TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
KIỀU THÙY LINH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC BÀI TÍNH CHUẨN XÁC, HẤP
DẪN CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
Hà Nội, 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
KIỀU THÙY LINH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC BÀI TÍNH CHUẨN XÁC, HẤP
DẪN CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Kiều Thùy Linh
DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
KÍ HIỆU
STT
Ý NGHĨA
1
CLB
Câu lạc bộ
2
GS
Giáo sư
3
GV
Giáo viên
9
THCS
Trung học cơ sở
10
THPT
Trung học phổ thông
11
TNST
Trải nghiệm sáng tạo
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2.Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 2
3.Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 4
4.Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 4
5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................. 5
6.Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 5
7.Cấu trúc khóa luận ......................................................................................... 5
NỘI DUNG....................................................................................................... 6
học bài Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh (Ngữ văn 10) ..... 29
2.3.Các hình thức tổ chức hoạt động TNST trong dạy học bài Tính chuẩn xác,
hấp dẫn của văn bản thuyết minh (Ngữ văn 10) ............................................. 31
2.3.1.Hình thức rạp chiếu phim....................................................................... 31
2.3.2.Hình thức cuộc thi .................................................................................. 32
2.4.Định hướng dạy học bài Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết
minh (Ngữ văn 10) có tổ chức hoạt động TNST............................................. 33
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................ 36
3.1.Mục đích thực nghiệm .............................................................................. 36
3.2.Đối tượng, địa bàn thực nghiệm................................................................ 36
3.2.1.Đối tượng thực nghiệm .......................................................................... 36
3.2.2.Địa bàn thực nghiệm .............................................................................. 36
3.3.Kế hoạch thực nghiệm .............................................................................. 37
3.4.Nội dung thực nghiệm ............................................................................... 37
3.5.Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 45
KẾT LUẬN .................................................................................................... 46
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
1.1. Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới giáo dục đang là vấn đề bức thiết
đặt lên hàng đầu và được cả xã hội quan tâm. Nghị quyết số 29-NQ/TW về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra: “Chuyển mạnh quá
trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng
lực và phẩm chất người học”. Để đáp ứng được yêu cầu cấp thiết ấy vấn đề
đặt ra là phải chuyển đổi phương pháp dạy học từ lối áp đặt, đọc chép, truyền
thụ một chiều sang dạy học sinh (HS) cách học, cách vận dụng kiến thức, kĩ
năng, qua đó hình thành năng lực phẩm chất cần thiết cho chủ thể học tập.
của cuộc sống phong phú, đa chiều nên chưa đem lại sự hứng thú, bổ ích cho
người học.
1.3. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) là một đề xuất mới trong
dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Mục đích của việc tổ chức
hoạt động này là giúp HS vừa cọ xát với thực tế, vừa phát huy tính sáng tạo
của các em. Vì thế, việc tổ chức hoạt động này trong dạy học Làm văn để
nâng cao chất lượng dạy và học của GV và HS. Từ những yêu cầu thực tiễn
trên, có thể thấy rằng việc tổ chức hoạt động TNST cho HS trong dạy học
Làm văn là một hướng đi có thể tạo hứng thú học tập, phát huy sự chủ động,
sáng tạo của HS.
Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
BÀI TÍNH CHUẨN XÁC, HẤP DẪN CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH (NGỮ
VĂN 10).
2.Lịch sử vấn đề
Xuất phát từ các nước phương Tây đã có ở thế kỉ XX bàn về HĐTNST.
John Dewey, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mĩ với tác phẩm Kinh
nghiệm và giáo dục (Experience and Education) đã chỉ ra hạn chế của giáo
2
dục nhà trường và đưa ra những quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong
giáo dục. Dewey cũng chỉ ra rằng, với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinh
nghiệm, những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo
dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn.
Những nghiên cứu này đã tạo ra một hướng dạy học mới, gắn nội dung học
tập vào những hoạt động thực tiễn để người học vừa được cọ xát, vừa chủ
động thực hiện, vừa phát huy được cách thức và dấu ấn cá nhân. Đây chính là
tiền đề cho sự hình thành và phát triển của HĐTNST trong giáo dục.
hoạt động này nhưng hầu hết đều chưa đề cập tới cách thiết kế và sử dụng nó
khi dạy một bài học cụ thể. Đó là những gợi dẫn cần thiết để chúng tôi chọn
và nghiên cứu đề tài này.
3.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích sau:
- Xác lập các hoạt động, các bước tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong
dạy học bài Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh (Ngữ văn 10) .
- Làm rõ các vấn đề xung quanh việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Làm văn lớp 10 ở
giúp cho HS không chỉ biết cách tạo lập, cách đánh giá mà còn phát huy khả
năng sáng tạo của người học.
4.Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở và quy trình của việc tổ chức hoạt động TNST trong
việc dạy học phân môn Làm văn ở nhà trường THPT.
- Vận dụng và hướng dẫn HS biết cách tổ chức hoạt động TNST trong
dạy học bài Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh (Ngữ văn 10).
- Tổ chức thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi đã được đề xuất
trong khóa luận.
4
5.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Gắn với đề tài nghiên cứu, trong khóa luận này chúng tôi tập trung nghiên
cứu: HĐTNST và cách thức tổ chức hoạt động này trong quá trình giáo dục
nói chung, trong dạy học Ngữ văn nói riêng.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Khóa luận này thực nghiệm ở bài Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn
giáo dục và nhóm kĩ năng để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình,
tham gia phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục. Nội
dung cơ bản của môn học gồm 5 lĩnh vực: Phát triển cá nhân; Cuộc sống gia đình;
Đời sống nhà trường; Quê hương, đất nước và cộng đồng xã hội; Nghề nghiệp và
phẩm chất người lao động.
Có nhiều quan điểm khác nhau về hoạt động này, nhưng hiểu một cách
đơn giản thì: HĐTNST là hoạt động giáo dục trong đó từng HS được trực tiếp
tham gia hoạt động thực tiễn trong nhà trường, ngoài xã hội dưới sự hướng
dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ
năng và tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân. Trải nghiệm sáng tạo là hoạt
động được coi trọng trong từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo dục
cũng bố trí các hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang
tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau.
HĐTNST sẽ được dành cho tất cả HS từ lớp 1 đến lớp 12 giúp các em
biết vận dụng những tri thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học từ nhà trường
6
và những kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng
tạo.
Bên cạnh việc hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực chung
của chương trình giáo dục, hoạt động này còn tập trung hình thành, phát triển
các năng lực đặc thù cho người học như: Năng lực tổ chức hoạt động, năng lực
tổ chức và quản lý cuộc sống, năng lực tự nhận thức và tích cực hoá bản thân,
năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiệp.
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể thì nội dung
HĐTNST gồm phần bắt buộc (bao gồm cả các hoạt động tập thể) và tự chọn,
được thiết kế theo nguyên tắc tích hợp, hoặc đồng tâm kết hợp với tuyến tính.
Vì thế, nội dung của hoạt động này sẽ được xây dựng thành các chủ đề mang
Đánh giá năng lực của HS từ hoạt động này chủ yếu bằng phương pháp
định tính thông qua quan sát hành vi và thái độ; bảng kiểm, tự luận và hồ sơ
hoạt động,... Ngoài những HĐTNST được nêu trên, trong từng môn học cũng
coi trọng việc tổ chức, hướng dẫn thực hiện các hoạt động này theo những
hình thức khác nhau miễn sao nó phù hợp với đặc trưng nội dung môn học và
điều kiện dạy học.
1.1.2.Đặc điểm cơ bản của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.1.2.1.HĐTNST đòi hỏi người học thông qua các hoạt động trong thực tế
mà thể hiện dấu ấn cá nhân con người
Hoạt động TNST là hoạt động được thực hiện phối hợp một cách hợp
lý cả hai yếu tố trải nghiệm và sáng tạo. Bởi lẽ, khi tham gia hoạt động này,
HS phải trải nghiệm với thực tế để hình thành kiến thức, kĩ năng mới.
HĐTNST tạo cơ hội cho HS trải nghiệm trong thực tiễn để tích lũy và chiêm
nghiệm các kinh nghiệm, từ đó có thể khái quát thành hiểu biết theo cách của
riêng mình. Điều đó đã thể hiện những dấu ấn sáng tạo của bản thân HS.
HĐTNST có khả năng huy động sự tham gia tích cực của người học ở tất cả
các khâu của quá trình hoạt động: Từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực
8
hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng
của bản thân; tạo cơ hội cho các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm,
ý tưởng sáng tạo; được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể
hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động
của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè…
1.1.2.2.Nội dung của HĐTNST mang tính thực tiễn, tính tích hợp và phân
hóa người học
Nội dung HĐTNST rất đa dạng và mang tính thực tiễn, tính tích hợp,
tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và
hạnh phúc... những điều này chỉ thực sự có được khi HS được trải nghiệm với
chúng. Sự đa dạng trong trải nghiệm sẽ mang lại cho HS nhiều vốn sống kinh
nghiệm phong phú mà nhà trường không thể cung cấp thông qua các công
thức hay định luật, định lý...
Tóm lại, HĐTNST là một phương thức học hiệu quả, nó giúp hình
thành năng lực cho người học. Phương pháp trải nghiệm có thể thực hiện đối
với bất cứ lĩnh vực tri thức nào, khoa học hay đạo đức, kinh tế, xã hội… Hoạt
động này cũng cần được tiến hành có tổ chức, có hướng dẫn theo quy trình
nhất định của nhà giáo dục thì hiệu quả của việc học qua trải nghiệm sẽ tốt
hơn. Có thể nói sự phát triển nhận thức và nhân cách HS chỉ có thể tổ chức
qua hoạt động trải nghiệm.
1.1.2.3.Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều
lực lượng giáo dục được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng
Do phạm vi ứng dụng của HĐTNST rộng nên cần có sự phối hợp, liên
kết của các lực lượng. HĐTNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác
nhau như trò chơi, hội thi, diễn đàn, giao lưu, tham quan du lịch, sân khấu
hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,...), thể dục thể thao,
câu lạc bộ, tổ chức các ngày hội, các công trình nghiên cứu khoa học kỹ
10
thuật... Mỗi một hình thức hoạt động trên đều tiềm tàng trong nó những khả
năng giáo dục nhất định.
Để hoạt động có ý nghĩa giáo dục, có hiệu quả cần sự hỗ trợ của nhiều
tổ chức. Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục học
sinh được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không
gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhu cầu,
nguyện vọng của HS. Trong quá trình thiết kế, tổ chức, đánh giá các hoạt
động trải nghiệm sáng tạo, cả GV lẫn HS đều có cơ hội thể hiện sự sáng tạo,
1.1.3.1.Hình thức câu lạc bộ
Câu lạc bộ (CLB) là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm
HS cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà
giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các HS với
nhau; giữa HS với thầy cô giáo, với những người lớn khác. Hoạt động của
CLB tạo cơ hội để chủ thể học tập được chia sẻ những kiến thức, hiểu biết của
mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của
người học như: Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kĩ
năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng chụp ảnh, kĩ năng
hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,…
CLB là nơi để HS được thực hành các quyền trẻ em của mình như
quyền được học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động
văn hóa, nghệ thuật; quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ
biến thông tin,… Thông qua hoạt động của các CLB, nhà giáo dục hiểu và
quan tâm hơn đến nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em.
CLB hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt
định kì và có thể được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như: CLB học
thuật; CLB thể dục thể thao; CLB văn hóa nghệ thuật; CLB võ thuật; CLB
hoạt động thực tế; CLB trò chơi dân gian…
12
1.1.3.2.Công tác thiện nguyện/nhân đạo
Công tác thiện nguyện nhân đạo là hoạt động tác động đến trái tim,
tình cảm, sự đồng cảm của HS trước những con người có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn. Thông qua hoạt động thiện nguyện nhân đạo, các em sẽ biết thêm
những hoàn cảnh khó khăn của người nghèo, người nhiễm chất độc da cam,
trẻ em mồ côi, người tàn tật, khuyết tật, người già cô đơn không nơi nương
tựa, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những đối tượng dễ bị tổn thương
dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui,
thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi kể chuyện, thi chụp ảnh, thi kể
chuyện theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội
thi học sinh thanh lịch,… có nội dung giáo dục về một chủ đề nào đó. Nội
dung của hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể
được tổ chức dưới hình thức hội thi, cuộc thi. Điều quan trọng khi tổ chức hội
thi là phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc
thi mới hấp dẫn.
1.1.3.4.Hình thức diễn đàn
Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc
đẩy sự tham gia của HS thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý
kiến của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và
những người lớn khác có liên quan. Diễn đàn là một trong những hình thức tổ
chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực. Thông qua diễn đàn, chủ thể học
tập có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất
của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện
vọng của các em; đồng thời đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến,
học tập lẫn nhau. Vì vậy, diễn đàn như một sân chơi tạo điều kiện để HS được
biểu đạt ý kiến của mình một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè và những
người khác. Diễn đàn thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và đa
dạng với những hình thức hoạt động cụ thể, phù hợp với từng lứa tuổi HS.
14
Mục đích của việc tổ chức diễn đàn là để tạo cơ hội, môi trường cho
người học được bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em
khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi
tích cực để khẳng định mình. Diễn đàn cũng giúp các em nâng cao khả năng
tự tin và xây dựng các kĩ năng cần thiết như: Kĩ năng phát biểu trước tập thể,
đi khám phá đất nước, trải nghiệm văn hóa nước ngoài…
1.1.3.6.Hình thức giao lưu
Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện
cần thiết để cho HS được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những
nhân vật điển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó. Qua đó, giúp các em
có tình cảm và thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn
lên trong học tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách. Hoạt động giao lưu có
một số đặc trưng sau:
Phải có đối tượng giao lưu. Đối tượng giao lưu là những người điển
hình, có những thành tích xuất sắc, thành đạt trong các lĩnh vực nào đó, thực
sự là tấm gương sáng để HS noi theo, phù hợp với nhu cầu hứng thú của
người học.
Thu hút sự tham gia đông đảo và tự nguyện của HS, được các em quan
tâm và hào hứng.
Phải có sự trao đổi thông tin, tình cảm hết sức trung thực, chân thành và sôi
nổi giữa HS với người được giao lưu. Những vấn đề trao đổi phải thiết thực, liên
quan đến lợi ích và hứng thú của học sinh, đáp ứng nhu cầu của các em.
Với những đặc trưng trên, hoạt động giao lưu rất phù hợp với các
HĐTNST theo chủ đề. Hoạt động giao lưu dễ dàng được tổ chức trong mọi
điều kiện của lớp, của trường.
1.1.3.7. Lao động công ích
Lao động công ích là việc cá nhân đóng góp một phần sức lao động
của mình để tham gia xây dựng, tu bổ các công trình công cộng vì lợi ích
16
chung của cộng đồng nhằm duy trì, bảo tồn các công trình công cộng cũng như kịp
thời phòng, chống và khắc phục hậu quả của thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh,...
Trong nhà trường, lao động công ích được hiểu là sự đóng góp sức lao
kịch hay trò chơi,... để các em được học tập một cách dễ hiểu, gần gũi, thoải mái nhất.
Những hoạt động này không những giúp cho các em tiếp thu bài học một cách thoải
mái, tự nhiên, mà còn giúp cho các em được vui chơi, thư giãn.
Sinh hoạt tập thể được tổ chức bằng các hoạt động như: ca hát, nhảy
múa, vui chơi, dân vũ, vở kịch, múa hát sân trường, khiêu vũ,...
* Ca hát
Trong sinh hoạt của các phong trào thanh thiếu niên, ca hát là một hoạt
động chủ lực không thể thiếu, vì nó nói lên được sức mạnh, sự đoàn kết, vui
tươi và trẻ trung của đoàn thể đó.
Ca hát là giáo dục bằng truyền cảm, là bộc lộ tâm tình của mình bằng
ngôn ngữ của âm thanh và nhịp điệu. Nó biểu dương ý chí và tình đồng đội,
giải tỏa những buồn chán, ức chế, làm hưng phấn tinh thần, giãi bày tâm trạng
của cá nhân hay tập thể, đem lại bầu không khí vui tươi trong sinh hoạt...
Vì ca nhạc mang tính đa diện như hùng tráng, bi thương, vui vẻ, trầm
buồn, kích động... tùy theo bài hát cũng như tâm trạng người hát và người
nghe. Cho nên chỉ cần nghe một cá nhân hay tập thể hát lên một vài bài hát,
thì chúng ta cũng có thể đánh giá được tâm trạng và “trình độ” sinh hoạt của
cá nhân hay tập thể đó.
* Ca múa tập thể
Ca múa tập thể là một trong những sinh hoạt ưa thích của thanh thiếu
niên, nó vừa giải trí, vừa vận động, vừa là một phương tiện giáo dục rất hiệu quả.
Ca múa là hình thức bộc lộ tình cảm bằng những cử chỉ và điệu bộ
một cách có nghệ thuật, cho nên điệu múa phải đi đôi với lời ca, bổ túc cho
18