TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
BÙI THỊ HẢI YẾN
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 10
QUA ĐỌC HIỂU CHÙM CA DAO
THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2016
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
BÙI THỊ HẢI YẾN
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 10
QUA ĐỌC HIỂU CHÙM CA DAO
THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA
Bùi Thị Hải Yến
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
HĐ TNST: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Nxb: Nhà xuất bản
VHDG: Văn học dân gian
SGK: Sách giáo khoa
THPT: Trung học phổ thông
Tr: Trang
GS.TS: Giáo sƣ Tiến sĩ
GS: Giáo sƣ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .........................................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................3
4. Đối tƣợng nghiên cứu..............................................................................................3
5. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu .........................................................................................4
7. Đóng góp .................................................................................................................4
8. Bố cục khoá luận .....................................................................................................4
NỘI DUNG .................................................................................................................5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .....................................................5
1.1. Cơ sở lí luận .........................................................................................................5
nghĩa” (Ngữ văn 10) ..................................................................................................22
2.3.1.2. Hoạt động 2: tái hiện hình tƣợng nhân vật ...................................................25
2.3.1.3 Hoạt động 3: Phân tích, cắt nghĩa chùm ca dao “than thân, yêu thƣơng tình
nghĩa” ........................................................................................................................27
2.3.1.4 Hoạt động 4: Đánh giá cảm xúc nhân vật trữ tình ........................................35
2.3.2 Dạy ca dao dân ca là dạy lòng nhân ái và coi tình thƣơng là lẽ sống cao nhất
của con ngƣời. ...........................................................................................................35
2.3.2.1 Ca dao là phần lời của những bài ca thiên về tình cảm.................................35
2.3.2.2 Ca dao dân ca là những lời ca giúp con ngƣời hoàn thiện nhân cách ...........38
2.3.2.3 Bài học nhận đƣợc từ chùm ca dao “than thân, yêu thƣơng tình nghĩa” ......39
CHƢƠNG 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM ..............................................................43
KẾT LUẬN ...............................................................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học dân tộc, văn học dân gian giữ vị trí và vai trò vô cùng
quan trọng. “Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dƣỡng tâm hồn
dân tộc Việt Nam”. Trong kho tàng quý báu ấy, ca dao là những viên ngọc quý, là
cung đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng, gọi thức dậy những miền sâu
thẳm, thầm kín nhất trong tâm hồn ngƣời dân đất Việt.
Trong xu thế hội nhập hiện nay, các quốc gia dân tộc không muốn tự đánh mất
mình thì phải giữ gìn đƣợc bản sắc dân tộc trong đó có những giá trị truyền thống.
Đặc biệt đối với thế hệ trẻ, những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc càng cần gắn bó
với cội nguồn và bồi đắp tâm hồn dân tộc. Trong chƣơng trình từ Tiểu học đến
Trung học phổ thông, ca dao chiếm số lƣợng lớn nhất so với các thể loại văn học
dân gian khác đƣợc đƣa vào chƣơng trình giảng dạy. Điều ấy minh chứng cho vị trí,
vai trò quan trọng của ca dao trong việc bồi dƣỡng, xây đắp những tình cảm thẩm
dục. Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng,
những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách
kết nối ngƣời học và những kiến thức đƣợc học với thực tiễn.
Kolb (1984) cũng đƣa ra một Lý thuyết về học từ trải nghiệm (Experiential
learning), theo đó, học là một quá trình trong đó kiến thức của ngƣời học đƣợc tạo
ra qua việc chuyển hóa kinh nghiệm, nghĩa là, bản chất của hoạt động học là quá
trình trải nghiệm.
Ở Việt Nam, tác giả Đinh Thị Kim Thoa vận dụng lí thuyết học từ trải nghiệm của
Kolb (1984) để tìm hiểu về hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Theo tác giả, để phát triển sự
hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của ngƣời học nhƣng để phát
triển và hình thành năng lực (phẩm chất) thì ngƣời học phải trải nghiệm.
Theo tác giả Ngô Thị Thu Dung, trải nghiệm và sáng tạo là bản chất của hoạt
động ở ngƣời. Bản chất hoạt động của ngƣời học nói riêng, của con ngƣời nói chung
là hoạt động mang tính trải nghiệm, sáng tạo, tính sáng tạo ở đây đƣợc hiểu là sự
sáng tạo ở cấp độ cá nhân, không phải ở cấp độ xã hội.
Ngoài ra còn nhiều bài báo, chuyên đề, chuyên luận nhƣ Tạp chí Khoa học
giáo dục , Số 113, tác giả Bùi Ngọc Diệp khẳng định: Hoạt động trải nghiệm sáng
tạo là các hoạt động giáo dục thực tiễn đƣợc tiến hành song song với học động dạy
2
học trong nhà trƣờng phổ thông và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động
dạy học.
Nhìn chung tất cả các nghiên cứu đều cho rằng: Bản chất của hoạt động hoặc
là quá trình trải nghiệm. Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của hoạt động
trải nghiệm sáng tạo: Bằng hoạt động trải nghiệm của bản thân, mỗi học sinh vừa là
ngƣời tham gia, vừa là ngƣời kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình
nên học sinh không những biết cách tích cực hoá bản thân, khám phá bản thân, điều
chỉnh bản thân mà còn biết cách tổ chức hoạt động, tổ chức cuộc sống và biết làm
nguyên tắc của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo qua chùm ca dao Than
thân, yêu thƣơng tình nghĩa.
- Do thời gian và giới hạn của một khoá luận, chúng tôi chỉ tập trung nghiên
cứu thực ngiệm ở chùm ca dao Than thân, yêu thƣơng tình nghĩa (Ngữ văn 10)
sau này có điều kiện, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu ở những đề tài sau.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp lý thuyết: phƣơng pháp phân tích- tổng hợp, phƣơng pháp so
sánh đối chiếu.
Phƣơng pháp thực nghiệm: vận dụng lí thuyết tổ chức các hoạt động trải
nghiệm sáng tạo vào thiết kế bài giảng chùm ca dao Than thân, yêu thƣơng tình
nghĩa (Ngữ văn 10)
7. Đóng góp
Định hƣớng tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong việc dạy học văn
bản trữ tình ở trƣờng THPT.
Chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phƣơng pháp dạy học.
Đồng thời bản thân có dịp nâng cao kiến thức, trau dồi kinh nghiệm, phục vụ cho
tƣơng lai.
Bên cạnh đó, khoá luận bƣớc đầu hình thành và phát triển khả năng tìm tòi,
nghiên cứu khoa học của ngƣời viết.
8. Bố cục khoá luận
Bố cục khoá luận gồm 4 phần:
- Mở đầu
- Nội dung
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo.
4
NỘI DUNG
sở nhấn mạnh cảm xúc và ý tƣởng sáng tạo, cấp Trung học phổ thông phát triển
công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo.
1.1.2. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chƣơng trình giáo dục phổ thông
mới của Việt Nam
Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ đích, có kế
hoạch hoặc có sự định hƣớng của nhà giáo dục, đƣợc thực hiện thông qua những
cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới ngƣời học nhằm thực hiện
mục tiêu giáo dục.
Trong chƣơng trình giáo dục phổ thông hiện hành của Việt Nam, kế hoạch
giáo dục bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp). Khái niệm
hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) dùng để chỉ các hoạt động giáo dục đƣợc tổ
chức ngoài giờ dạy học các môn học và đƣợc sử dụng cùng với khái niệm hoạt động
dạy học các môn học. Nhƣ vậy, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt
động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp).
Các hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) gồm:
- Hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trƣờng, sinh hoạt Đội Thiếu niên
Tiền phong Hồ Chí Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh).
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đƣợc tổ chức theo các chủ đề giáo dục.
- Hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp (cấp Trung học cơ sở và cấp Trung học
phổ thông) giúp học sinh tìm hiểu để định hƣớng tiếp tục học tập và định hƣớng
nghề nghiệp.
- Hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp Trung học phổ thông) giúp học sinh
hiểu đƣợc một số kiến thức cơ bản về công cụ, kĩ thuật, quy trình công nghệ, an toàn
lao động, vệ sinh môi trƣờng đối với một số nghề phổ thông đã học; hình thành và
phát triển kĩ năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn; có một số kĩ năng sử dụng
công cụ, thực hành kĩ thuật theo quy trình công nghệ để lảm ra sản phẩm đơn giản.
Trong chƣơng trình giáo dục phổ thông mới, kế hoạch giáo dục bao gồm các
môn học, chuyên đề học tập (gọi chung là môn học) và hoạt động trải nghiệm sáng
- Hình thức có tính khám phá:
Tham quan;
- Hình thức có tính tham gia lâu dài:
- Hình thức có tính thể nghiệm, tƣơng tác:
;
H
,
xemina; Sân khấu hóa.
- Hình thức có tính cống hiến:
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng tiếp nhận văn bản chùm ca dao than thân yêu thƣơng tình
nghĩa trong nhà trƣờng THPT hiện nay
Trong chƣơng trình Ngữ văn hiện nay, việc đổi mới phƣơng phƣơng pháp dạy
học theo hƣớng hiện đại đã và đang diễn ra phổ biến và thu đƣợc nhiều kết quả khả
quan. Việc chúng tôi lựa chọn đề tài này cũng xuất phát từ yêu cầu đổi mới đó.
Đặc điểm cấy trúc chƣơng trình THPT hiện nay quan tâm đến việc dạy tác
phẩm văn học theo loại thể. Nhiều văn bản mới nhƣ văn bản nhật dụng đƣợc đƣa
vào trong chƣơng trình. Vì vậy, nghiên cứu cảm thụ không chỉ đóng khung một
cách phiến diện vào vấn đề hứng thú mà cần chú ý nhiều hơn vào giá trị thực tiễn
(gắn liền với tâm sinh lí, xã hội, mĩ học…). Bởi những đặc trƣng rất riêng của văn
bản trữ tình so với các loại văn bản khác, đòi hỏi học sinh phải có năng lực cảm thụ
văn chƣơng mới có thể phân tích, cắt nghĩa, bình giá những chi tiết, hình ảnh trong
phần nhỏ vào việc đổi mới dạy học với hi vọng tác phẩm văn học sẽ gần gũi, thiết
thực và hứng thú hơn với học sinh THPT.
1.2.2. HĐTNST qua chùm ca dao than thân yêu thƣơng tình nghĩa ở trƣờng
THPT
Từ thời kì đầu của nền giáo dục nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phƣơng pháp để đào tạo nên những ngƣời tài đức là: “Học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trƣờng gắn liền với xã
hội”. Đây cũng là nguyên lí giáo dục đƣợc qui định trong Luật giáo dục hiện hành
của Việt Nam.
Một trong những yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
là phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển
9
toàn diện năng lực và phẩm chất ngƣời học. Việc triển khai hoạt động giáo dục trải
nghiệm sáng tạo chính là thực hiện quan điểm, định hƣớng “học đi đôi với hành” lý
luận gắn với thực tiễn, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp dạy và học theo
hƣớng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của ngƣời học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
móc, chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý
các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học.
Trong thời gian gần đây, hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã đƣợc đƣa vào thực
hiện trong chƣơng trình dạy học Ngữ Văn ở THPT. Đặc biệt với việc vận dụng vào
dạy học các văn bản trữ tình đã mang lại cho học sinh cơ hội và điều kiện phát triển
năng lực, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, vận dụng kiến thức, kỹ năng,
đồng thời xây đắp ở các em những phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Việc đƣa hoạt động
trải nghiệm sáng tạo vào dạy học các văn bản trữ tình đã giúp hình thức và không
gian dạy học đƣợc đổi mới, mở rộng ra ngoài lớp học, tạo cơ hội cho học sinh đƣợc
tự mình trải nghiệm, đƣợc bày tỏ quan điểm, kết nối kinh nghiệm học đƣợc trong
động sinh hoạt văn hóa cộng đồng trên đồng ruộng, bãi lúa, ven sông, những buổi
hội làng... Có thể nói sinh hoạt nhân dân chính là môi trƣờng sống của tác phẩm thơ
ca dân gian. Tính ngẫu hứng đầy thẩm mỹ của thơ ca dân gian thực sự chỉ đƣợc thể
hiện trọn vẹn khi đƣợc đƣa vào môi trƣờng sinh hoạt diễn xƣớng.
Không tác động trực tiếp vào cảm giác nhƣ nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật
biểu diễn, văn học dân gian tác động tới con ngƣời bằng những ký hiệu ngôn ngữ.
Là một bộ phận của văn học dân gian, thơ ca dân gian thông qua những tín hiệu
ngôn ngữ, đã thể hiện phong phú và linh hoạt những hình tƣợng thẩm mỹ văn học,
phản ánh mọi mặt của cuộc sống sinh hoạt, những suy tƣ và diễn biến tình cảm của
con ngƣời. Nghệ thuật ngôn từ trong những sáng tác thơ ca dân gian có mối mối
liên hệ mật thiết với các yếu tố khác nhƣng lại vừa có tính độc lập tƣơng đối. Đó là
sự tổng hợp của nhiều yếu tố nghệ thuật bao gồm âm nhạc, động tác, điệu bộ và
thành phần nghệ thuật ngôn từ đó vừa có.
Trong nhiều thập kỷ qua việc nghiên cứu văn học dân gian vẫn không ngừng
đƣợc tiến hành và phát triển.Văn học dân gian là đối tƣợng quan tâm của nhiều thế hệ
các nhà khoa học và những thành tựu đạt đƣợc về lĩnh vực nghiên cứu này rất đáng
11
ghi nhận. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu tiến trình phát triển của nền
văn học dân gian trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của các thể loại văn học dân gian,
tiến hành việc phân loại và nhận diện các thể loại, xem xét đặc trƣng và tính chất, nội
dung và hình thức của chúng; tìm hiểu mối quan hệ, ảnh hƣởng giữa văn học dân gian
và văn học thành văn trong từng giai đoạn, từng thời kỳ; tìm hiểu mối quan hệ giữa
văn học dân gian với văn nghệ dân gian và văn hoá dân gian, văn học và văn hoá học.
Nghiên cứu về các thuộc tính (hay còn gọi là các đặc trƣng cơ bản) của văn
học dân gian các nhà nghiên cứu nhận thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
và tác động qua lại lẫn nhau. Trong các công trình của mình, các nhà nghiên cứu
phân chia các thuộc tính của văn học dân gian theo nhiều cách khác nhau. Có ngƣời
thể. Ngƣợc lại nếu sáng tác ấy trái với thuần phong mỹ tục sẽ bị loại trừ.
Khác với văn học viết, những tác phẩm thơ ca dân gian đƣợc lƣu truyền và
sáng tác lại, mỗi cá nhân đều có thể sử dụng, sửa chữa, bổ sung tác phẩm theo quan
điểm và khả năng nghệ thuật của mình, khiến tác phẩm bị biến đổi và dần đƣợc
hoàn thiện, phong phú hơn về nội dung cũng nhƣ hình thức nghệ thuật, giúp cho thơ
ca dân gian ngày một phát triển cả về số lƣợng và chất lƣợng.
Tóm lại, tính tập thể chính là một phƣơng thức đặc thù, là một tiêu chí quan
trọng để phân biệt thơ ca dân gian với các tác phẩm văn học thành văn.
2.1.2 Tính truyền miệng
Trong giáo trình Văn học dân gian- Sáng tác truyền miệng dân gian Việt
Nam ( ĐHSP TPHCM), ông Nguyễn Tấn Phát cho rằng VHDG là một môn khoa
học chuyên nghiên cứu các sáng tác truyền miệng văn học dân gian. Định nghĩa này
đã khẳng định đƣợc tầm quan trọng của tính truyền miệng. Thơ ca dân gian với tƣ
cách là một bộ phận của VHDG, là một loại nghệ thuật của tập thể nhân dân lao
động, đƣợc tồn tại và lƣu hành theo phƣơng thức truyền miệng. Đây là điểm khác
biệt rất cơ bản giữa thơ ca dân gian với văn học viết. Quá trình truyền miệng vẫn
tiếp tục kể cả khi tác phẩm thơ ca dân gian đã đƣợc ghi chép lại.
Có ý kiến cho rằng tính truyền miệng đƣợc ra đời từ thời kỳ chƣa có chữ viết.
Tuy nhiên, ta không thể phủ nhận rằng tính truyền miệng có những hình thức, vẻ
đẹp mà văn học viết không thể có đƣợc. Đến khi có chữ viết thì đại bộ phận dân thất
học. Hơn nữa các phƣơng tiện in ấn đều nằm trong tay giai cấp thống trị. Truyền
miệng, vì vậy trở thành phƣơng tiện diễn đàn duy nhất và hữu hiệu nhất. Nó đáp
13
ứng đƣợc nhu cầu thông tin nhanh, tức thời, thoả mãn nhu cầu sinh hoạt nghệ thuật
của ngƣời dân và có khả năng truyền bá đƣợc những nội dung mà giai cấp thống trị
không thể kiểm soát đƣợc.
Nhƣ vậy, rõ ràng cần phải xem truyền miệng nhƣ là một đặc điểm về phƣơng
nhân vật, từ ngữ, hình ảnh, số lƣợng câu chữ…
Nói đến dị bản, ta thấy có hai điểm nổi bật. Đó là những yếu tố cố định không
thay đổi và những yếu tố mới. Đó có thể là sự thay đổi tạo ra cái hoàn toàn mới, xa
rời và thoát ly các tác phẩm cùng một công thức truyền thống. Hoặc dù ít nhiều vẫn
tồn tại một yếu tố liên hệ với cái cũ đã có nhƣng hầu nhƣ không đi theo một hệ
thống nội dung và hình thức thƣờng thấy trong hầu hết các hiện tƣợng dị bản. Thơ
ca dân gian sáng tạo bằng con đƣờng liên tục, hình thành các dị bản để đáp ứng nhu
cầu thực tiễn của nhân dân.
Tính dị bản làm cho tác phẩm văn học dân gian không đứng yên nhất thành
bất biến mà dễ thích ứng phù hợp với nhu cầu thị hiếu của nhân dân các địa
phƣơng, các thời kỳ lịch sử cụ thể khác nhau. Dị bản có tính sóng ngầm cho nên cứ
tiếp tục lƣu truyền trong dân gian thì các sác tác vẫn tiếp tục đƣợc nhuộm màu sắc
và có những dị bản khác. Chúng ta cần nhìn nhận rằng tính dị bản đã có những tác
động tích cực cho sự tồn tại và phát triển của thơ ca dân gian.
2.1.5 Tính nguyên hợp
Trong một tác phẩm thơ ca dân gian, tính nguyên hợp thể hiện ở hai
phƣơng diện. Một là nội dung, tính nguyên hợp biểu hiện thông qua hình tƣợng và
thái độ của nhân dân đối với hiện thực đƣợc phản ánh. Thứ hai là về hình thức, các
tác phẩm thơ ca dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết
hợp của nhiều phƣơng tiện nghệ thuật khác nhau thể hiện ở sự kết hợp giữa ngôn từ
với các loại hình nghệ thuật khác nhƣ nhạc, vũ, động tác, hóa trang…mà trong sự
kết hợp ấy ngôn từ đóng vai trò chủ yếu. Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ
khi tác phẩm mới hình thành. Một bài dân ca trong đời sống thực của nó, không chỉ
có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát...
Tính nguyên hợp chi phối tất cả các thành phần nghệ thuật, các yếu tố chất
liệu tạo nên bản thân nó nhƣ ngôn từ, nhạc, vũ, động tác, nghệ thuật tạo hình... Vì
vậy, phải quan sát đời sống thực của tác phẩm văn học dân gian qua việc sử dụng,
lƣu truyền và biểu diễn của nhân dân mới dễ dàng nhận rõ tính nguyên hợp. Bởi thơ
15
Từ quan niệm này cho thấy, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động có
động cơ, có đối tƣợng để chiếm lĩnh, đƣợc tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học
16
sinh, đƣợc thực hiện trong thực tế, dƣới sự định hƣớng, hƣớng dẫn của nhà trƣờng.
Đối tƣợng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn. Qua trải nghiệm thực tiễn, ngƣời học
có đƣợc kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định. Sự sáng tạo sẽ có đƣợc khi
phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để
giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc
nhận biết đƣợc vấn đề trong các tình huống tƣơng tự, độc lập nhận ra chức năng
mới của đối tƣợng, tìm kiếm và phân tích đƣợc các yếu tố của đối tƣợng trong các
mối tƣơng quan của nó, hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp đƣợc
các phƣơng pháp đã biết để đƣa ra hƣớng giải quyết mới cho một vấn đề.
Nhƣ vậy, HĐ TNST coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của
HS, về cơ bản là hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự
nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập
thể. Đây là những HĐGD đƣợc tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để HS
trải nghiệm và sáng tạo. Mục đích chính mà HDTNST hƣớng tới đó là hình thành
và phát triển những phẩm chất, tƣ tƣởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và
những năng lực chung cần có ở con ngƣời trong xã hội hiện đại. Điều đó đòi hỏi các
hình thức và phƣơng pháp tổ chức HĐ TNST phải đa dạng, linh hoạt, HS tự hoạt
động, trải nghiệm là chính.
2.2.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
HĐTNST phải đƣợc xây dựng theo một kế hoạch cụ thể. Đây là việc làm quan
trọng, quyết định tới một phần sự thành công của hoạt động.
Việc tổ chức các HĐTNST cụ thể đƣợc tiến hành theo các bƣớc sau:
Bƣớc 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chƣơng trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến
nghĩa của ngƣời bình dân trong xã hội phong kiến xƣa qua nghệ thuật riêng, đậm
màu sắc dân gian của ca dao.
- Biết cách tiếp nhận và phân tích ca dao qua đặc trƣng thể loại.
- Đồng cảm với tâm hồn ngƣời lao động và yêu quý những sáng tác của họ.
Bƣớc 4: Xác định nội dung và phƣơng pháp, phƣơng tiện, hình thức của
hoạt động
Mục tiêu có thể đạt đƣợc hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và
hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động.
18