TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
MA THỊ CẨM XUYÊN
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
LÀM VĂN Ở LỚP 11
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối
với Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho
chúng tôi có cơ hội học tập, rèn luyện và có cơ hội thực hành nghiên cứu tại
trường.
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Phương pháp
dạy học Ngữ Văn đã nhiệt tình giảng dạy.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Dương Thị Mỹ Hằng,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kinh
nghiệm khoa học quý báu giúp tôi hoàn thành khóa luận đúng thời hạn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân,
bạn bè đã động viên, giúp đỡ, chia sẻ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành
khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả khóa luận
Giáo viên
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
GS
Giáo sư
Nxb
Nhà xuất bản
THPT
Trung học phổ thông
NL
Nghị luận
MỤC LỤC
2.1.3. Thái độ................................................................................................... 26
2.2. Nội dung chương trình Làm văn ở lớp 11 ............................................... 26
2.3. Xác định nội dung phần Làm văn trong chương trình Ngữ văn lớp
11 cần tổ chức hoạt động TNST ..................................................................... 27
2.4. Nguyên tắc tổ chức hoạt động TNST trong môn học .............................. 29
2.5. Một số hình thức tổ chức hoạt động TNST trong phân môn Làm
văn lớp 11 ........................................................................................................ 30
2.5.1. Hình thức đóng vai ................................................................................ 30
2.5.2. Hình thức thảo luận ............................................................................... 31
2.5.3. Hình thức cuộc thi ................................................................................. 32
2.5.4. Hình thức diễn đàn ................................................................................ 33
2.6. Quy trình thực hiện .................................................................................. 34
2.6.1. Lập kế hoạch chuẩn bị........................................................................... 34
2.6.2. Thực hiện triển khai .............................................................................. 35
2.6.3. Kiểm tra, đánh giá ................................................................................. 37
2.7. Thiết kế hoạt động TNST trong dạy học theo chủ đề .............................. 37
2.7.1. Thiết kế hoạt động TNST trong dạy học chủ đề: Các thao tác lập
luận trong văn nghị luận .................................................................................. 37
2.7.2. Thiết kế hoạt động TNST trong dạy học chủ đề: Phỏng vấn và trả
lời phỏng vấn. .................................................................................................. 38
2.7.3. Thiết kế hoạt động TNST trong dạy học chủ đề: Tiểu sử tóm tắt ........ 41
CHƯƠNG 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM .................................................... 43
3.1. Kế hoạch thực nghiệm ........................................................................... 43
3.2. Mục đích thực nghiệm ............................................................................. 43
3.3. Nội dung thực nghiệm .............................................................................. 43
3.4. Đối tượng thực nghiệm ............................................................................ 43
3.5. Địa bàn thực nghiệm ................................................................................ 44
3.6. Giáo án ..................................................................................................... 44
Xuất phát từ bản chất đặc trưng của Làm văn là gắn với thực hành nên
có thể thấy hoạt động dạy học làm văn phải lấy thực hành làm hoạt động chủ
đạo để HS lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Dạy học thực hành
1
làm văn thực chất là tổ chức cho HS thể hiện con người cá nhân. Yêu cầu
nâng cao hiệu quả, chất lượng của những giờ thực hành làm văn đòi hỏi phải
có một cách dạy học thiết thực, vừa phù hợp với đặc thù phân môn vừa đi
đúng yêu cầu của phương pháp dạy học hiện đại - lấy HS làm trung tâm, coi
trọng sự chủ động, sáng tạo của HS trong hoạt động học. Theo chúng tôi, đây
là vấn đề khiến nhiều giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy ở nhà trường phổ
thông còn băn khoăn, trăn trở.
Tầm quan trọng của dạy học Làm văn trong nhà trường đã xác định rõ
như thế nhưng trên thực tế, kết quả dạy học Làm văn vẫn chưa đáp ứng được
sự mong đợi, việc dạy học Làm văn vẫn bộc lộ những điểm hạn chế, trong đó
dễ thấy nhất là sự yếu kém về kĩ năng thực hành ở cả người dạy và người học.
Giáo viên chưa thực sự đầu tư vào phương pháp dạy học, dạy theo lối
truyền thống, chưa thực sự đi sâu và đầu tư cho giáo án nên HS cảm thấy
nhàm chán, khó hiểu, khó học, thậm chí cảm thấy nặng nề, không hứng thú
khi học văn. Hoạt động thực hành còn thiếu những chỉ dẫn cụ thể về mặt kĩ
năng, thao tác nên kết quả đạt được chưa cao. Trong dạy học Làm văn, chúng
tôi thấy vẫn có các hiện tượng như: Làm văn theo mẫu, đơn điệu, hình thức
dạy học nhàm chán, nặng nề... Một điểm nữa là việc dạy Làm văn chưa
hướng HS đến những vấn đề của cuộc sống phong phú, đa chiều nên chưa
đem lại sự hứng thú, bổ ích người học.
Hơn nữa, việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm, hoạt động ngoại khóa
trong nhà trường phổ thông hiện nay chưa có kế hoạch, nội dung, phương
pháp cụ thể nên chưa đạt được kết quả cao trong dạy và học. Gần như các
thì người học phải trải nghiệm.
Theo tác giả Ngô Thị Thu Dung, trải nghiệm và sáng tạo là bản chất
của hoạt động ở người. Bản chất của người học nói riêng, của con người nói
chung là hoạt động mang tính trải nghiệm, sáng tạo. Tính sáng tạo ở đây được
hiểu là sáng tạo ở cấp độ cá nhân, không phải ở cấp độ xã hội.
3
Ngoài ra, còn nhiều bài báo, chuyên đề, chuyên luận như Tạp chí khoa
học giáo dục, số 113, tác giả Bùi Ngọc Diệp khẳng định: Hoạt động trải
nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với
hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông và có mối quan hệ bổ sung, hỗ
trợ cho hoạt động dạy học.
Nhìn chung, tất cả các nghiên cứu đều cho rằng: Bản chất của hoạt
động hoặc là quá trình trải nghiệm. Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò
của hoạt động trải nghiệm sáng tạo: Bằng hoạt động trải nghiệm của bản thân,
mỗi học sinh vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức hoạt
động cho chính mình nên học sinh không những biết cách tích cực hóa bản
thân, khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân mà còn biết cách tổ chức hoạt
động, tổ chức cuộc sống và biết làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm.
Dựa vào nghiên cứu trên, khóa luận này chúng tôi xin tiến hành: Tổ
chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học Làm văn ở
lớp 11 trường THPT.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích:
- Xác lập các hoạt động, các bước tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng
tạo trong dạy học Làm văn 11 ở trường THPT.
- Làm rõ các vấn đề xung quanh việc tổ chức hoạt động trải nghiệm
Phương pháp thực nghiệm: vận dụng lí thuyết tổ chức các hoạt động
TNST vào dạy học Làm văn ở lớp 11.
7. Đóng góp
Với định hướng tổ chức các hoạt động TNST trong việc dạy học Làm
văn ở lớp 11, chúng tôi muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc đổi mới
phương pháp dạy học. Đồng thời bản thân có dịp nâng cao kiến thức, trau dồi
kinh nghiệm, phục vụ cho tương lai.
5
Bên cạnh đó, khóa luận bước đầu hình thành và phát triển khả năng tìm
tòi, nghiên cứu khoa học của người viết.
8. Bố cục khóa luận
Bố cục khóa luận gồm 4 phần:
- Mở đầu
- Nội dung
Chương 1: Cơ sỏ lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Cách thức tổ chức hoạt động TNST cho học sinh trong dạy
học Làm văn.
Chương 3: Giáo án thực nghiệm.
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
động giáo dục (theo nghĩa hẹp) dùng để chỉ các hoạt động giáo dục được tổ
chức ngoài giờ dạy học các môn học. Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng)
bao gồm cả hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp).
Các hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) gồm:
- Hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh);
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề
giáo dục; hoạt động giáo dục hướng nghiệp (cấp trung học cơ sở và trung học
phổ thông) giúp học sinh tìm hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định
hướng nghề nghiệp;
- Hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp trung học phổ thông) giúp
học sinh tìm hiểu được một số kiến thức cơ bản về công cụ, kĩ thuật, quy trình
công nghệ, đối với một số nghề phổ thông đã học; hình thành và phát triển kĩ
năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn; có một số kĩ năng sử dụng công
cụ, thực hành kỹ thuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm đơn giản.
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, hoạt động giáo dục (theo
nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy và hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
1.1.2. Khái niệm trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường cần được hiểu là hoạt
động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng việc làm cụ
thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng
dẫn của nhà trường, đối tượng được trải nghiệm nằm trong thực tiễn. Qua
thực tiễn trải nghiệm, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí
nhất định. Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn,
8
phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng theo
- Kinh nghiệm giảng dạy là hệ thống các phương pháp đào tạo được
giáo viên đúc kết và cải thiện dần trong quá trình làm việc thực tế của mình.
Một số nhà sư phạm xem xét thuật ngữ trải nghiệm qua khái niệm
“thực hành” có nghĩa là, xem xét nó trong việc tiến hành quá trình đào tạo,
cũng như kết quả của nó. Chính vì vậy, M.N. Skatkin đã kết luận rằng: “theo
nghĩa rộng, trải nghiệm được hiểu là sự thực hành trong quá trình giáo dục
và đào tạo” . Việc phân định giữa trải nghiệm và thực hành, theo ý kiến của
Trerehoba T. E., trải nghiệm mang hàm nghĩa rộng hơn thực hành vì nó đóng
vai trò là nền tảng của tri thức và nó là một tiêu chí để nhận biết sự thật. Nói
chung người ta công nhận trải nghiệm là mối quan hệ thực tế giữa chủ thể và
đối tượng. Ý nghĩa của điều này là chúng ta cố gắng để có trải nghiệm một
cách chủ động, có tính cách mạng và có ý thức.
Nhận thức luận có bản chất là “trải nghiệm”. Những người tham gia
vào các hoạt động như du lịch, thể thao mạo hiểm cũng nhấn mạnh vai trò
của trải nghiệm.
Từ “trải nghiệm” có thể liên quan đến các sự kiện được cảm nhận trực
tiếp cũng như sự khôn ngoan có được khi phản ánh lại các sự kiện.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, bản chất trải nghiệm của con người có sự
thay đổi về chất từ thời kì tiền hiện đại đến thời kì hiện đại và hậu hiện đại.
1.1.2.2. Sáng tạo
Theo Từ điển tiếng Việt, sáng tạo nghĩa là tạo ra những giá trị mới về
vật chất hoặc tinh thần, tìm ra cái mới, cách giải quyết mới không bị gò bó,
phụ thuộc vào cái đã có.
Theo O.B. Tokmakoba trong bài viết với tên gọi Kinh nghiệm hoạt
động sáng tạo thì theo ông: Đặc trưng của hoạt động kinh nghiệm sáng tạo
trong quá trình giáo dục từ xa thì kinh nghiệm sáng tạo rất rộng. Thông
thường, sáng tạo được chia thành các lĩnh vực: trí tuệ, nghệ thuật, thủ công,
10
tạo và định hình. Sự sáng tạo có thể giáo dục được, nhưng phải theo một cách
khác với con đường truyền tải kiến thức và kĩ năng.
Bản chất của hoạt động sáng tạo nằm ở nội dung của các yếu tố giáo dục
cơ bản của con người, mà đối với nó không nên gò ép vào một hệ thống các
hành động nhất định. Những hệ thống này đều có đặc điểm của riêng mình.
1.1.3. Vai trò trải nghiệm sáng tạo trong dạy học nói chung và dạy làm
văn nói riêng
HĐTNST trong nhà trường phổ thông được thực hiện nhằm mục tiêu
đào tạo ra những con người có chí hướng, có đạo đức, có định hướng tương
lai, có khả năng sáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã
học vào thực tế, đồng thời biết chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh.
HĐTNST về cơ bản mang tính chất là các hoạt động tập thể trên tinh thần tự
chủ cá nhân, với sự nỗ lực nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng
của mỗi cá nhân trong tập thể.
HĐTNST coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của học
sinh, vì vậy nên tổ chức cho học sinh và giáo viên cùng tham gia bàn bạc, nêu
ý kiến hoặc tự học sinh xây dựng kế hoạch và phân chia công việc, nhiệm vụ
rồi thực hiện. Tùy thuộc vào đặc trưng về văn hóa, khí hậu, đặc điểm vùng
miền, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, nhà trường có thể lựa
chọn nội dung và hình thức tổ chức sao cho phù hợp và hiệu quả.
1.1.4. Định hướng đổi mới về dạy học Ngữ văn
1.1.4.1. Định hướng về nội dung
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nếu chỉ loay hoay trong những
nội dung lí luận dạy học bộ môn, chỉ dừng lại ở những quan niệm, nguyên tắc,
yêu cầu, phương pháp thì không thể đổi mới lâu dài và triệt để. Đổi mới
phương pháp dạy học phải gắn liền với đổi mới nội dung. Đối với giáo viên
Trung học, đó là cách hiểu mới về môn học, về bản chất khoa học và nghệ
12
13
và HS, giữa HS với nhau. Mặt khác, giao tiếp hóa đòi hỏi khi dạy học bất cứ
phân môn nào, nội dung gì cũng phải đặt nó vào ngữ cảnh, phát hiện ra mục
đích, ý định và cách thức trình bày nội dung và hình thức của văn bản sao cho
đạt được mục đích mà người nói, người viết đặt ra.
- Phương pháp dạy học mới cũng đòi hỏi phát huy triệt để nguyên tắc
lấy HS làm trung tâm, đòi hỏi phải phát huy tính tích cực, chủ động của HS
trong khi học tập ở lớp, ở nhà và khi giải các bài tập, làm các bài văn. Cần
học tập các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cụ thể nhằm phát huy
tính tính cực của học sinh mà nhiều nước trên thế giới đã vận dụng như
phương pháp dạy học thông qua các trò chơi, tổ chức học tập và trao đổi theo
nhóm... Phải phát huy tối đa tính tích cực, tính sáng tạo của học sinh - chủ thể
học tập ở tất cả mọi khâu, từ việc chuẩn bị bài, sưu tập tư liệu, phát biểu trong
tổ, nhóm; tự đánh giá và đánh giá bạn ... theo đặc trưng bộ môn.
- Có thể hiểu một cách ngắn gọn phương pháp dạy học là một hệ thống
các thao tác và cách thức cụ thể để tiến hành một giờ dạy học theo một mục
nhất định. Và như vậy, chúng tôi có thể cho rằng: Không có phương pháp nào
chung cho mọi người, phương pháp là cụ thể; phương pháp gắn liền với nội
dung, nội dung là linh hồn của phương pháp.
Có thể nói, không có phương pháp nào là phương pháp lấy học sinh
làm trung tâm mà chỉ có định hướng lấy học sinh làm trung tâm. Bản chất của
định hướng này là nhằm tích cực hóa hoạt động của người học.
Tinh thần chung của phương pháp dạy học mới là: tôn trọng HS, tránh
áp đặt, linh hoạt, chủ động và sáng tạo. HS tự mình tiếp xúc với các kiểu văn
bản, tự mình suy nghĩ, khám phá ra những đặc điểm nổi bật của các văn bản,
kiểu bài đó.
Công việc của người thầy rất quan trọng và cũng rất khác trước ở chỗ:
Phải biết tổ chức hệ thống công việc để hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, tự
trong giờ Làm văn tuyệt nhiên không được coi nhẹ việc giúp học sinh thông
hiểu. Thông hiểu lí tuyết là tiền đề cho thực hành tốt. Có điều, lí thuyết trong
15
làm văn là lí thuyết định hướng cho thực hành chứ không phải là kiến thức
trừu tượng xa vời. Nguyên tắc thực hành được thể hiện chặt chẽ và liên tục
trong quá trình giải bài tập ứng dụng nghiên cứu bài mẫu và trong hệ thống
bài tập tổng hợp. Tuy vậy, kĩ năng thực hành của học sinh còn được phát triển
ngay trong quá trình GV hướng dẫn HS nắm vững lí thuyết. Không nên hiểu
hoạt động thực hành chỉ có được trong giới hạn của các bài tập. Ngay trong
khâu tự nắm kiến thức, phát hiện luận điểm và kết cấu nội dung bài viết lí
thuyết, năng lực tư duy và năng lực thực hành của học sinh cũng được phát
triển một cách vững chắc. Tách rời thực hành với lí thuyết là khuynh hướng
vừa không đúng về lí luận, vừa không sát với thực tế giảng dạy Làm văn.
Làm văn đề cao nguyên tắc phát huy óc sáng tạo của HS trong quá trình
học làm văn. Phát huy năng lực sáng tạo là nguyên tắc của dạy học nói chung
cũng như của việc dạy Làm văn.
Lâu nay chúng ta thường phàn nàn và lên án lối giảng dạy áp đặt về lí
thuyết, GV chỉ nhằm mục đích đưa những kết luận có sẵn. HS ít có dịp bộc lộ
suy nghĩ, tình cảm của bản thân. Đúng ra, bài làm văn phải là dịp để HS được
bộc lộ rõ nhất con người mình về kiến thức, về tình cảm, về khả năng suy
luận, về phong cách cá nhân. Để phát huy nguyên tắc trên, GV cố gắng đa
dạng hóa cách dạy để HS bộc lộ con người mình.
1.1.7. Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được tổ chức dưới nhiều hình thức khác
nhau. Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định.
Dưới đây là một số hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo
định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới.
sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức
của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các
em tác phong nhanh nhẹn…
17
1.1.7.3. Tổ chức diễn đàn
Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy
sự tham gia của học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý
kiến của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và
những người lớn khác có liên quan. Diễn đàn là một trong những hình thức tổ
chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực. Thông qua diễn đàn, học sinh có
cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của
mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng
của các em. Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn
nhau. Vì vậy, diễn đàn như một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu
đạt ý kiến của mình một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè và những người
khác. Diễn đàn thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và đa dạng với
những hình thức hoạt động cụ thể, phù hợp với từng lứa tuổi học sinh.
1.1.7.4. Sân khấu tương tác
Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật
tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu
đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia.
Phần trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực
hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả.
Mục đích của hoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để học
sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lí tình huống thực tế gặp phải
trong bất kì nội dung nào của cuộc sống. Thông qua sân khấu tương tác, sự
tham gia của học sinh được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho học sinh