BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
XW
Huỳnh Thị Tam Thanh
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH BỔ TÚC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 62.14.05.01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Nhà nước họp tạ
i:
vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Đại học Quốc gia;
Đại học Sư phạm Hà Nội.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Huỳnh Thị Tam Thanh (2003), Một số biện pháp quản lý tăng cường công tác
hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc trung học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Tạp
chí Phát triển giáo dục, số 7 – tháng 7/2003
2. Huỳnh Thị Tam Thanh (2003), Xã hội hoá công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ
thông bậc trung học tại các trung tâm GDTX trên địa bàn thành phố Đà N
ẵng, Nội san Quản
lý giáo dục của trường Cán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo II, số 1 – 2003
3. Huỳnh Thị Tam Thanh (2007), Vấn đề Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Bổ túc
THPT ở Thành phố Đà Nẵng, Tạp chí Giáo dục số 165, Tháng 6/2007
4. Huỳnh Thị Tam Thanh (2007), Giáo dục hướng nghiệp theo quan điểm phát triển
nguồn nhân lực, Tạp chí Giáo dục số 175, tháng 10/2007
5. Huỳnh Thị
Tam Thanh (2008), Kết hợp nội dung giáo dục phổ thông với nội dung
giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trong việc hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ
GDTX xuyên theo định hướng phát triển nhân lực nhằm đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN, giúp cho học sinh
định hướng nghề nghiệp và tham gia các lo
ại hình đào tạo nghề phù hợp.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động GDHN cho học sinh BTTHPT tại trung tâm giáo dục thường xuyên.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh BTTHPT.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông có nhiều hạn chế, bất cập, tỉ lệ
học
sinh được tham gia và hiệu quả của các hoạt động giáo dục hướng nghiệp thấp, chưa theo đúng định hướng phát triển nhân lực
của từng địa phương và cả nước.
Nếu vận dụng quan điểm giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời để đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục
hướng nghiệp phù hợp với đối t
ượng học sinh bổ túc trung học phổ thông thì sẽ giúp cho các em học sinh của hệ giáo dục
không chính quy được định hướng nghề nghiệp,
có cơ hội đào tạo nghề và tham gia cuộc sống lao động nghề nghiệp tốt hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh BTTHPT theo định hướng phát triển nhân
lực.
5.2. Khảo sát và đánh giá hiện trạng tổ chức hoạt động GDHN tại các trung tâm GDTX; lý giải nguyên nhân của hiện
trạng.
5.3. Đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh BTTHPT tại các trung tâm GDTX. Thử nghiệm một số
nội dung của các biện pháp do luận án
đề xuất.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động GDHN cho học sinh BTTHPT trên cơ sở những số liệu chung về GDTX trên toàn quốc và nghiên
cứu thực trạng tại các trung tâm GDTX trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
7. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp tiếp cận: tiếp cận hệ thống và tiếp cận phức hợp
sinh BTTHPT (thuộc hệ giáo dục không chính quy). Những biện pháp tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh đối tượng này
được khẳng định qua việc thử nghiệm các kết quả nghiên cứu của luận án.
- Kết quả nghiên c
ứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý, cán bộ,
giáo viên tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cũng như cha mẹ và bản thân học sinh bổ túc trung học phổ thông.
2
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH BỔ TÚC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ngoài nước
Vấn đề GDHN đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ những năm giữa thế kỷ XIX. Qua nghiên cứu, có thể
thấy rằng:
(1) GD kỹ thu
ật nghề nghiệp và GDHN cho HSPT là xu thế chung được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Dạy nghề bao
gồm cả giai đoạn "Tiền nghề nghiệp" ở trường PT và GD lao động gắn liền với GD công nghệ và HN theo tinh thần GDKT-TH.
(2) Một số nước đã nghiên cứu đưa chương trình GD nghề nghiệp triển khai song song với chương trình GD phổ thông để
góp phần phân luồng HS, kết hợp việc học nghề ngay trong chương trình PT sau khi đã th
ực hiện phân loại HS và định hướng
cho các em lựa chọn
nghề nghiệp.
(3) UNESCO đã quan tâm đến việc tạo cơ hội học tập cho những đối tượng ít có điều kiện tham gia các hệ đào tạo chính
quy, nêu rõ tầm quan trọng của các mục tiêu “học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống cùng nhau”.
Đồng thời, khẳng định sự tất yếu củ
a xu thế “học thường xuyên, học suốt đời và xây dựng một xã hội học tập” sẽ tạo điều kiện
Bộ cho đến cấp cơ sở quan tâm đến GDHN cho HS BTTHPT. Đây là m
ột vấn đề cần được giải quyết.
1.2. Một số khái niệm công cụ
1.2.1. Tổ chức hoạt động giáo dục
1.2.1.1. Tổ chức
Khái niệm tổ chức được xem như là một hoạt động được hiểu ở hai khía cạnh:
+ Về mặt xây dựng cơ cấu tổ chức: tổng hợp các bộ phận (đơn vị, cá nhân) khác nhau, có mối quan hệ với nhau, được
chuyên môn hoá và có nhữ
ng trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau, nhằm đảm
bảo thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ mục đích chung xác định của hệ thống.
+ Về mặt vận hành hoạt động của các thành viên trong tổ chức: triển khai các hoạt động để đạt đến mục tiêu của tổ chức.
Hay nói cách khác, xác định cấu trúc hợp lý các thành tố củ
a hoạt động và triển khai các giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả
của hoạt động đó.
1.2.1.2. Tổ chức hoạt động giáo dục
- Tổ chức hoạt động giáo dục có thể được hiểu là sự xác định cấu trúc hợp lý các thành tố của hoạt động giáo dục, bao
gồm: (1) xác định cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành và triển khai hoạt động giáo dục; (2) xác định m
ục tiêu, nội dung của hoạt
động, cách thức tổ chức thực hiện hoạt động và sự vận hành của các thành tố tham gia vào hoạt động giáo dục đó nhằm đạt
được mục tiêu GD.
- Tổ chức hoạt động GD trong nhà trường bao gồm các nội dung:
+Xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý cho hoạt động giáo dục: xây dựng bộ máy điều hành, thực thi các nội dung hoạt động,
tạo m
ột mạng lưới các quan hệ tổ chức giữa những người trong hệ quản lý và hệ được quản lý. Tuyển lựa, sắp xếp, bồi dưỡng,
đào tạo cán bộ trong hệ quản lý và trong hệ được quản lý.
+ Tổ chức thực hiện các tác động quản lý để triển khai hoạt động, bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ
đạo, ki
ểm tra và tổng kết, điều chỉnh. Việc lập kế hoạch cho hoạt động GD sẽ xác định mục tiêu và hoạt động cần đạt tới, các
nội dung và cách thức thực hiện và các phương tiện, điều kiện đảm bảo cho quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra đạt kết quả.
Ở mỗi khâu của hoạt động quản lý đều có sự tham gia của việc kiểm tra, đánh giá
t thứ hai là là hoạt động của tự thân HS, dựa trên cơ sở những điều đã biết, tự điều chỉnh việc chọn nghề của bản
thân một cách phù hợp.
c, Góp phần vào việc lựa chọn nghề nghiệp khi HS ra trường: quá trình tìm hiểu, đối chiếu giữa đặc điểm về thể chất và
tâm lý của cá nhân với những yêu cầu của hoạ
t động lao động xã hội, tìm ra cho mình con đường để đạt được ước mơ nghề
nghiệp, giải quyết mối quan hệ: xã hội - nghề nghiệp - cá nhân.
1.2.2.4. Nhiệm vụ của hoạt động GDHN trong trường phổ thông
- Hình thành ở HS những biểu tượng đúng đắn về những nghề cần phát triển, giúp cho các em được làm quen với những
nghề cơ bản trong xã hội, những nghề có vị trí then chố
t trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ngay ở
địa phương mình.
- Phát hiện, hướng dẫn và phát triển hứng thú nghề nghiệp của các em.
- Tạo điều kiện để HS hình thành năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã có thông qua hoạt động LĐSX kết hợp
với dạy nghề.
1.2.2.5. Các hình thức tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh bao g
ồm:
* Giáo dục hướng nghiệp qua việc dạy và học các môn văn hoá
* Giáo dục hướng nghiệp qua dạy và học môn công nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất
* Giáo dục hướng nghiệp qua việc tổ chức hoạt động hướng nghiệp
* Giáo dục hướng nghiệp qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
GDHN vừa là một hoạt động cụ thể, riêng rẽ vừa là m
ột nội dung được tích hợp trong tất cả các hoạt động giáo dục của
nhà trường, vì thế có nhiều hình thức khác nhau để triển khai HĐGDHN và là một hoạt động trong tổng thể các hoạt động của
quá trình giáo dục, có sự tác động của cả ba môi trường (gia đình - nhà trường - xã hội). 1.2.2.6. Cơ cấu bộ máy tổ chức hoạt động GDHN ở trường phổ thông
trườn
g
học
Y tế
trường
học
Các đơn vị
ngoài nhà
trường
Hiệu trưởng, các
Phó Hiệu trưởng
Phòng, ban
GDHN
4
1.2.3. Giáo dục hướng nghiệp với phát triển nhân lực
1.2.3.1. Khái niệm “nhân lực” (Manpower)
Có thể hiểu: NL là một phần trong tổng thể các nguồn lực đảm bảo cho sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Nói đến
NL là nói đến con người với những khả năng được thể hiện trong trình lao động, sản xuất để trực tiếp hoặc gián tiếp làm ra của
cải cho xã hội. Đối với HSPT, các em chính là những giá trị tiềm ẩn, những giá trị về đạo đức, trí tuệ, thẩ
m mỹ, sức khoẻ, kỹ
năng lao động nghề nghiệp để trở thành NL (lực lượng lao động), sẽ đóng góp tích cực vào phát triển KT - XH của địa phương
và của đất nước.
1.2.3.2. Khái niệm "Phát triển nhân lực" (Manpower Development)
Xem xét ở góc độ sự tác động của các hoạt động GD trong nhà trường PT đến NL, có thể hiểu khái niệm "phát triển NL" là
quá trình làm gia tăng tỉ lệ người có kỹ năng lao động nghề
nghiệp trong tổng số người trong độ tuổi lao động, tăng tỉ lệ người
lao động có chuyên môn cao trong các lĩnh vực thiết yếu và tăng tỉ lệ người lao động có được việc làm phù hợp với khả năng,
nguyện vọng của mình để có thể tạo ra năng suất lao động cao nhất trong quá trình tham gia lao động sản xuất xã hội.
t động GDHN gắn với đào tạo
nghề, tạo điều kiện để các học sinh BT THPT đang học tại trung tâm được tham gia các hình thức GDHN phù hợp với những
nội dung phong phú. Bên cạnh việc tổ chức các lớp bổ túc văn hoá, các TTGDTX còn tổ chức các lớp dạy nghề ở các cấp độ và
liên kết đào tạo với các trường dạy nghề, trường TCCN và các cơ sở GD khác. Đây là điề
u kiện thuận lợi để kết hợp giữa hai
hoạt động GD này phục vụ mục đích GDHN.
1.3.3. Đặc điểm học sinh BTTHPT và yêu cầu về GDHN
1.3.3.1. Đặc điểm học sinh BTTHPT
HS BTTHPT có những đặc điểm tâm lý và nhân cách chung của lứa tuổi, đồng thời, có những nét riêng do ảnh hưởng của
điều kiện, hoàn cảnh và môi trường tác động: thường có tâm lý tự ti, ít cố gắng và khá nhạy cả
m; ít có thể phát triển học văn
hóa lên cao nhưng lại có ưu điểm hơn khi rẽ sang học nghề; cơ hội vào các trường cao đẳng, đại học là vô cùng khó khăn. Việc
trang bị cho các em những kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng lao động nghề nghiệp để nhanh chóng đi vào thế giới nghề nghiệp là một
việc làm cần thiết. Sau khi tốt nghiệp ra trường, các em có thể bắt tay ngay vào cuộc số
ng lao động hoặc tiếp tục học lên để đạt
được trình độ nghề nghiệp cao hơn.
1.3.3.2. Yêu cầu về GDHN cho HS BTTHPT
HS BTTHPT không có điều kiện tham gia GDHN qua việc học tập các môn kỹ thuật; cơ hội để HS các trung tâm GDTX
tham gia vào các hoạt động ngoại khoá có nội dung GDHN hầu như không có (Bộ GD&ĐT chưa có một quy định cụ thể nào về
GDHN cho HS BTTHPT). Vì vậy, GDHN cho HS BTTHPT phải được nhìn nhận ở một góc độ khác, theo định hướng
đáp ứng
yêu cầu lực lượng lao động có tay nghề và theo hướng đào tạo liên thông để người học tiếp tục được phát triển theo quan điểm
GDTX và học tập suốt đời.
1.3.4. Tổ chức GDHN cho HS BTTHPT tại trung tâm GDTX theo định hướng phát triển nhân lực
1.3.4.1. Cấu trúc chung
Tổ chức hoạt động GDHN cho HS BT THPT là các tác động quản lý đối với một hoạt động giáo dục cụ thể - hoạt động
GDHN. Mụ
c tiêu GDHN phải hướng tới là sự phù hợp giữa định hướng chọn nghề của HS và những yêu cầu về nhân lực tại
chỗ của địa phương, trong đó, mục tiêu chuẩn bị một lực lượng lao động trẻ, có tay nghề, sẵn sàng tham gia ở những lĩnh vực
ngành nghề mà địa phương cần nhân lực được ưu tiên đặt lên hàng đầu. Nội dung GDHN luôn được cập nhật những yêu c
TH
PT
Điều
kiện
TT GD
TX
6
1.3.4.2. Xác định mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh BTTHPT.
* Mục tiêu GDHN cho học sinh BTTHPT
GDHN cho HS BTTHPT nhằm tạo ra nhiều hướng phân luồng HS sau khi tốt nghiệp ra trường, hạn chế thấp nhất tỉ lệ HS
hoàn thành chương trình BTTHPT mà không được tham gia thị trường lao động hoặc tham gia thị trường lao động mà không
được qua đào tạo; hướng một bộ phận (phân luồng) HS BTTHPT vào hệ thống các trường TCCN, dạy nghề ở các
địa phương,
khuyến khích HS tham gia vào các lĩnh vực lao động nhằm phát triển các nghề thủ công, các ngành nghề truyền thống của địa
phương (không đòi hỏi cao về trình độ học vấn nhưng yêu cầu cao về tay nghề). Đồng thời, đảm bảo tính liên thông giữa các
hoạt động GDHN và đào tạo nghề, sử dụng hợp lý nhất, rút ngắn thời gian đào tạo nhưng vẫn mở ra khả năng h
ọc tập tiếp tục
và tạo nhiều cơ hội học tập, việc làm cho HS.
* Nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh BTTHPT
- GDHN phải kết hợp được các nội dung hướng học và làm cho các em có ý thức chuẩn bị về trí lực, tâm lực cho việc bước
vào thế giới nghề nghiệp.
- Hình thành ở HS những biểu tượng đúng đắn về nghề, thực chất là điều chỉnh thái
độ của các em đối với các nghề trong
xã hội.
- Giúp làm bộc lộ ở HS năng lực, sở trường, thiên hướng nghề nghiệp của các em.
- Hỗ trợ HS trong việc tự hướng nghiệp (chọn nghề)
- Tạo điều kiện để HS có thể tiếp cận với các loại hình đào tạo nghề để có thể tham gia lao động nghề nghiệp ngay sau khi
tốt nghiệp ra trường.
2.2. Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc THPT tại các trung
tâm Giáo dục thường xuyên
2.2.1. Thống kê về quy mô phát triển các TTGDTX, quy mô HS và k
ết quả học tập của HS bổ túc THPT
Mạng lưới các TTGDTX trên cả nước ngày một phát triển: đến nay, 61/64 tỉnh, thành phố có TTGDTX cấp tỉnh, hầu hết
các quận, huyện của các tỉnh, thành phố lớn đều có TTGDTX cấp quận, huyện (663 trung tâm/64 tỉnh, thành phố). Số lượng HS
theo học BTTHPT cũng tăng dần và đến nay chiếm một tỉ lệ khá ổn định trong tổng số HS theo học THPT (khoảng 11%).
Hệ
thống TTGDTX trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng được quan tâm đầu tư và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân được học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập. Các TTGDTX đã thu hút một lượng không nhỏ HS không đủ điều
kiện vào học các lớp THPT chính quy tham gia các lớp BTTHPT (khoảng 13% tổng số HS THPT hàng năm).
Trong số HS BTTHPT, những em chỉ tham gia học tập đơn thuần (chư
a tham gia lao động nghề nghiệp) chiếm tỉ lệ khá
lớn, ổn định ở mức trên 97% trong những năm từ 2004-2007. Đây là những HS vừa tốt nghiệp THCS hoặc BTTHCS nhưng
không có điều kiện để vào học các trường THPT công lập (do không đạt yêu cầu về kiến thức) hoặc tư thục (do không đảm bảo
điều kiện kinh tế).
Mặc dù số lượng HS BTTHPT đã tăng rất nhanh trong 5 nă
m gần đây (112%) nhưng tỉ lệ HS BTTHPT có học lực khá,
giỏi rất thấp (học lực giỏi không tới 1%, học lực khá chỉ từ 7,77% đến 14,72%) và hầu như không tăng, chủ yếu là HS có học
lực trung bình (từ 58% đến 84%), tỉ lệ HS đạt học lực yếu khá cao (từ 8% đến 30%). Các số liệu này đã phản ánh một thực
trạng nổi bật, đó là: HS BTTHPT hiện nay phần lớ
n là có học lực đầu vào lớp 10 rất thấp (điểm thi tuyển sinh lớp 10 không đủ
để vào các trường công lập và bán công), chỉ có một số ít các em có học lực khá nhưng do điều kiện, hoàn cảnh (từ ngoài tỉnh
chuyển đến, gia đình gặp khó khăn nên phải vừa làm, vừa học, gặp rủi ro khi thi tuyển vào lớp 10 THPT ). Tỉ lệ HS tốt nghiệp
BTTHPT cũng khá thấp, nhất là từ khi Bộ GD&ĐT tri
ển khai cuộc vận động "Hai không", trong đó có nội dung "nói không với
tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục.
2.2.2. Thực trạng phân luồng HS sau THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng
Ở một tỉnh duyên hải miền Trung như thành phố Đà Nẵng, theo thống kê của Sở LĐ-TB&XH về tình hình phân luồng HS
sau THCS và THPT 5 năm (từ 2001 – 2005) thì số HS sau THCS vào học THPT chiếm khoảng 80%, BT THPT chiếm khoảng
Học
Cao đẳng
Học TCCN
Học trung
cấp nghề
Học sơ cấp
nghề
Tham gia lao
động hoặc
ở nhà
Năm học
TS học
sinh
lớp 12
BTTHPT
SL tlệ% SL Tlệ% SL tlệ SL tlệ SL tlệ SL Tlệ%
2003-2004 991 1 0.10 5 0.50 87 8.78 12 1.21 48 4.84 838 84.56
2004-2005 1158 3 0.26 7 0.60 112 9.67 19 1.64 56 4.84 961 82.99
2005-2006 1260 5 0.40 14 1.11 145 11.51 28 2.22 84 6.67 984 78.10
T
ổn
g
cộn
g
3409 9 0.26 26 0.76 344 10.09 59 1.73 188 5.51 2783 81.64
Trong những năm gần đây, vẫn còn một tỉ lệ khá lớn HS sau khi hoàn thành chương trình BTTHPT không được tham gia
các chương trình đào tạo tiếp tục hoặc đào tạo để tham gia thị trường lao động. Tỉ lệ HS BTTHPT sau khi học xong lớp 12 có
cơ hội để vào học đại học thường rất ít , HS được vào học các trường cao đẳng cũng không đáng kể, HS vào học TCCN, vào
học trường dạy nghề (trung cấp ngh
u có được thì
cũng chưa được hướng dẫn để phân tích, hiểu đúng về nhiệm vụ, trách nhiệm đóng góp của mình vào sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của thành phố.
2.2.4. Nhận thức về các yêu cầu khi tham gia lao động nghề nghiệp
HS BTTHPT chưa ý thức được việc xây dựng nền tảng để phát triển nghề nghiệp sau này và chưa tìm ra cho mình hướng
liên thông để học lên trong tương lai nếu bắ
t đầu từ cuộc sống lao động nghề nghiệp thay vì con đường học vấn bậc ĐH,
CĐ,các em phần lớn là con em những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ HS ít quan tâm đến việc học của các em, nhận
thức về tầm quan trọng của việc phải trang bị các kiến thức, kỹ năng nền tảng cũng rất hạn chế. Vì vậy, cần phải tác động để
nâng cao nhậ
n thức cho các đối tượng này.
2.2.5. Nhận thức về nghề và những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề của HS BTTHPT
2.2.5.1. Mức độ hiểu biết các thông tin chung về nghề
Đa số HS BTTHPT chọn nghề một cách cảm tính, tỉ lệ các em biết rõ và rất rõ về họa đồ nghề rất thấp. Điểm trung bình
Χ về mức độ hiểu biết các nội dung về nghề không cao (<= 2,38)
, điều này chứng tỏ các hoạt động GD chính khóa và ngoại
khóa ở các trung tâm GDTX chưa cung cấp cho HS được những hiểu biết cơ bản về nghề và chưa định hướng được cho các em
về phương pháp và kỹ năng chọn nghề phù hợp với các năng lực và điều kiện của bản thân.
2.2.5.2. Nguồn thông tin giúp HS chọn nghề:
Các buổi hướng dẫn chọn nghề do trung tâm tổ chức chưa được thực hiện phổ biến và vì thế chưa giúp cung cấp thông tin
và điều chỉnh định hướng nghề nghiệp của các em; các hoạt động có tính HN mà các trung tâm có thể thực hiện chưa mang lại
thông tin cho các em, đặc biệt là các hoạt động thuộc về khả năng sẵn có của các trung tâm.
2.2.5.3. Nguyện vọng và thực tế học lên của HS BTTHPT
Bảng 2.13. Tình hình th
ực tế học lên của HS BTTHPT so với nguyện vọng
Nguyện vọng
Thực tế đạt
nguyện vọng
T
T
α
.
Có sự chênh lệch rất lớn giữa nguyện vọng học lên bậc học cao của các em HS với khả năng thực tế của các em. Tỉ lệ HS
có nguyện vọng học nghề (dài hạn và ngắn hạn) tuy không cao nhưng không có sự chênh lệch nhiều giữa nguyện vọng và thực
tế kết quả thực hiện.
2.2.6. Thực trạng triển khai các hình thức GDHN tại các trung tâm GDTX
2.2.6.1. GDHN cho học sinh qua các hoạt động
Bảng 2.14 : Mức độ tham gia các hoạt động GDHN của HS BTTHPT
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (n=2168, 1 điểm
≤
Χ
≤
5 điểm)
Mức độ thường xuyên
Rất thường
xuyên
Thường
xuyên
Đôi khi
Ít thường
xuyên
Chưa bao
giờ
TT Các hoạt động GDHN
SL Điểm SL Điểm SL Điểm SL
Điể
m
SL Điểm
Điểm
và tham quan cơ sở sản
xuất…)
0 0 35 140 76 228 167 334 77 77 2.19 2
5
Cung cấp các thông tin
về nhu cầu nhân lực của
địa phương
0 0 12 48 161 483 111 222 71 71 2.32 1
Trên thực tế, các hoạt động GDHN mà HS BTTHPT được tham gia là rất ít
, không có hoạt động nào được đánh giá ở mức
độ thường xuyên, số khách thể thường xuyên tham gia các hoạt động có tỉ lệ rất thấp
. Có một số lượng rất nhỏ HS thỉnh thoảng
được tham gia một số hoạt động có tính HN.
2.2.6.2. GDHN cho học sinh qua hoạt động GD nghề nghiệp
Tỉ lệ HS BTTHPT tham gia học nghề PT là rất ít (5,15%), trong khi các trung tâm là đơn vị có tổ
chức các hoạt động dạy
nghề PT, điều kiện rất thuận lợi để các em tham gia học tập. Sở GD&ĐT triển khai chương trình thí điểm phân luồng cho
10,03% HS (học đồng thời cả chương trình BTTHPT và chương trình TCCN), để rút ngắn thời gian học tập và cho các em thử
sức mình trong nghề.
Tỉ lệ các em tham gia học để được cấp chứng chỉ Anh văn, Tin học các cấp độ rất cao nh
ưng mục đích học là để cộng điểm
vào điểm thi tốt nghiệp và để có chứng chỉ khi đi xin việc làm.
10
Tỉ lệ HS BTTHPT tham gia GD NPT
phân theo nhóm nghề
66%
34%
0%
* Về cán bộ quản lý
Bảng 2.19: Thực trạng
đội ngũ cán bộ quản lý các trung tâm GDTX
(nguồn: Sở GD&ĐT thành phố Đà Nẵng)
Cán bộ
quản lý
Độ tuổi Trình độ
Đào tạo
bồi dưỡng
Thâm niên
quản lý (năm)
Tên trung
tâm GDTX
TSố Nữ
<
35
35
đến
45
>
45
ĐH+
CĐ
Thạc
sĩ
Gốc
Kỹ
thuật
Bồi
dưỡng
Các trung tâm đã xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động dạy nghề PT cho từng đợt học nghề PT 2 đợt/năm học. Tuy
nhiên, chỉ có 2/8 đơn vị cụ thể hóa nội dung các kế hoạch này trong từng tháng, từng tuần và phân công nhiệm vụ cụ thể cho
từng thành viên thực hiện. Có 2/8 trung tâm quan tâm đến v
ấn đề dạy nghề cho đối tượng HS BTTHPT đang học tại trung tâm.
2.2.8.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch
* Tổ chức các hình thức GDHN
- GDHN qua giảng dạy các bộ môn văn hóa: phần này còn rất mờ nhạt. Phần lớn các giáo viên cho rằng, chỉ quan tâm đến
kiến thức chính của bài học, ít khai thác các nội dung có liên quan đến GDHN.
- GDHN qua dạy nghề PT: số HS BTTHPT tham gia học nghề PT chiếm tỉ lệ rất nhỏ (8,8% tổng s
ố HS BTTHPT).
- GDHN qua các buổi sinh hoạt HN: có 12,68% giáo viên được hỏi cho rằng: sinh hoạt HN cho HS BTTHPT chưa đưa ra
thành một nhiệm vụ cụ thể và thực hiện bài bản theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT.
- GDHN qua DNPT: Các trung tâm GDTX đã phối hợp với các trường trung học trên địa bàn để tổ chức tốt việc dạy nghề
PT cho HS THPT, nhưng chưa quan tâm đến việc DNPT cho HS của chính trung tâm.
- GDHN qua dạy sơ cấp nghề: chỉ có 01/8 trung tâm có tổ chức các l
ớp dạy sơ cấp nghề. Tuy nhiên, vấn đề đầu ra lao động
vẫn còn rất khó khăn.
- GDHN qua các hoạt động ngoại khóa: các trung tâm chưa tổ chức được các hoạt động sinh hoạt HN, các hoạt động ngoại
khóa có lồng ghép nội dung HN còn mang tính tự phát.
* Kết quả thực hiện các nội dung GDHN
72% người được hỏi cho rằng: nội dung “tổ chức cho HS tham gia các hoạt động để làm bộc lộ phẩm chất, năng l
ực” đã
được thực hiện; 34,1% cho biết đã thực hiện nội dung “cho HS tìm hiểu họa đồ nghề’ và chỉ có 10,97% cho rằng đã tạo điều
kiện cho HS được tư vấn nghề. Tuy nhiên, tất cả những tác động này chỉ nhằm vào HS THPT đang được GDHN tại trung tâm
GDTX qua hoạt động dạy nghề phổ thông
2.2.8.3. Công tác kiểm tra đánh giá
* Kiểm tra việc thực hiện chương trình giảng dạy, nề
nếp dạy và học, các hoạt động chuyên môn
11
ổng kết còn chung chung, chủ yếu thống kê số lượng, chưa tìm ra nguyên nhân
và giải pháp. Việc theo dõi, điều chỉnh kế hoạch ở đa số các trung tâm chưa kịp thời.
2.2.9. Các điều kiện, phương tiện phục vụ hoạt động GDHN
2.2.9.1. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ GDHN
- Phòng dạy nghề thiếu và không đạt chuẩn; hệ thống điện, nước, ánh sáng ph
ục vụ dạy và học bất hợp lý. Một số trung
tâm GDTX huy động được nguồn tài trợ của nước ngoài nên đã trang bị được một số phòng học nghề đạt chuẩn.
- Trang thiết bị phục vụ công tác GDHN hiện nay ở các trung tâm quá nghèo nàn, lạc hậu và xuống cấp, không theo kịp sự
phát triển của khoa học - kỹ thuật và vì thế không có sức hấp dẫn người học. Các nghề như đi
ện, điện tử, may, gia chánh thiếu
các thiết bị hiện đại, lạc hậu so với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật nên hạn chế rất nhiều đến chất lượng thực hành và
hứng thú học tập của HS.
2.2.9.2. Chương trình và tài liệu phục vụ GDHN
- Giáo viên rất khó khăn trong quá trình chọn lựa kiến thức từ các tài liệu tham khảo để đảm bảo tính vừa sức đố
i với HS
BTTHPT. Hầu hết các tỉnh, thành phố chưa biên soạn được chương trình và tài liệu cho các nghề truyền thống của địa phương.
- Tài liệu sinh hoạt GDHN được sử dụng rất ít và chưa hiệu quả vì chưa có định hướng lựa chọn ngành nghề để tư vấn GDHN cho
phù hợp với nhu cầu phát triển NNL của địa phương, chưa cập nhật kịp thời các thông tin về ngành nghề để
GDHN hấp dẫn và mang
tính thời sự.
- Chương trình BTTHPT hoàn toàn không có thời lượng cho nội dung về GDHN. Đây là một khó khăn rất lớn cho các
trung tâm khi triển khai các hoạt động GDHN (liên quan đến giáo viên, kinh phí chi trả giờ dạy, mua sắm đồ dùng dạy học ).
2.2.9.3. Tài chính và cơ chế chính sách cho người dạy, người học
- Tài chính cho hoạt động GDHN rất hạn hẹp, chỉ đủ để chi trả lương cho giáo viên hợp đồng. kinh phí mua nguyên liệu
phục vụ dạy và h
ọc hầu như không có. Các trung tâm không có nguồn thu từ các chương trình, dự án cũng như từ các hoạt động
dịch vụ.
- Về chính sách đối với người dạy: Tiền lương giờ dạy của giáo viên dạy nghề sơ cấp cũng như dạy nghề PT là quá thấp.
Chưa có nguồn kinh phí nào chi trả cho việc huy động đội ngũ GV này tham gia vào các hoạt động GDHN cho chính lực lượng
HS của trung tâm.
ướng vào các ngành nghề truyền thống cũng như các ngành nghề địa phương có nhu cầu, cách thức GDHN
còn nghèo nàn, chủ yếu chỉ là GDHN qua GD nghề PT; hoạt động GDHN hầu như chỉ được thực hiện tại TTGDTX với cơ sở
vật chất nghèo nàn, lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu định hướng nghề nghiệp, công tác XHH hoạt động GDHN còn hạn
chế.
Nguyên nhân: nhận thức của cán bộ quản lý GD, giáo viên, cha m
ẹ và bản thân HS về GDHN còn lệch lạc; chưa có một
quy định mang tính pháp lý về công tác GDHN cho HS BTTHPT; công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch của Giám
đốc các trung tâm chưa khoa học, các hình thức GDHN cho HS BTTHPT chưa được quan tâm triển khai phù hợp với chức
13
năng, nhiệm vụ của các trung tâm và đối tượng HS, công tác kiểm tra và tổng kết chưa thực sự hiệu quả; đội ngũ cán bộ quản lý
các trung tâm thiếu lực lượng được đào tạo từ các khoa kỹ thuật hoặc được bồi dưỡng kỹ năng tổ chức và quản lý công tác
GDHN; đội ngũ giáo viên làm công tác GDHN vừa thiếu vừa không đạt chuẩn đào tạo; việc tổ chức thự
c hiện hoạt động
GDHN chưa toàn diện, bất cập về phương pháp; nội dung GDHN nghèo nàn, chương trình, tài liệu phục vụ GDHN còn thiếu và
chưa phù hợp, chưa được cập nhật kịp thời với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật; cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ
GDHN cho các trung tâm còn thiếu thốn, chưa có các phòng dạy nghề đạt chuẩn và các phòng sinh hoạt HN, thiết bị nghèo nàn,
l
ạc hậu; nguồn tài chính phục vụ cho công tác GDHN còn hạn hẹp, cơ chế chính sách đối với người dạy và người học chưa thực
sự thỏa đáng vì vậy chưa khuyến khích đông đảo đội ngũ giáo viên giỏi, có tay nghề cao tham gia giảng dạy; công tác tuyên
truyền để huy động các nguồn lực cho GDHN còn hạn chế.
Chương 3
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH B
Ổ TÚC TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TẠI CÁC TRUNG TÂM
GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp
Các biện pháp đề xuất dựa trên các nguyên tắc về tính thực tiễn, tính kế thừa, đảm bảo sự phát triển nhưng vẫn giữ được
tính ổn định, tính đồng bộ, tính hiệu quả và phải bám sát đối tượng tác động.
việc đào tạo nhân lực phục vụ nền kinh tế. Tuy nhiên, chương trình BTTHPT thiếu hẳn những thời lượng dành cho hoạt động
GDHN.
3.2.6. Xu hướng phân luồng HS sau THCS và THPT
Phân luồng HS dựa trên cơ sở việc phân loại HS theo trình độ văn hóa và định hướng cho các em vào những trình độ đào tạo
phù hợp, trong và cả sau khi tốt nghiệp b
ậc học THPT.
3.3. Một số biện pháp tổ chức GDHN cho HS Bổ túc THPT theo định hướng phát triển nhân lực
3.3.1. Xây dựng cơ cấu tổ chức hoạt động GDHN cho HS BTTHPT
Giáo dục HN trong TTGDTX là một hoạt động trong nhà trường, vì vậy, cơ cấu tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động này
vừa mang những thành phần giống như bộ máy làm công tác GDHN trong nhà trường phổ thông, vừa có những bộ phận để
thực hi
ện các nhiệm vụ của riêng loại hình giáo dục không chính quy. Chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu công việc của các bộ
phận cũng cần có những điều chỉnh so với nhà trường chính quy.
Sơ đồ 1.6: Cơ cấu tổ chức
bộ máy tổ chức hoạt động
GDHN cho HS BTTHPT
3.3.2. Tuyên truyền nâng
cao nhận thức về GDHN cho
các lực lượng giáo dục trong
và ngoài trung tâm GDTX
3.3.2.1. Mục tiêu
Định hướ
ng GDHN nhằm
BTTHPT;
- Tuyên truyền về quan điểm GDTX, học tập suốt đời;
- Cung cấp các thông tin về tình hình phát triển kinh tế và nhu cầu về NL, những yêu cầu đặt ra đối với hoạt động GDHN
cho HS BTTHPT.
3.3.2.3. T
ổ chức thực hiện
* Tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng và các hội nghị, hội thảo để tuyên truyền, cung cấp thông tin
* Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho HS BTTHPT
* Tổ chức cho HS tham quan, xem triển lãm, xem phim
* Chuyển tải thông tin về tình hình nhân lực và các hoạt động GDHN đến cha mẹ HS thông qua hoạt động của các trung
tâm học tập cộng đồng
* Nâng cao nhận thức về GDHN các lực lượng tham gia công tác GDHN: đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục,cán bộ
, giáo
viên, học sinh các trung tâm GDTX, chính quyền địa phương và các lực lượng trong toàn xã hội.
3.3.3. Nâng cao hiệu quả thực hiện các chức năng quản lý HĐGDHN của giám đốc trung tâm GDTX
3.3.3.1. Mục tiêu
Tăng cường công tác quản lý hoạt động GDHN trong các TTGDTX một cách khoa học, tận dụng tối đa các điều kiện
CSVC sẵn có của các trung tâm để không ngừng nâng cao chất lượng GDHN cho HS BTTHPT, theo định hướng phát triển NL
của địa phương.
3.3.3.2. Nội dung:
- Thực hi
ện đúng các khâu của công tác quản lý hoạt động GDHN (lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và điều
chỉnh);
- Khai thác tốt các nguồn thông tin phục vụ công tác quản lý, đảm bảo đạt được mục tiêu đã đề ra;
- Kết hợp hài hòa các điều kiện, các hoạt động ở trong và ngoài trung tâm để phục vụ cho hoạt động GDHN.
3.3.3.3. Tổ chức thực hiện:
* Xây dựng kế ho
ạch GDHN cho HS BTTHPT
* Tăng cường công tác chỉ đạo thực hiện các HĐ GDHN cho HS BTTHPT
- Kiện toàn bộ máy tổ chức của các tổ (ban) HN
liệu, tư liệu để phản ánh kịp thời thị trường lao động trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập, đặc biệ
t ở lĩnh vực công
nghệ thông tin, dịch vụ. Các chương trình DN bám sát quan điểm “học tập thường xuyên, suốt đời”, có mối quan hệ hữu cơ với
chương trình BTVH, đồng thời bổ sung những hạn chế trong vấn đề GD toàn diện mà chương trình BTTHPT chưa đáp ứng.
- Đổi mới phương pháp GDHN, ưu tiên ứng dụng CNTT và các phương tiện dạy học tiên tiến để tổ chức các hoạt độ
ng
GDHN có hiệu quả, phù hợp với đối tượng HS BTTHPT.
3.3.5.3. Tổ chức thực hiện
- Tổ chức tốt dạy nghề phổ thông cho HS
- Tổ chức các hoạt động dạy nghề đồng thời với chương trình BTTHPT
- Lập kế hoạch và phân công giáo viên nghiên cứu tổ chức các buổi GDHN
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa GDHN thông qua hoạt động của các đoàn thể.
- Xây dựng và cải tiế
n nội dung chương trình, tài liệu GDHN.
15
- Điều chỉnh cơ cấu ngành nghề HN theo định hướng phát triển NL
- Đổi mới phương pháp GDHN.
3.3.6. Tăng cường nguồn tài chính, các điều kiện về CSVC, trang thiết bị cho hoạt động GDHN
3.3.6.1. Mục tiêu
Từng bước tiến tới các TTGDTX có đủ điều kiện về CSVC, thiết bị GDHN, dạy nghề để tổ chức các hình thức GDHN, đặc
biệt là GDHN qua các hình thức dạy nghề, lao động k
ỹ thuật. Đồng thời, có những cơ chế, chính sách thích hợp để thu hút
người dạy, người học.
3.3.6.2. Nội dung
Tổng hợp thế mạnh của nhiều nguồn lực: ngân sách Nhà nước, ngân sách địa phương, quĩ học phí, các chương trình mục
tiêu, vay vốn ưu đãi và các nguồn tài trợ. Để làm tốt việc này, cần phát huy nội lực, thực hiện xã hội hóa GD, thực hiện phương
châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để t
ừng bước xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị cho các trung tâm theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu hướng phát triển ngành nghề HN.
Sơ đồ 3.2: Mối quan hệ giữa các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN cho HS BTTHPT theo đị
nh hướng phát triển nhân
lực
Các biện pháp có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức về
GDHN là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến việc triển khai các biện pháp khác.
3.4. Khảo nghiệm thực tế
3.4.1. Khảo nghiệm nhận thức của các khách thể về tính cần thiết và đánh giá tính khả thi của các biện pháp do luận
án đề xuất
Tổ chức hoạt
động GDHN cho
HS Bổ túc THPT
tại
trung tâm
GDTX theo định
ể
Tuyên truyền
nâng cao
nhận thức
về GDHN
Đổi mới ND, PP
GDHN
phù hợp với
đối tượng GD
hoàn thành chương trình BTTHPT, đáp ứng yêu cầu nhân lực tại chỗ củ
a địa phương.
Bảng 3.2 : Tỉ lệ HS BTTHPT tham gia các chương trình học nghề
Học nghề PT Sơ cấp nghề Trung cấp nghề
Lớp TS HS
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Không tác động thử nghiệm 247 101 40.89 13 12,87 3 23,08
Thử nghiệm 50 46 92.00 26 56,52 22 84,62
40,89
92
12,87
56,52
23,08
84,62
0
20
40
60
80
100
Tỉ lệ %
ứu các thông tin phản ánh thực trạng tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh BTTHPT cho thấy: hoạt
động GDHN cho HS BTTHPT vẫn có nhiều khó khăn, bất cập: nhận thức của cán bộ quản lý, GV, HS và cha mẹ HS về GDHN
còn rất hạn chế, tỉ lệ HS BTTHPT được tham gia các hoạt động GDHN rất thấp, nội dung GDHN chưa được biên soạn và cung
cấp, hình thức GDHN còn nghèo nàn, các điều kiện để đảm bảo cho hoạt động này chưa đượ
c đầu tư đúng mức, công tác XHH
GDHN chưa phong phú và hiệu quả thấp. Hoạt động GDHN chưa được chỉ đạo và triển khai một cách có hệ thống trong các
trung tâm GDTX.
Bên cạnh nội dung xây dựng cơ cấu tổ chức hoạt động GDHN trong các trung tâm GDTX, tác giả luận án đề xuất 6 biện
pháp quản lý, bao gồm: nâng cao nhận thức cho các lực lượng tham gia hoạt động GDHN; nâng cao hiệu quả thực hiện các
chức năng quản lý hoạ
t động GDHN của giám đốc trung tâm GDTX; xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên,
tư vấn viên GDHN; đổi mới nội dung, phương pháp GDHN phù hợp với đặc điểm HS BTTHPT và môi trường GDTX; tăng
cường nguồn tài chính, các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động GDHN và xã hội hóa hoạt động GDHN.
Kết quả khảo nghiệm trên 461 khách thể có liên quan đã khẳng định tính sự cầ
n thiết và khả thi cao của các biện pháp do
luận án đề xuất.
Kết quả thử nghiệm nội dung “triển khai các hoạt động dạy nghề đồng thời với chương trình bổ túc THPT” trên 50 học
sinh bổ túc THPT thông qua việc tư vấn nghề, tổ chức dạy liên thông từ nghề PT đến sơ cấp nghề và trung cấp nghề đã chứng
tỏ hiệu quả của các biện pháp do luận án đề xu
ất đối với việc giúp các em học sinh tiếp cận với thế giới nghề nghiệp, điều chỉnh
định hướng chọn nghề một cách khoa học và phù hợp.
2. Khuyến nghị
2.1. Hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu của luận án
2.2.1. Đối với Nhà nước
- Sớm ban hành chỉ thị về công tác GDHN thay thế cho Quyết định 126/CP ngày 19/03/1981 trước đây, buộc tất cả các cấp
các ngành t
ừ trung ương đến địa phương phải thi hành, trong đó, cần quan tâm đến đối tượng HS hệ GD không chính quy trong
các TTGDTX.
- Công khai yêu cầu nhân lực, xây dựng cơ chế, chính sách vĩ mô để phát triển hệ thống các TTGDTX, xây dựng mô hình
thí điểm TTGDTX đạt chuẩn quốc gia và mô hình TTGDTX-HN với sự kết hợp quy chế tổ chức, hoạt động của cả hai loại hình
hàng năm của GV các ngành học, bậc học. Khuyến khích các trung tâm GDTX tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh
BTTHPT, quan tâm mở các nghề đáp ứng yêu cầu nhân lực của địa phương và các nghề truyền thống, tổ chứ
c thí điểm ở một số
trung tâm, đánh giá, rút kinh nghiệm và triển khai nhân rộng ở những nơi có điều kiện.
2.1.5. Đối với các Trung tâm GDTX
Chủ động xây dựng nhiệm vụ GDHN cho học sinh của chính trung tâm và đề xuất các cấp quản lý giáo dục về công tác chỉ
18
đạo và hỗ trợ các điều kiện để triển khai thực hiện. Tham khảo, vận dụng các giải pháp quản lý do luận án đề xuất để tổ chứuc
hoạt động GDHN cho HS BTTHPT theo định hướng phát triển nhân lực.
2.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo
Các hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: xây dựng chương trình, tài liệu GDHN, giáo dục nghề cho học sinh BT THPT,
xây dựng và phát triển đội ngũ GV GDHN cho các trung tâm GDTX, xây dựng cơ chế phối h
ợp các lực lượng để giải quyết đầu
ra cho hoạt động GDHN của các trung tâm GDTX.