủ thể thực hiện, yếu tố hỗ trợ
trong quá trình thực hiện, thời gian và không gian, đối tượng tác động chính trong
toàn bộ quá trình diễn ra nhiệm vụ.
1.1.4.4. Xác định nội dung trong quá trình thực hiện
Các yếu tố trên đây chỉ là những phần khung cho quá trình thực hiện một
hoạt động, công việc nhất định. Xác định và đưa ra được các nội dung, gọi tên được
các công việc, phần việc cần phải thực hiện là vấn đề chính của công tác tổ chức.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, dựa vào các nội dung đã được xác định theo
một trình tự sắp xếp giúp cho chủ thể thực hiện đầy đủ và đúng định hướng đạt tới
hiệu quả khi kết thúc công việc.
1.2. Quan niệm về khách du lịch
hình, hữu hình, sử dụng dịch vụ tại điểm tham quan, đồng thời trong quá trình tham
quan có sự hỗ trợ của HDV tuyến, HDV tại điểm… những người có liên quan trong
hoạt động hướng dẫn tham quan tại điểm di tích, mà cụ thể trong nghiên cứu này là
tại các du lịch văn hoá Chăm.
1.3. Tổ chức hoạt động tham quan du lịch
1.3.1. Khái niệm
Hiện nay, có một số quan điểm khác nhau về khái niệm tham quan du lịch.
“Tham quan du lịch là hoạt động của khách du lịch đến những điểm tham quan
được xác định dưới sự hướng dẫn của người có nghiệp vụ và trình độ chuyên môn
nhằm tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu nhất định trong chương trình du lịch của mình
khi trực tiếp quan sát đối tượng tham quan và nghe thuyết minh” [17, tr. 122].
Trong mục 5 trong điều 4 về giải thích từ ngữ dùng trong Luật du lịch của
nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 44/2005/QH 11 ngày 14 tháng 6
năm 2005 có quy định: “Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới
thăm nơi có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của
tài nguyên du lịch”. [18, tr. 2]
Những quan niệm trên, chúng ta thấy rằng một chương trình tham quan du
lịch cần có căn cứ về mặt thời gian, đây là hoạt động diễn ra trong một khoảng thời
gian nhất định thường là trong ngày. Điều này phân biệt với một tour, hay một
chương trình du lịch.
21
Trong các giai đoạn thực hiện một chương trình du lịch (giai đoạn 1: thỏa
thuận với khách; giai đoạn 2: chuẩn bị thực hiện; giai đoạn 3: thực hiện chương
trình du lịch; giai đoạn 4: những công việc sau kết thúc chương trình) [40, tr. 28,
29], hoạt động tham quan thuộc giai đoạn 3. Trong luận văn này tác giả sử dụng
hoạt động tham quan du lịch là một hình thức hoạt động của du khách được diễn ra
trong thời gian ngắn thông thường là trong ngày, dưới sự hỗ trợ của HDV và những
người có liên quan tại điểm tham quan, giúp du khách cảm nhận những giá trị, thỏa
mãn nhu cầu tại điểm tham quan, đối tượng tham quan.
chuyên đề nhất định lại phổ biến hơn. Thông qua chuyến tham quan du khách có thể
chiêm nghiệm, cảm nhậnđược những điều mà họ quan tâm. Căn cứ vào mục đích
của khách trong chuyến tham quan du lịch, công tác tổ chức tham quan dựa vào đó
mà có thể đưa ra những khung chương trình tham quan cho phù hợp với từng đối
tượng khách. Cùng một đối tượng tham quan, điểm tham quan việc tổ chức một
chương trình tham quan với du khách có mục đích là học tập nghiên cứu, sẽ khác rất
nhiều so với khách có mục đích tham quan thông thường.
1.3.2.3. Cơ cấu và thành phần của khách du lịch
Mỗi một vị khách du lịch khi tham gia một chuyến tham quan đều có những
mục đích chung hoặc riêng. Nhưng dựa vào giới tính, độ tuổi, công việc của khách
du lịch mà các nhà tổ chức du lịch có thể nhận biết được những đặc điểm khá đồng
nhất, nổi trội của từng đối tượng khách này thông qua những nghiên cứu xã hội học
và khoa học du lịch. Từ những căn cứ đó mà loại hình tham quan du lịch với từng
du khách cũng có những sự khác nhau nhất định. Yếu tố cơ cấu và thành phần của
khách du lịch đã chi phối đến công tác tổ chức hoạt động tham quan. Không thể
thiết kế, tổ chức một cách thông thường cho một chuyến tham quan leo núi cho đối
tượng khách là các du khách lớn tuổi, hay thiết kế một chuyến tham quan lặn biển
cho các em học sinh.
1.3.2.4. Loại hình tham quan du lịch
Trong quá trình thiết kế tour, chương trình tham quan du lịch các nhà tổ chức
phải dựa vào nhu cầu của khách để thiết kế những tour theo yêu cầu. Với những
tour du lịch được thiết kế theo dạng định sẵn, hoặc có thể thay đổi lịch trình, điểm
tham quan, dịch vụ…thì cần căn cứ vào nhiều yếu tố như: đối tượng khách, mục
23
đích của khách khi mua tour du lịch. Đối với những tour du lịch này sắp xếp lịch
trình sao cho phù hợp trong quá trình khách tham gia tour du lịch, đi tham quan, sử
dụng dịch vụ là một điều vô cùng quan trọng. Bởi một chương trình du lịch, chương
trình tham quan được tổ chức sát với đối tượng khách, thực tế khách mong muốn thì
mới tạo nên những ấn tượng tốt cho khách. Về phương diện những người phục vụ,