ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
VĂN THỊ HUỆ
HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC DIOXIN
(Nghiên cứu trường hợp quận Đống Đa, thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------
VĂN THỊ HUỆ
HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC DIOXIN
(Nghiên cứu trường hợp quận Đống Đa, thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà
cô giáo trong và ngoài khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong những năm học, cho tôi có được
kiến thức để hoàn thành luận văn này.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Cục Người có
công; Phòng Người có công Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố
Hà Nội; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận Đống Đa, cán bộ
thực hiện chính sách lao động thương binh và xã hội tại các phường trên địa
bàn quận và cá nhân người nhiễm chất độc hóa học dioxin đã giúp tôi trong
quá trình khảo sát, thu thập số liệu để thực hiện luận văn.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè những
người luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn
thiện luận văn.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2014
Người thực hiện
Văn Thị Huệ
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG VÀ DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ..................................................................... 3
3. Ý nghĩa của nghiên cứu .............................................................................. 8
4. Câu hỏi nghiên cứu..................................................................................... 9
giúp, dụng cụ chỉnh hình .............................................................................. 46
2.3.3. Các hoạt động thực hiện chế độ ưu đãi giáo dục đối với con người
nhiễm chất độc hóa học dioxin ..................................................................... 47
2.4. Các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa trong dịp tết và các ngày lễ lớn .......... 48
2.5. Những mong muốn tiếp theo của người đã được thụ hưởng chính sách . 49
CHƯƠNG 3. ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CTXH CÁ NHÂN TRONG
VIỆC TRỢ GIÚP NGƯỜI NHIỄM CĐHH TIẾP CẬN CHÍNH SÁCH .... 52
3.1. Mục đích của can thiệp .......................................................................... 52
3.2. Tiếp cận thân chủ, thu thập thông tin và thống nhất kế hoạch trợ giúp.......... 56
3.2.1. Tiếp cận thân chủ ............................................................................... 56
3.2.2. Thu thập thông tin .............................................................................. 56
3.2.3. Thống nhất kế hoạch trợ giúp ............................................................. 59
3.3. Các hoạt động trợ giúp trực tiếp ............................................................ 62
3.3.1. Hoạt động cung cấp nội dung chi tiết của chính sách được thực hiện đối
với người HĐKC bị nhiễm CĐHH trên địa bàn ............................................ 62
3.3.2. Giải đáp những thắc mắc của thân chủ về chính sách và hoàn thiện hồ sơ... 64
3.3.3. Gửi hồ sơ, kết với cán bộ LĐTBXH trên địa bàn ................................ 66
3.4. Lượng giá và chuyển giao ..................................................................... 68
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ .................................................................. 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nội dung đầy đủ
DANH MỤC BẢNG VÀ DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1. DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng khảo sát người HĐKC bị nhiễm CĐHH .............................. 38
Bảng 2.2. Bảng khảo sát con người HĐKC bị nhiễm CĐHH........................ 39
Bảng 2.3. Bảng tổng hợp đối tượng người HĐKC bị nhiễm CĐHH trên địa
bàn quận Đống Đa........................................................................................ 43
2. DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của người
HĐKC bị nhiễm CĐHH ............................................................................... 39
Biểu đồ 2.2. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của con người
HĐKC bị nhiễm CĐHH ............................................................................... 40
Biểu đồ 2.3. Hình thức tiếp cận thông tin chính sách của người HĐKC bị
nhiễm CĐHH ............................................................................................... 41
Biểu đồ 2.4. Mức độ hài lòng của người dân đối với hoạt động thực hiện chế
độ trợ cấp, phục cấp hàng tháng ................................................................... 45
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác xã hội hiện nay đang là một nghề khá mới ở Việt Nam nói
chung và ở các lĩnh vực xã hội nói riêng, nó đang được nhìn nhận dưới nhiều
góc độ khác nhau. Có ý kiến cho rằng, CTXH là việc thực hiện các công việc
từ thiện, nhân đạo nhưng bên cạnh đó cũng có ý kiến CTXH là một nghề
nghiệp chuyên môn, trợ giúp những đối tượng yếu thế trong xã hội khi họ
không tự giải quyết được vấn đề của mình. Đối tượng của CTXH gồm nhiều
nhóm người yếu thế khác nhau như người già cô đơn, lang thang không nơi
người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH ngày
29/6/2005; Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006; Nghị định số
31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013).
Sau một quá trình thực hiện chính sách đối với các đối tượng yếu
thế trong xã hội nói chung và đối với đối tượng người nhiễm chất độc
hóa học dioxin nói riêng cần có sự đánh giá hoạt động thực hiện chính
sách để rút ra bài học kinh nghiệm, góp phần nâng cao nhận thức, trách
nhiệm của người thực hiện chính sách, để xem xét mức độ hài lòng của
người được thụ hưởng đối với chính sách nhằm đề xuất một số khuyến
nghị về giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện chính sách. Vì vậy,
tôi đã chọn hướng nghiên cứu “Hoạt động thực hiện chính sách đối với người
nhiễm chất độc hóa học dioxin” (Nghiên cứu trường hợp quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội) làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành công
tác xã hội của mình.
Thực hiện nghiên cứu này, bản thân tôi mong muốn góp một phần công
sức nhỏ bé cùng với các cấp, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong nỗ lực
giảm thiểu nỗi đau da cam; thông qua phương pháp CTXH cá nhân tạo điều
kiện giúp người nhiễm CĐHH và gia đình họ tiếp cận chính sách. Từ đó, giúp
người nhiễm chất độc hóa học dioxin và gia đình ổn định cuộc sống vật chất,
2
tinh thần và hòa nhập cộng đồng góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội
quận Đống Đa nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Nhiều nhà khoa học của Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Úc cũng đang tiếp tục
nghiên cứu hậu quả của chiến dịch Rand Hand. Tại Hoa Kỳ ngày 22/6/2001
thượng nghị sỹ Đảng Dân chủ West Viginia John Rokerfeller IV đã đưa ra dự
Cựu chiến binh gia hạn thỏa thuận hiện nay với NAS để đưa thêm năm báo
cáo khoa học nữa (được thực hiện hai năm một lần). Dự luật này cũng bác bỏ
quy định mà theo đó một căn bệnh được xem là có liên quan đến hoạt động
phục vụ trong quân ngũ của cựu chiến binh nếu căn bệnh đó phát ra trong thời
hạn là 30 năm kể từ ngày phục vụ tại Việt Nam.
Thượng nghị sỹ Rokerfeller nói “báo cáo gần đây nhất của NAS khẳng
định rằng không có cơ sở khoa học nào để cho rằng căn bệnh ưng thư liên
quan đến việc tiếp xúc với dioxin sẽ phát ra trong một khoảng thời gian nhất
định nào đó”. Dự luật S.1091 sẽ bác bỏ “hạn định độc đoán này”.
Từ thực tế trên, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp hỗ trợ các đối tượng
bị nhiễm chất độc hóa học dioxin đang đặt ra rất bức xúc và cần thiết. Việc
nghiên cứu đề tài này sẽ đưa ra những nhận thức cơ bản về cuốc sống hiện tại
của người dân bị hậu quả chất độc hóa học dioxin. Đồng thời đề xuất những
giải pháp khắc phục, hỗ trợ mang tính khả thi đối với người dân bị hậu quả
chất độc hóa học dioxin do chiến tranh.
2.2. Các nghiên cứu trong nước
Chất độc da cam, một loại chất độc được tạp chí Time của Mỹ liệt vào
danh sách “50 phát minh tồi tệ nhất của loài người”, cho thấy những tác hại
không những trước mắt và về lâu dài của nó đối với con người và môi trường.
Nghiên cứu về chất độc da cam, những ảnh hưởng của chất độc da cam tới
sức khỏe đời sống con người, những hậu quả mà chất độc da cam để lại cho
môi trường và cho con người là một đề tài mà từ lâu đã được nhiều nhà khoa
học nghiên cứu. Hiện nay, các nhà khoa học tiếp tục có nhiều đề tài nghiên
4
cứu về tác hại của CĐHH tới sức khỏe con người, những bệnh, tật mà con
người mắc phải nguyên nhân là do nhiễm chất độc da cam và những ảnh
hưởng tới môi trường sống và sản xuất. Bên cạnh đó còn có những công trình
đời sống vật chất cũng như tinh thần.
Trong bài viết “Chất độc hóa học – Tội ác còn đó!” của tác giả Vũ
Công Phong có đề cập nhiều đến quá trình CĐHH bị rải ở Việt Nam, các loại
hóa chất và mức độ nguy hiểm của CĐHH. Trong bài viết của mình, tác giả
đã đưa ra rất nhiều số liệu và minh chứng bằng những số liệu rõ ràng để bạn
đọc thấy tác hại mà CĐHH mang lại. Những tác hại này không chỉ ảnh hưởng
tới người HĐKC mà còn ảnh hưởng lâu dài tới những thế hệ sau này. Con số
người nhiễm CĐHH đang thực sự đáng báo động. Bài viết cũng là lời kêu gọi
toàn xã hội hãy quan tâm tới những người nhiễm CĐHH nâng cao chất lượng
cuộc sống hơn nữa.
Bài viết “Chất da cam và những nỗi đau hiện tại” trên trang web
vietnamconghoa2012.blogspot.com như một lần nữa tố cáo tội ác của CĐHH
mà nạn nhân Việt Nam phải nhận. Bài viết tập trung phân tích tác hại và hậu
quả của CĐHH tới đời sống của người nhiễm và ảnh hưởng của CĐHH. Với
những hình ảnh về đời sống thực trạng hiện nay của người nhiễm CĐHH.
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài chất độc da cam như:
“Thực trạng ô nhiễm đất tại phía Nam và sân bay Đà Nẵng” do Văn phòng 33
cùng với công ty tư vấn Hatfield dưới sự tài trợ của Quỹ Ford đã thực hiện
nghiên cứu lấy mẫu môi trường và con người tại khu vực sân bay Đà Nẵng.
“Chất độc da cam và tỷ lệ ung thư của người Việt Nam sau 30 năm” của tác
giả Đỗ Quý Toàn. “Nghiên cứu biến đổi một số chỉ tiêu sinh học về di truyền,
sinh hóa, miễn dịch, huyết học ở bệnh nhân có nguy cơ phơi nhiễm dioxin”
của nhóm tác giả Nguyễn Văn Trường, Nguyễn Thị Phi Phi. Đề tài: “Nghiên
cứu tẩy độc đất nhiễm nặng chất dioxin bằng phân hủy sinh học ở căn cứ quân
sự của Mỹ trước đây tại Đà Nẵng” của các nhà khoa học thuộc Viện Công
nghệ sinh học tiến hành….Hầu hết các đề tài này đều nghiên cứu về tác hại và
ảnh hưởng của chất da cam tới sức khỏe, đời sống con người, những căn bệnh
6
quả nghiên cứu định lượng mới đưa ra số liệu thống kê số lượng nạn nhân,
thực trạng về sức khỏe, tình trạng các dạng bệnh tật của người bị hậu quả
CĐHH, khả năng tự phục vụ trong đời sống hàng ngày của người dân bị hậu
quả CĐHH do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam....
Thời gian qua, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trương chính sách,
giải pháp trợ giúp người bị nhiễm CĐHH như ban hành chế độ đối với người
HĐKC và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH nhưng chưa có một nghiên cứu
khoa học nào đánh giá về việc thực hiện chính sách và mức độ hài lòng của
người được thụ hưởng các chính sách đó ra sao mà chỉ dừng lại ở góc độ đưa
ra các chính sách về chế độ ưu đãi đối với người bị nhiễm chất độc hóa học
dioxin do vậy chưa có sự đánh giá hoạt động thực hiện chính sách. Tôi đã
chọn hướng nghiên cứu “Hoạt động thực hiện chính sách đối với người nhiễm
chất độc hóa học dioxin” (Nghiên cứu trường hợp quận Đống Đa, thành phố
Hà Nội) làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành CTXH của mình.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ vận dụng một số lý thuyết Xã hội học và CTXH
như: thuyết nhu cầu, thuyết vai trò, thuyết hệ thống…
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đối với Nhà nước: kết quả nghiên cứu có thể giúp cho quá trình hoạch
định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách, chiến lược về các đối tượng đặc
biệt quan tâm trong xã hội. Đặc biệt là nạn nhân của hậu quả chiến tranh như
nạn nhân tai nạn bom mìn, người bị nhiễm chất độc hóa học dioxin, người
khuyết tật, người nghèo….
Đối với địa phương: nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng
hoạt động thực hiện chính sách đối với người nhiễm CĐHH tại địa phương,
góp phần giúp địa phương có những điều chỉnh, quy hoạch, hỗ trợ phù hợp
9
6. Giả thuyết nghiên cứu
Về cơ bản các hoạt động thực hiện chính sách đối với người nhiễm chất
độc hóa học dioxin tại quận Đống Đa theo đúng quy trình, thủ tục thực hiện
chính sách.
Người nhiễm chất độc hóa học dioxin chưa hoàn toàn hài lòng với
những gì được thụ hưởng từ hoạt động thực hiện chính sách tại địa phương cụ
thể là thủ tục hành chính còn rườm rà, thái độ của người thực hiện chính sách.
Người dân có nhiều mong muốn như đơn giản hóa thủ tục hành chính;
nâng cao mức trợ cấp, phụ cấp hàng tháng…
Nhân viên CTXH có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp người
nhiễm chất độc hóa học dioxin tiếp cận chính sách.
7. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
7.1. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thực hiện chính sách đối với người
nhiễm chất độc hóa học dioxin trên địa bàn quận Đống Đa.
Khách thể nghiên cứu: Người nhiễm chất độc hóa học dioxin; người thực
hiện chính sách; hoạt động thực hiện chính sách đối với người nhiễm chất độc
hóa học dioxin; nhân viên CTXH trên địa bàn quận Đống Đa.
7.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Quận Đống Đa – thành phố Hà Nội
Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 03 năm 2013 đến tháng
6 năm 2014.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Người nhiễm chất độc hóa học dioxin là
người trực tiếp tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng
8/1961 đến ngày 30/4/1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ sử dụng chất độc
hóa học; con đẻ của người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
theo tỷ lệ phần trăm và lập bảng thống kê mức độ mức độ hài lòng của
người bị nhiễm chất độc hóa học dioxin đối với chính sách.
11
* Phỏng vấn sâu
Nhà nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài đã tiến hành phỏng vấn
sâu cá nhân 07 người, trong đó:
03 người là người nhiễm chất độc hóa học dioxin đại diện cho nhóm bị
bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với CĐHH.
02 người là cán bộ thực hiện chính sách (01 người là cán bộ phòng
Lao động – Thương binh và Xã hội; 01 người là cán bộ lao động – thương
binh phường).
02 người HĐKC bị nhiễm CĐHH nằm trong diện nhưng chưa được
hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước.
Các kết quả phỏng vấn sâu giúp cho người đọc hiểu rõ hơn, chi tiết hơn
về các vấn đề liên quan và là minh chứng cụ thể, sinh động cho các số liệu
nghiên cứu định lượng.
* Quan sát
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhà nghiên cứu đã tiến hành quan
sát thực trạng đời sống kinh tế xã hội địa phương; thái độ, hành vi của người
nhiễm chất độc dioxin đối với các vấn đề liên quan. Đặc biệt là việc quan sát
thân chủ trong tiến trình CTXH cá nhân.
Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên
cứu định lượng đã thu thập được.
8.2. Can thiệp: Phương pháp CTXH cá nhân
Mục đích của phương pháp CTXH cá nhân là nhằm giúp cá nhân, gia
đình phục hồi, củng cố và phát triển các chức năng xã hội, giúp họ giải quyết
vấn đề, cải thiện tình hình của họ thông qua sự tham gia tích cực và phát huy
nước phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tuân theo quy luật, xuất phát từ
dân, chính sách phải phù hợp với sức dân” (Khái niệm do Tổng bí thư Trường
Chinh đưa ra tại Đại hội VI, 12/1986).
“Chính sách xã hội là sự thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương
giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể
lãnh đạo, phù hợp với bản chất chế độ chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích và
trách nhiệm của cộng đồng, từng nhóm xã hội nhằm tác động trực tiếp vào
con người, điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với con người, con người
với xã hội hướng tới mục tiêu cao nhất, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của
nhân dân” (Khái niệm do PGS.TS Bùi Đình Thanh đưa ra).
1.1.2. Chất độc hóa học dioxin
Chất độc hóa học dioxin (Chất độc da cam): Là chất ở dạng lỏng có
chứa dioxin, sánh như dầu, màu da cam, không tan trong nước, dễ xâm nhập
qua lá và làm rối loạn hệ điều tiết sinh trưởng của cây, nguy hiểm đối với
người (theo Từ điển Tiếng Việt).
14
Chất độc da cam là một chất diệt cỏ được sản xuất vào những năm 1940
và ở dạng lỏng sánh như dầu, màu nâu thẫm không tan trong nước, tan trong
diesel và mỡ, dễ thâm nhập vào màng tế bào của lá, đặc biệt là loài cây lá kép.
Chất này đã được quân đội Mỹ và đồng minh sử dụng nhiều nhất trong chiến
tranh Việt Nam trong khoảng thời gian từ 10/8/1961 đến 30/6/1971 để làm trụi
lá rừng và rừng sú vẹt nhằm làm lộ ra các con đường vận tải và các căn cứ quân
sự, phá hủy mùa màng ngăn ta không có lương thực dự trữ. Để phân biệt với
các chất khác nhau, các thùng được mang những cái băng màu nhận dạng. Các
màu trong sắc cầu vồng được dùng làm tên các chất diệt cỏ được gọi theo tên
các băng màu trên thùng chứa nó: chất Xanh, chất Đỏ, chất Trắng… Tên “chất
màu Da cam” đại diện cho tất cả các chất diệt cỏ đã được sử dụng trong chiến
Việt Nam không chỉ có tác động trực tiếp mà còn ảnh hưởng lâu dài đến môi
trường sinh thái và những di chứng cho các thế hệ nạn nhân chất độc da cam2.
1.1.3. Người nhiễm chất độc hóa học dioxin
Người nhiễm chất độc hoá học dioxin là người HĐKC (được xác nhận là
người có công) và con đẻ của họ được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước. Chế
độ ưu đãi của họ bao gồm chế độ trợ cấp ưu đãi - áp dụng cho từng diện theo tỷ
lệ suy giảm khả năng lao động từ 21% - 40%, từ 41% - 60%, từ 61%- 80% và từ
81% trở lên. Mức trợ cấp được điều chỉnh theo mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người
có công và phù hợp, hài hoà cân đối với các mức trợ cấp người có công khác.
Ngoài chế độ trợ cấp ưu đãi còn có chế độ ưu đãi về y tế, giáo dục - đào tạo, lao
động, việc làm, tài chính, nhà, đất...cũng được thực hiện như thương binh, bệnh
binh có cùng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật hay bệnh tật (Theo
Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng).
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của cá nhân. Nếu nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ tạo nên cảm giác thoải
2
Thông tin cập nhật từ website htttp://www.vava.org.vn Trọng Kha – An Điền: “Chất độc da cam phát minh
tồi tệ nhất thế giới” và http://www.khoahoc.vn.H.T: “Chất da cam hủy hoại môi trường Việt Nam như thế
nào”
16
mái và an toàn cho sự phát triển và ngược lại, nếu không được đáp ứng thì sẽ
gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn tới những hậu quả nhất định.
Trong luận văn của mình, tôi chọn lý thuyết nhu cầu của Maslow.
Theo Maslow thì nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính:
nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs) con người luôn