đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng dự án đường quốc lộ 5b thuộc huyện gia lâm, thành phố hà nội - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các chữ viết tắt

vi

Danh mục bảng

vii

Danh mục hình

viii

MỞ ĐẦU

1

1


hại khi Nhà nước thu hồi đất đai

1.1.3

10
15

Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam

1.3

10

Chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất ở Việt Nam qua các thời kỳ

1.2.3

6

Chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư khi thu
hồi đất của một số nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế

1.2.2

4

Chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư khi thu hồi
đất của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam


Đánh giá việc thực hiện các chính sách và công tác bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa
bàn thành phố Hà Nội

25

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

27

2.1

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

27

2.2

Nội dung nghiên cứu

27

2.2.1

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gia Lâm

2.2.2

Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà

28
28

2.3.1

Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp

28

2.3.2

Phương pháp thu thập tài liệu, sơ liệu sơ cấp

28

2.3.3

Phương pháp so sánh

29

2.3.4

Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích số liệu và xử lý số liệu

29

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1




3.2

Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội

3.3

41

Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt
bằng của dự án đường Quốc Lộ 5B thuộc huyện Gia Lâm

43

Các văn bản pháp lý có liên quan đến dự án xây dựng đường

3.3.1

Quốc Lộ 5B

43

3.3.2

Sơ lược về dự án nghiên cứu

44



3.4

Đánh giá chung việc thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư tại dự án xây dựng đường Quốc Lộ 5B

70

3.4.1

Những mặt đạt được

70

3.4.2

Một số hạn chế, tồn tại

72

3.5

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải
phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

75

3.5.1

Các giải pháp chung



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

1

ADB

Ngân hàng phát triển Châu Á

2

BT - HT

Bồi thường, hỗ trợ

3

BT, HT & TĐC

Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

4

CHXHCN


Hội đồng bồi thường

10

HĐND

Hội đồng nhân dân

11

NĐ - CP

Nghị định Chính phủ

12

QĐ-UBND

Quyết định ủy ban nhân dân

13

UBND

Ủy ban nhân dân

14

TĐC

DANH MỤC BẢNG
Số bảng
3.1

Tên bảng

Trang

Kết quả sản xuất - kinh doanh của huyện Gia Lâm giai đoạn 2012 –
2014

33

3.2

Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm năm 2014

38

3.3

Tổng hợp kết quả thực hiện BT, HT & TĐC năm 2013 và 2014

42

3.4

Xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và không được bồi
thường, hỗ trợ tại dự án xây dựng đường Quốc Lộ 5B (Giai đoạn I
+ Giai đoạn II)

51

54

Ý kiến của hộ bị thu hồi đất trong việc bồi thường về tài sản gắn
liền với đất dự án xây dựng đường Quốc Lộ 5B

57

3.10

Tổng hợp các khoản hỗ trợ từ dự án xây dựng đường Quốc Lộ 5B

59

3.11

Tổng hợp số hộ gia đình, cá nhân đã được hưởng chính sách hỗ trợ
của dự án xây dựng đường Quốc Lộ 5B

3.12
3.13

63

So sánh giá đất bồi thường với giá đất tái định cư đối với đất ở tại
dự án xây dựng đường Quốc Lộ 5B

66


chuyển đổi mục đích sử dụng đất đáp ứng cho phát triển kinh tế xã hội là việc
làm tất yếu xảy ra thường xuyên ở tất cả các địa phương trên toàn lãnh thổ Việt
Nam. Đặc biệt là chuyển diện tích đất nông nghiệp sang quỹ đất phi nông nghiệp
thuộc các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và thương mại dịch vụ
và du lịch.
Thu hồi đất, bồi thường thiệt hại để giải phóng mặt bằng là khâu then chốt,
quan trọng. Bồi thường giải phóng mặt bằng là điều kiện ban đầu và tiên quyết để
triển khai các dự án.
Có thể nói "Giải phóng mặt bằng nhanh là đã hoàn thành được 1/3 đến 1/2 dự
án". Bồi thường giải phóng mặt bằng là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, nó tác
động tới mọi vấn đề đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng của cộng
đồng dân cư. Ảnh hưởng trực tiếp đến Nhà nước, Chủ đầu tư, đặc biệt là đối với
người dân có đất bị thu hồi.
Huyện Gia Lâm là một huyện kinh tế trọng điểm của thành phố Hà Nội.
Là huyện đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nhu cầu về đất phải
thu hồi để giành cho các nhu cầu về các khu đô thị, phát triển các khu công nghiệp,
thương mại, dịch vụ...cùng với nhiều dự án phát triển các tuyến giao thông mới
(đường liên tỉnh Hà Nội - Hưng Yên, đường Quộc lộ 5B Hà Nội - Hải Phòng). Từ
khi thực hiện công tác thu hồi đất giải phóng mặt bằng đến nay các vụ khiếu kiện
liên quan đến đất đai ngày càng tăng và tính chất ngày càng thêm phức tạp. Tỷ lệ
1


các vụ khiếu tố liên quan đến đất đai chiếm đến 80% tổng số vụ việc khiếu tố, làm
ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến an ninh trật tự và phát triển kinh tế xã hội ở địa
phương. Số tiền bồi thường chiết tỷ lệ quá lớn trong tổng chi phí của dự án mà khiếu
kiện vẫn tăng. Sự không công bằng trong bồi thường khi thu hồi đất do chính sách
của Nhà nước ta quy định triển khai trong thực tiễn còn nhiều điều chưa hợp lý gây
khó khăn không nhỏ khi thực hiện công việc này.
Vì vậy việc lựa chọn đề tài “Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thuờng

bồi thường cho gia đình người bị nạn, bồi thường danh dự (Viện ngôn ngữ
học, 2002).
- Theo khoản 12, Điều 3, Luật Đất đai (2013) quy định: “Bồi thường về
đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu
hồi cho sử dụng đất” (Quốc hội, 2013).
1.1.1.3. Hỗ trợ
- Hỗ trợ là giúp đỡ lẫn nhau, giúp thêm vào, hỗ trợ cho đồng đội (Viện
Ngôn ngữ học, 2002).
- Theo khoản 14, Điều 3, Luật Đất đai (2013) quy định: “Hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định
đời sống, sản xuất và phát triển” (Quốc hội, 2013).
1.1.1.4. Tái định cư
Tái định cư (TĐC) là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây
để sinh sống và làm ăn. TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi
khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển.
TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di
chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu
3


nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó. Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ
các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì
sự phát triển chung.
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở.
- Bồi thường bằng giao đất ở mới.
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở.
TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong
chính sách giải phóng mặt bằng (GPMB). Các dự án TĐC cũng được coi là các

năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý người dân là giữ được đất
để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất
nhưng họ vẫn không cho thuê. Trước tình hình đó đã dẫn đến công tác tuyên
truyền, vận động người dân tham gia di chuyển là rất khó khăn và việc hỗ trợ
chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này. Mặt
khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng, không được tập trung một
loại nhất định nên gây khó khăn cho công tác định giá bồi thường (Phan Văn
Hoàng, 2006).
Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:
+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống sinh hoạt của
người dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở, thay đổi môi trường sống.
+ Nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau do tồn tại chế độ cũ để lại và
do cơ chế chính sách không đồng bộ, chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế sử
dụng đất nên chưa giải quyết được các vướng mắc và tồn tại cũ.
+ Việc quản lý đất đai chưa chặt chẽ dẫn đến các hiện tượng lấn chiếm,
xây dựng nhà trái phép nhưng lại không được chính quyền địa phương xử lý dẫn
đến việc phân tích hồ sơ đất đai và áp giá phương án bồi thường gặp rất nhiều
khó khăn.
+ Thiếu quỹ đất dành cho xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng
khu tái định cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu.
+ Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám
vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở
khu vực mới điều kiện sống thì bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển.
5


+ Việc áp dụng giá đất ở để tính bồi thường giữa thực tế và quy định của
Nhà nước có những khoản cách khá xa cho nên việc triển khai thực hiện cũng
không được sự đồng thuận của những người dân.
Từ các đặc điểm trên cho thấy công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế; trong khi
đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt. Nhận
thức pháp luật chưa đến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số cán bộ quản
lý đất đai cùng với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai,
công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành
pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng
trực tiếp đến tiến độ GPMB (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005).
b) Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam nhưng lại là điều
kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển. Vì vậy, việc sử dụng thật tốt
nguồn tài nguyên đất không chỉ sẽ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước mà còn
là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xã hội. Quy hoạch sử dụng
đất được xem là một giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phát triển và quyết
định tương lai của nền kinh tế. Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp
vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết
những vấn đề mà quá trình phát triển đang đặt ra (Nguyễn Đức Minh, 2001).
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ
chức việc bồi thường, GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà
nước đóng vai trò tổ chức chỉ đạo, nhà đầu tư chịu trách nhiệm thực hiện. Bất kỳ
một phương án bồi thường, GPMB nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch
sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã
hội cao nhất; đã được hoàn thiện sau khi có ý kiến đóng góp của tổ chức, cá nhân
có liên quan một cách thực chất; đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt và công khai hóa theo đúng trình tự của pháp luật.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường
đất đai trên hai khía cạnh:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng
nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà
theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được
7

giá đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01
hàng năm.
8


- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất.
- Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên
quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử
dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có
những hiểu biết về định giá đất. Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế
nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi
chúng tham gia trong một thị trường nhất định. Hay nói cách khác, định giá đất
được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho
một mục đích cụ thể đã được xác định tại một thời điểm xác định.
Khi định giá đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của
từng loại đất tại thời điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù
hợp với thực tế. Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp
truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh
trực tiếp và phương pháp thu nhập.
Theo Phạm Đức Phong (2002), “giá đất tính bồi thường thiệt hại về đất là
thước đo phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà
đầu tư”. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải
sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, tình hình phổ biến
hiện nay là giá đất cho các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng
nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường GPMB và phát sinh
khiếu kiện. Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2005 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường cho thấy trong 17.480 đơn tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có
tới 12.348 trường hợp là khiếu nại về bồi thường, GPMB (chiếm 70,64%). Trong
các trường hợp khiếu nại về bồi thường, GPMB thì có tới 70% là khiếu nại về giá

những nước đang phát triển, người dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp thì đó là
vấn đề sống còn của họ. Dưới đây là một số kinh nghiệm trong công tác bồi
thường, GPMB của một số nước trên thế giới sẽ phần nào giúp ích cho Việt Nam
trong việc hoàn thiện chính sách bồi thường GPMB.
1.2.1.1. Trung Quốc
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và sở
hữu tập thể. Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước.
Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông dân lao
động. Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở
10


hữu Nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức
giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử dụng đất và
cho thuê đất.
Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất sử dụng cho cơ quan Nhà nước,
phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục đích
quốc phòng, an ninh. Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì được
Nhà nước giao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc là cho
thuê đất.
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử
dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia... thì Nhà nước có chính sách bồi
thường và tổ chức TĐC cho người bị thu hồi đất.
Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai
Trung Quốc quy định như sau:
- Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính
quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất. Quốc vụ
viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với
các loại đất khác. Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương ra quyết định thu hồi đất. Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ

khu đất đó, thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu
đất giải toả.
Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và TĐC của Trung Quốc
đều nhằm bảo vệ những người mà mức sống có thể bị giảm do việc thu hồi đất để
thực hiện các dự án. Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật về TĐC
của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông đã
đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện TĐC (Viện
Nghiên cứu địa chính, 2008).
1.2.1.2. Ngân hàng thế giới (WB)
Hầu hết các dự án được tài trợ bởi vốn vay của WB đều có chính sách về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do WB đưa ra. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư của tổ chức này có nhiều khác biệt so với luật, quy định, chính sách
của nhà nước Việt Nam nên có những khó khăn nhất định, nhưng bên cạnh cũng
có những ảnh hưởng tích cực tới việc hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và
12


tái định cư cho người bị thu hồi đất của Việt Nam. Trong công tác bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư thì vấn đề tái định cư được WB quan tâm nhiều hơn, hỗ trợ
những người bị ảnh hưởng trong suốt quá trình tái định cư, từ việc tìm nơi ở mới
thích hợp cho một khối lượng lớn chủ sử dụng đất phải di chuyển, tổ chức các
khu tái định cư, trợ giúp chi phí vận chuyển, xây dựng nhà ở mới, đào tạo nghề
nghiệp, cho vay vốn phát triển sản xuất, cung cấp các dịch vụ tại khu tái định cư
(Viện Nghiên cứu Địa chính, 2008).
1.2.1.3. Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Khung chính sách của ADB được xây dựng với mục tiêu tránh việc tái
định cư bắt buộc bất cứ khi nào có thể được hoặc giảm thiểu tái định cư nếu
không thể tránh khỏi di dân; đảm bảo những người phải di chuyển được giúp đỡ
để ít nhất họ cũng đạt mức sống sung túc như họ đã có được nếu không có dự án
hoặc tốt hơn. Với các nguyên tắc cơ bản là:

Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái
định cư của một số nước và các tổ chức ngân hàng quốc tế, Việt Nam chúng ta
cần học hỏi các kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ
GPMB ở một số điểm sau:
- Hoàn thiện các quy định về công tác định giá đất nói chung và định giá
đất để bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư nói riêng bằng cách thành lập các
đơn vị tư vấn trong việc điều tra, nghiên cứu và xây dựng giá đất ở các tỉnh,
thành phố cả nước để giúp nhà nước xây dựng được một khung giá phù hợp sao
cho hài hòa giữa lợi ích của người và lợi ích quốc gia.
- Công khai hoá đầy đủ các thông tin liên quan về dự án cũng như chính
sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ dân bị thu hồi được biết, được
bàn và kiểm tra.
- Quan tâm hơn nữa đối với việc lập quy hoạch và xây dựng các khu tái
định cư; các chế độ chính sách của những người bị thu hồi đất; giá cả bồi thường
phải sát với giá thị trường; xử lý hài hoà lợi ích và quyền lợi của người bị thu hồi
đất, chủ đầu tư với Nhà nước.
- Ngoài khoản tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định cần nghiên cứu chính
sách hỗ trợ trong việc chuyển đổi nghề và tạo công ăn việc sau khi bị thu hồi đất.
14


1.2.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất ở Việt Nam qua các thời kỳ
1.2.2.1. Chính sách bồi thường thiệt hại thu hồi đất đai trước năm 1987
Ngày 14/4/1959, Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 151-TTg
“Quy định về thể lệ tạm thời trưng dụng ruộng đất”, là văn bản pháp quy đầu tiên liên
quan đến việc bồi thường và tái định cư ở Việt Nam. Quy định như sau:
- Về việc bồi thường thiệt hại do lấy đất gây nên phải bồi thường hai khoản: về
đất thì bồi thường từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng thu.
- Đối với hoa màu thì được bồi thường đúng mức.

dụng đất lâu dài hay tạm thời quy định việc miễn giảm tiền bồi thường đối với
việc sử dụng đất để xây dựng hệ thống đường giao thông, thủy lợi…
1.2.2.3. Chính sách bồi thường thiệt hại thu hồi đất đai từ 1993 - 2003
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 (thay thế Hiến pháp
1980) đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân và
quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất được quy định cụ thể tại các Điều
17, 18, 23, 58;
Những quy định trên đã tạo điều kiện củng cố quyền hạn riêng của Nhà
nước trong việc thu hồi đất đai cho mục đích an ninh, quốc phòng và các lợi ích
quốc gia.
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993 được Quốc hội thông qua và
có hiệu lực từ ngày 15 thàng 10 năm 1993 với quy định "đất có giá" và người sử
dụng đất có các quyền và nghĩa vụ. Đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối
với công tác bồi thường GPMB của Luật đất đai năm 1993 (Quốc hội, 1993).
Luật Đất đai năm 1993 thực sự là văn bản pháp luật quan trọng nhất đối với
quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng và bồi thường đất đai, tài sản gắn liến
với đất.
Những quy định về bồi thường GPMB của Luật đất đai năm 1993 đã thu
được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về
sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế - xã hội nó đã dần mất đi vai
trò làm động lực thúc đẩy phát triển. Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ GPMB
đẩy nhanh tiến độ thi công công trình đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của
người sử dụng đất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai đã được
thông qua ngày 29/6/2001.
16


Để cụ thể hoá các quy định của Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính
sách bồi thường GPMB đã được ban hành, bao gồm:

chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ
quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính về
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ
quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ
quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về
việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử
dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về
phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư; Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình
tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
Từ thực tế tình hình quản lý Nhà nước và các chính sách đất đai, chính
sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ và hiện tại,
chúng tôi nhận thấy rằng việc chỉnh lý, bổ sung chính sách bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất là cần thiết nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ GPMB thực hiện
CNH - HĐH, ổn định đời sống nhân dân.

tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Quy định
trách nhiệm trong việc lập các khu tái định cư đảm bảo cơ sở hạ tầng đồng bộ
bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng; phù hợp với điều kiện, phong tục, tập
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status