Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐAỊ HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
Trương Ngọc Thắng
VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN
ĐỐI VỚI QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

(Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp
ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 60 31 30

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Vũ Hào Quang Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Vũ Hào Quang
HÀ NỘI - 2007

-1-

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài.
Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ta đã xây
dựng chiến lƣợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Trong vòng hơn 20
năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, chúng ta đã đạt đƣợc những
thành tựu đáng ghi nhận trong tăng trƣởng kinh tế và phát triển xã hội. Từ
một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với hai thành phần chính là kinh tế
Nhà nƣớc và kinh tế tập thể, đến năm 1989, kinh tế ngoài quốc doanh ở
Việt Nam đƣợc chính thức thừa nhận và nhanh chóng trở thành một bộ phận
trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của nƣớc ta. Sự ra đời của khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng giao
lƣu hàng hóa, khai thác những tiềm năng sẵn có để phát triển sản xuất, nâng
cao đời sống nhân dân, tạo đà cho nền kinh tế nƣớc ta phát triển với tốc độ
nhanh hơn.
Hiện nay, việc phát triển mạnh các hình thức kinh tế ngoài quốc
doanh là một chủ trƣơng lớn của Đảng và Nhà nƣớc để nâng cao tính năng
động và hiệu quả của các doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh và
thích ứng với nền kinh tế thị trƣờng, đó chính là động lực thúc đẩy phát

từ 200 lao động trở lên chỉ chiếm khoảng 2% [Niên giám thống kê, Nxb.
Thống kê, Hà Nội.2006].
Số lƣợng doanh nghiệp có nhiều biến động, sự biến động này có
nhiều nguyên nhân khác nhau; rủi ro trong cạnh tranh hoặc làm ăn thua lỗ,
bị phá sản Thậm chí còn có nhiều doanh nghiệp gian lận trong đăng ký và
hoạt động không theo pháp luật. Công tác quản lý Nhà nƣớc đối với doanh
nghiệp sau khi đƣợc cấp phép hoạt động chƣa chặt chẽ. Trong nền kinh tế
thị trƣờng, các doanh nghiệp phải cạnh tranh mạnh mẽ, ngƣời lao động phải
làm việc với cƣờng độ cao, những tiêu cực và tệ nạn không thể ngăn chặn
ngay đƣợc; Nhiều doanh nghiệp không ký hợp động lao động với ngƣời lao
động, trốn tránh nộp bảo hiểm xã hội cho ngƣời lao động, quyền lợi của
ngƣời lao động bị vi phạm.
Việc Việt Nam đã chính thức bƣớc vào hội nhập kinh tế quốc tế. Quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh, sự cạnh
tranh trong nƣớc và quốc tế ngày càng gay gắt, trong khi đó năng suất lao
động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn thấp, dẫn đến khả năng
cạnh tranh còn hạn chế, trình độ chuyên môn của phần lớn ngƣời lao động
còn thấp, ý thức tổ chức kỷ luật chƣa cao, tác phong công ngiệp chƣa định
hình rõ và nguy cơ doanh nghiệp phá sản, ngƣời lao động mất việc làm
ngày càng ra tăng, điều này ảnh hƣởng trực tiếp đến ngƣời lao động, đến sự
-3-

di động lao động.
Có thể thấy rằng quá trình hội nhập kinh tế sẽ thu hút ngày càng
nhiều đầu tƣ nƣớc ngoài, góp phần giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.
Đến cuối 2006, Việt Nam đã cấp giấy phép cho trên 8.056 dự án đầu tƣ,
hiện 7.078 dự án còn hiệu lực, với số vốn trên 66,7 tỉ USD, vốn thực hiện
trên 33,3 tỉ USD, giải quyết việc làm cho hơn 1,2 triệu LĐ
1
.

doanh nhiệp, các thiết chế và Công đoàn.
Từ những nhận định trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Vai trò của Công
đoàn đối với quyền lợi ngƣời lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc
doanh” với hy vọng qua nghiên cứu có thể nhận diện đƣợc một cách khoa
học về thực trạng hoạt động của Công đoàn nói chung và hoạt động bảo vệ
quyền lợi ngƣời lao động nói riêng, đồng thời chỉ ra những yếu tố ảnh
hƣởng đến hoạt động bảo vệ quyền lợi ngƣời lao động của Công đoàn trong
giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền lợi
ngƣời lao động của Công đoàn cơ sở trong loại hình kinh tế này.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu.
2.1.Ý nghĩa lý luận.
Nghiên cƣu này không nhằm đƣa ra những luận điểm bổ sung cho lý
thuyết xã hội học mà nhằm làm rõ chúng trong những phát hiện bằng
nghiên cứu thực nghiệm của mình.
Ngƣời lao động, tổ chức Công đoàn và chủ doanh nghiệp phải là một
khối thống nhất trong một cơ cấu nội tại của doanh nghiệp thì quyền lợi của
ngƣời lao động mới đƣợc bảo vệ. Mỗi một yếu tố này nếu không thực hiện
tốt vai trò của mình trong từng vị trí của nó trong doanh nghiệp thì quyền
lợi của ngƣời lao động cũng không đƣợc bảo vệ. Điều này đƣợc chỉ rõ trong
lý thuyết vai trò và lý thuyết cơ cấu chƣc năng. Trong nghiên cứu này, tác
giả đã làm rõ đƣợc nội dung này.
Quyền lợi của ngƣời lao động và chủ doanh nghiệp sẽ không mâu
thuẫn với nhau nếu hai bên lựa chọn những hành động phù hợp với lợi ích
của hai bên trong các hoạt động lao động của mình. Tổ chức Công đoàn mà
đại diện là các cán bộ Công đoàn cơ sở, một bên trung gian, có vai trò làm
cho lợi ích của hai bên phù hợp với nhau và với các Luật định. Nội dung
này phù hợp với luận điểm về sự phù hợp và cân bằng giữa các lợi ích của
các chủ thể trong tƣơng tác xã hội.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Thông qua nghiên cứu trƣờng hợp hai doanh nghiệp có vốn đầu tƣ

đối với quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của ngƣời lao động trong một
số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội. Vấn đề quyền lợi
ngƣời lao động là một vấn đề rộng, vì vậy, luận văn giới hạn tìm hiểu vai
trò của Công đoàn với việc bảo vệ quyền lợi về hợp đồng lao động, về thời
gian làm việc, lƣơng, thƣởng, an toàn lao động, điều kiện làm việc và việc
-6-

thực hiện một số chế độ chính sách đối với ngƣời lao động.
Trong nghiên cứu này, vai trò của Công đoàn đƣợc tìm hiểu không
phải thông qua tổ chức Công đoàn cơ sở mà qua việc tìm hiểu vai trò của
cán bộ Công đoàn cơ sở.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1. Mục đích nghiên cứu:
Làm sáng tỏ thực trạng quyền lợi ngƣời lao động và hoạt động bảo vệ
quyền lợi ngƣời lao động của Công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp ngoài
quốc doanh trên địa bàn Hà Nội. Đồng thời chỉ ra những yếu tố tác động
đến hoạt động của Công đoàn trong loại hình doanh nghiệp này.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
1) Chỉ rõ việc sử dụng các khái niệm công cụ và các luận điểm của lý
thuyết xã hội học làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu;
2) Khái quát một số đặc điểm cơ bản của hai doanh nghiệp lựa chọn.
Những đặc điểm này làm cơ sở thực tiễn cho việc phân tích các kết quả
nghiên cứu;
3) Mô tả và chỉ rõ những biểu hiện của một số quyền lợi của ngƣòi lao
động trong các doanh nghiệp nghiên cứu cũng nhƣ những doanh nghiệp
đối chứng thông qua các vấn đề về hợp đồng lao động, thoả uớc lao
động tập thể, các điều kiện làm việc ;
4) Phân tích vai trò của tổ chức Công đoàn thông qua các nhận định của
ngƣời lao động và cán bộ Công đoàn cơ sở đối với các hoạt động bảo vệ
quyền lợi ngƣời lao động của các cán bộ Công đoàn cơ sở;

ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ –
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI HÀ
NỘI

QUYỀN LỢI
NGƯỜI
LAO ĐỘNG
VAI TRÒ ĐỘI
NGŨ CÁN
BỘ
CÔNG
ĐOÀN CƠ
SỞ
TRÁCH
NHIỆM
CHỦ DOANH
NGHIỆP


tích sự biểu hiện của mối quan hệ trên.
Đặc điểm kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội và của một số doanh
nghiệp ngoài quốc doanh đƣợc lựa chọn, nhận thức của ngƣời lao động và
cán bộ Công đoàn cơ sở là những yếu tố ảnh hƣởng đến quyền lợi của
ngƣời lao động.
Vấn đề trung tâm của nghiên cứu là ”quyền lợi của ngƣời lao
động”. Quyền lợi của ngƣời lao động có đƣợc đảm bảo hay không, phụ
thuộc vào tác động của tổ chức Công đoàn đến việc thực hiện Luật lao động
và Luật Công đoàn của chủ doanh nghiệp.
Nghiên cứu này cụ thể hoá quyền lợi của ngƣời lao động trên ba
nhóm khía cạnh: nhóm thứ nhất bao gồm việc thực hiện hợp đồng lao động
và thoả ƣớc lao động tập thể giữa chủ doanh nghiệp và ngƣời lao động,
nhóm thứ hai gồm chế độ lƣơng, thƣởng và thời gian làm việc của ngƣời lao
động, nhóm thứ ba gồm điều kiện làm việc và an toàn lao động. Việc đảm
bảo quyền lợi của ngƣời lao động đồng nghĩa với việc đảm bảo ba nhóm
khía cạnh này. Mức độ quyền lợi của ngƣời lao động đƣợc đảm bảo cao hay
thấp sẽ phụ thuộc vào vai trò của tổ chức Công đoàn.
-10-

7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận chung
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đóng vai
trò là nền tảng, là cơ sở phƣơng pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện luôn đƣợc quan tâm vận
dụng và tuân thủ một cách chặt chẽ. Trong nghiên cứu, luận văn cũng sử
dụng một số lý luận của xã hội học là cơ sở phƣơng pháp luận.
Một số nguyên tắc về cơ sở lý luận đƣợc vận dụng trong nghiên cứu
này
+ Cơ cấu xã hội, những qui luật vận động và phát triển của xã hội là
đối tƣợng nghiên cứu của xã hội học phải đƣợc xem xét nhƣ nó đang tồn

biện chứng cũng đƣợc vận dụng để xác định và thu thập thông tin có tính
hiệu lực có độ chính xác cao.
7.2. Phương pháp thu thập thông tin
Trên cơ sở lý thuyết Mác -Lê nin về Công đoàn, lý thuyết Chức năng
cơ cấu, và lý thuyết Lựa chọn hợp lý và một số khái niệm, trong nghiên cứu
của mình, để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phƣơng
pháp và kỹ thuật khác nhau của xã hội học. Vừa nghiên cứu tài liệu sẵn có
vừa nghiên cứu điều tra mẫu kết hợp với phƣơng pháp phỏng vấn sâu và
phỏng vấn nhóm tập trung.
7.2.1. Phƣơng pháp trƣng cầu ý kiến
Phiếu trƣng cầu đƣợc xây dựng trên cơ sở của nội dung nghiên cứu,
bao gồm các câu hỏi liên quan đến nội dung nghiên cứu; về hình thức và
hiệu quả hoạt động của Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời lao
động, về nhận thức của ngƣời sử dụng lao động về Công đoàn, trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp đối với quyền lợi của ngƣời lao động
Đơn vị nghiên cứu là ngƣời lao động, đội ngũ cán bộ Công đoàn tại
hai doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và một số doanh nghiệp ngoài
quốc doanh khác trên địa bàn Hà Nội.
7.2.2. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng thu thập thông tin định tính nhằm tìm
hiểu sâu và khẳng định cho hệ thống thông tin thu đƣợc qua phƣơng pháp
trƣng cầu ý kiến. Các vấn đề không trực tiếp thu nhận đƣợc trong phiếu
trƣng cầu ý kiến đƣợc tác giả đƣa vào nội dung của các phỏng vấn sâu.
-12-

7.2.3. Phƣơng pháp thảo luận nhóm tập trung
Thảo luận nhóm tập trung để thu thập thông tin ban đầu phục vụ cho
việc xây dựng đề cƣơng nghiên cứu, thiết lập phiếu trƣng cầu và đề cƣơng
phỏng vấn sâu. Cuộc toạ đàm này đƣợc thực hiện vào thời gian đầu của giai
đoạn của nghiên cứu. Các thành viên tham gia cuộc toạ đàm bao gồm một

7.4. Kỹ thuật xử lý thông tin
Phần mềm SPSS và phần mềm NVIVO đƣợc sử dụng để xử lý, tổng
hợp và phân tích thông tin định lƣợng, thông tin định tính.
Các mô hình thống kê đơn biến, đa biến, kỹ thuật hồi qui, mô hình
logistic, phƣơng pháp kiểm định mức ý nghĩa đã đƣợc sử dụng để xử lý và
phân tích thông tin định lƣợng. Trong nghiên cứu này, mức ý nghĩa thống
kê đƣợc xác định với tất cả các kiểm định là 0.05
Phân tích theo ngữ nghĩa, sự liên kết các cấu trúc đã đƣợc sử dụng để
xử lý và phân tích thông tin định tính.
8. Kết cấu của luận văn: Luận văn gồm 3 phần
Phần một: Mở đầu, gồm 13 trang; từ trang 1 đến trang 13
Phần hai: Nội dung, gồm 93 trang; từ trang 14 đến trang 107
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài (Từ trang 14 đến
trang 43).
Chƣơng 2: Vai trò của Công đoàn đối với quyền lợi ngƣời lao động
trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Từ trang 44 đến trang 107).
Phần ba: Kết luận và khuyến nghị (Từ trang 108 đến trang 113).
-14-

PHẦN HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Kể từ khi ra đời cho đến nay, trong gần 80 năm hoạt động, tổ chức
Công đoàn Việt Nam luôn có vị trí xứng đáng trong xã hội, trong sự nghiệp
cách mạng của giai cấp và của dân tộc. Lịch sử đã chứng minh và khẳng
định những thành tựu của Công đoàn gắn liền với sự nghiệp vẻ vang, oanh
liệt của Đảng và nhân dân Việt Nam.
Trong nền kinh tế hiện nay, tổ chức Công đoàn đã không ngừng tìm
tòi, đúc kết những kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn để tự đổi mới tổ
chức mình. Góp phần vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới ở nƣớc ta do

thể là vấn đề giai cấp công nhân và điều kiện hoạt động sản xuất công
nghiệp.
Năm 1996, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam do Viện Friedrich –
Ebert- Stiftung (FES) tài trợ đã tiến hành khảo sát về nội dung “Điều kiện
lao động và xã hội ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, công tác Công
đoàn trong việc đại diện quyền lợi cho người lao động”. Cuộc khảo sát này
đã quan tâm tới vấn đề tiền lƣơng, thời gian lao động, thời gian nghỉ ngơi,
bảo hộ lao động, Bảo hiểm xã hội và vai trò của tổ chức công đoàn trong
khu vực kinh tế này.
Năm 1999 Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội đã có đề tài nghiên
cứu “Về vai trò của Công đoàn cơ sở trong việc giải quyết tranh chấp lao
động, hạn chế đình công chƣa đúng pháp luật”. Đề tài đƣợc nghiên cứu
trong phạm vi Hà Nội nhƣng đã đề cập đến một số vấn đề mang tính cấp
bách trong hoạt động Công đoàn giai đoạn hiện nay. Các tác giả đã làm rõ
một số vấn đề lý luận chung về đình công và quyền đình công của công
nhân lao động và tổ chức Công đoàn. Đồng thời chỉ ra nguyên nhân của
đình công, hậu quả kinh tế, chính trị, xã hội của đình công và trách nhiệm
của Công đoàn với vấn đề giải quyết tranh chấp lao động, hạn chế đình
công không đúng pháp luật.
Nội dung cuốn sách “Bác Hồ với Trƣờng Đại học Công đoàn”,
Nguyễn Viết Vƣợng chủ biên, Nxb Lao động, 2001 đã nhắc lại lời dạy của
Bác Hồ về việc cần phải giữ gìn quyền lợi cho công nhân, lợi ích của công
nhân đi đôi với lợi ích chung của nhà máy. Nếu đời sống cải thiện và mọi
ngƣời đƣợc khỏe mạnh, thì sẽ phấn khởi thi đua sản xuất làm cho nhà máy
-16-

thu đƣợc nhiều kết quả. “Nếu nhà máy phát triển thì có khả năng để cải
thiện đời sống của công nhân và nhân viên”.
- “Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn trong giai đoạn mới”.
Nxb Lao động, 1992, của tác giả Hoàng Thị Khánh đã nêu lên sự cần thiết


độ cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nƣớc.
Cũng trong năm 2000, Trƣờng Đại học Công đoàn thực hiện đề tài:
“Đào tạo, bồi dƣỡng Cán bộ Công đoàn” do Nguyễn Viết Vƣợng làm chủ
nhiệm đề tài. Qua đề tài cho thấy rõ vấn đề đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán
bộ Công đoàn là vấn đề cực kỳ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Năm 2002, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã nghiệm thu đề tài
“Tổ chức và hoạt động Công đoàn trong các Công ty cổ phần ở Việt Nam”
do trƣờng Đại học Công đoàn thực hiện. Đề tài đã đánh giá đƣợc thực trạng
về tình hình tổ chức và hoạt động Công đoàn trong các Công ty cổ phần và
để xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ
sở trong các công ty cổ phần.
Đề tài “Hệ thống Công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của Vũ Đạt
xuất bản 2006, tại Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã bàn đến sự biến đổi
về hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra còn có một số tác phẩm nhƣ: "Giai cấp Công nhân và Công
đoàn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới "của tác giả Nguyễn Văn Tƣ (Nxb
Sự thật); Từ năm 2003 –2005 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có
nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài”; “Tổ chức và hoạt động của Công đoàn
cơ sở trong tình hình mới”; “Công đoàn với phong trào thi đua trong công
nhân, viên chức, lao động thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nƣớc”.
Gần đây nhất, năm 2006, đề tài “Hoạt động Công đoàn trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội”. Do Nguyễn Viết
Vƣợng làm chủ biên đã đƣợc Nhà xuất bản Lao động xuất bản. Trong công
trình này, nhóm tác giả đã chỉ ra những hoạt động cần thiết của Công đoàn
trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh và đề ra một số giải pháp nhằm nâng
cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động Công đoàn trong loại hình kinh tế này.

ngƣời lao động theo ý nghĩa đúng đắn và trực tiếp của từ đó. Bằng cách
thƣờng xuyên và không ngừng sửa chữa những thiếu sót và sự cƣờng điệu
vấn đề của cán bộ phụ trách, đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu trong
công tác của các cơ quan kinh tế và bộ máy quản lý Nhà nƣớc, tuỳ khả năng
cho phép, Công đoàn cần tạo mọi điều kiện để cải thiện điều kiện làm việc
-19-

và sinh hoạt của công nhân viên chức, nâng cao phúc lợi vật chất của họ.
Việc Công đoàn thực hiện chức năng bảo vệ ở các xí nghiệp Nhà nƣớc tuyệt
nhiên không mang và không thể mang tính chất đấu tranh giai cấp về mặt
kinh tế. Nhƣ vậy, có thể thấy việc vận dụng những luận điểm của Mác,
Ăngghen và Lênin trong nghiên cứu này là điều đặc biệt có ý nghĩa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công đoàn
Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX,
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của dân tộc Việt Nam
đã khẳng định giai cấp công nhân Việt Nam là lực lƣợng tiên tiến lãnh đạo
cách mạng Việt Nam. Ngƣời hết sức quan tâm đến phong trào Công đoàn
ngay từ thời kỳ sơ khai, với tên gọi là Công hội đỏ. Hồ Chí Minh là ngƣời
đặt nền móng cho tổ chức Công đoàn Việt Nam. Điều đó thể hiện ở các
hoạt động của Ngƣời từ nƣớc ngoài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến ngƣời lao động về mọi
mặt. Sinh thời, khi đi thăm các cơ sở sản xuất, nhất là các xí nghiệp, Ngƣời
thƣờng xem xét nơi ăn, chốn ở của công nhân. Đó là sự thể hiện tinh thần
hết sức thiết thực, cụ thể trong quan điểm vì con ngƣời của vị lãnh tụ tối cao
đối với công nhân, lao động. Tinh thần đó cũng đƣợc thể hiện thƣờng xuyên
trong các bài nói, bài viết của Ngƣời. Tháng 1 năm 1957, thăm Trƣờng cán
bộ Công đoàn Trung ƣơng, sau khi nhắc nhở phải giáo dục đạo đức xã hội
chủ nghĩa, đạo đức cách mạng, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà
nƣớc, Ngƣời nhấn mạnh: “Mục đích của Công đoàn là phải cải thiện đời
sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của giai cấp công nhân

yếu tố có những chức năng cụ thể. Nghiên cứu cần xác định rõ trách nhiệm
của chủ doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền lợi của ngƣời lao động, xác
định trách nhiệm của ngƣời lao động là thực hiện đầy đủ các quy chế lao
động và cam kết với chủ doanh nghiệp, xác định rõ vai trò của cán bộ Công
đoàn cơ sở là kiểm tra, giám sát việc thực hiện những thoả thuận với ngƣời
lao động cũng nhƣ thực hiện luật Lao động của ngƣời sử dụng lao động,
thƣơng lƣợng với chủ doanh nghiệp khi quyền lợi của ngƣời lao động bị
xâm phạm, phổ biến và tƣ vấn cho ngƣời lao động những quy định của Luật
lao động.

2
“Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thôgns Công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Luận án tiến sỹ, Vũ Đạt,
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hn.2005
-21-

Khái niệm cấu trúc nhấn mạnh các yếu tố tạo thành khuôn mẫu định
hình hệ thống một cách tƣơng đối ổn định. Khái niệm hệ thống nhấn mạnh
một tập hợp các yếu tố đƣợc sắp xếp theo trật tự nhất định, nghĩa là đƣợc
định hình vừa độc lập vừa liên tục trao đổi qua lại với hệ thống môi trƣờng
xung quanh.
Môi trƣờng pháp lý bao gồm các Luật lao động và Luật Công đoàn là
cơ sở cho cấu trúc trên tồn tại và thực hiện các chức năng của mình. Lợi ích
của chủ doanh nghiệp và lợi ích của ngƣời lao động có quan hệ khăng khít
với nhau và với các luật định. Các luật định là khuôn mẫu để chủ doanh
nghiệp và ngƣời lao động thực hiện trách nhiệm của mình. Trong trƣờng
hợp, quyền lợi của ngƣời lao động không đƣợc đảm bảo thì cũng có nghĩa
là đã có những hành vi vi phạm luật định.
Tiếp cận theo hệ thống xã hội, luận văn xem xét Công đoàn cơ sở
nhƣ là một bộ phận của hệ thống xã hội, nó là một tiểu hệ thống. Vì thế nó
cũng thực hiện 4 chức năng cơ bản: thích nghi, theo đuổi mục tiêu, liên kết

Trong quản lý doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp lựa chọn những ứng xử
nào trong việc chi trả tiền lƣơng, thƣởng và các điều kiện làm việc khác để
đáp ứng nhu cầu về lợi ích của ngƣời lao động? Cán bộ Công đoàn cơ sở đã
làm gì để giám sát và theo dõi những hoạt động này của chủ doanh nghiệp?
1.3. Khái niệm vận dụng trong nghiên cứu:
1.3.1.Khái niệm vai trò xã hội
Khái niệm vai trò xã hội dùng để chỉ "vai diễn" hoặc trách nhiệm mà
cá nhân đảm đƣơng thực hiện trong một thời gian nhất định do mọi ngƣời
tín nhiệm, giao phó và mong đợi Ví nhƣ chủ tịch trong bộ máy chính
quyền, Cán bộ Công đoàn trong tổ chức Công đoàn.
Thông thƣờng các cá nhân khi đảm trách một vai trò nào đó luôn
luôn phải tuân thủ, thực hiện đúng vai trò mà xã hội mong đợi với "chức
danh” của nó phải thƣờng xuyên tự hoàn thiện nếu không muốn trở thành
lạc hậu hoặc bị loại bỏ. Xã hội luôn thông qua dƣ luận, đánh giá, nhận xét
về các vai trò của mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân cũng thƣờng xuyên nhận biết
về vai trò của mình, nhất là về các vai trò chính yếu mà theo thời gian nó
luôn biến đổi.
Những tình huống khác nhau luôn luôn xảy ra khi cá nhân sắm một
vai trò nhất định, thậm chí có trƣờng hợp xảy ra xung đột giữa các vai trò,
sự học hỏi, rút kinh nghiệm từ các khuôn mẫu của các vai trò mà ngƣời đảm
-23-

nhiệm phải học hỏi liên tục, học hỏi suốt đời và trung thực. Đó là bí quyết
để đạt tới thành công, đáp ứng sự mong đợi của xã hội.
Cần phải nhấn mạnh một lần nữa, nghiên cứu này không đề cập trực
tiếp đến vai trò của tổ chức Công đoàn mà nghiên cứu nó thông qua phân
tích vai trò của các cán bộ Công đoàn cơ sở. Chính vì vậy, khái niệm vai trò
ở đây đƣợc áp dụng trong nghĩa là vai trò xã hội của cá nhân chứ không
phải vai trò của tổ chức xã hội. Tuy nhiên, việc phân tích vai trò của cán bộ
Công đoàn cơ sở phải đƣợc khái quát cho vai trò của tổ chức Công đoàn cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status