1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH NGA
KHẢO SÁT NGÔN NGỮ BẢN TIN THỜI SỰ
TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội – 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ THANH NGA
KHẢO SÁT NGÔN NGỮ BẢN TIN THỜI SỰ
TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
1.3. Thể loại tin trên báo chí và bản tin thời sự trên
Đài Tiếng nói Việt Nam …………………………………………… 19
1.3.1. Đặc trưng của thể loại tin…………………………………….…19
1.3.2. Bản tin phát thanh…………………………………………….…21
1.3.3. Khái quát về bản tin thời sự trên Đài Tiếng nói Việt Nam ……22
1.4. Tiểu kết chƣơng 1………………………………………………….24
CHƢƠNG 2: KHẢO SÁT CẤU TRÚC VĨ MÔ CỦA TIN THỜI SỰ
TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
2.1. Độ dài tin………………………………….……………………… 25
2.2. Cấu trúc tin…………………………… …………………………27
2.2.1. Đặc trưng cấu trúc tin phát thanh……………… …………… 27
6
2.2.2. Câu chủ đề của tin………………………………………………28
2.2.3. Phần phát triển tin……………………………………….… … 35
2.3. Tiểu kết chƣơng 2………………………………………………….41
CHƢƠNG 3: KHẢO SÁT CẤU TRÚC VI MÔ CỦA TIN THỜI SỰ
TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
3.1. Sử dụng từ ngữ trong bản tin thời sự trên Đài TNVN………….43
3.1.1. Sử dụng lớp từ khẩu ngữ………………… ………………… 44
3.1.2. Sử dụng lớp từ thuộc phong cách viết………….……….… … 46
3.1.3. Sử dụng lớp từ trung hòa về phong cách…… …………… … 49
3.1.4. Sử dụng lớp từ đánh dấu về phong cách…………………… 52
3.2. Sử dụng câu trong bản tin thời sự trên Đài TNVN…………… 54
3.2.1. Số lượng âm tiết trong câu……………………………………….54
3.2.2. Cấu tạo câu……………………………………… …………… 57
3.3. Tốc độ thể hiện bản tin thời sự trên Đài TNVN……… ….…….60
3.3.1. Tốc độ trung bình……………………………………….….…….60
Trung hòa về phong cách
8
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT BIỂU ĐỒ
TÊN BIỂU ĐỒ
TRANG
Biểu đồ 2.1
Độ dài tin
26
Biểu đồ 2.2
Vị trí câu chủ đề tin
29
58
Biểu đồ 3.6
Tốc độ thể hiện bản tin trong so sánh với các thể
loại khác.
61
Biểu đồ 3.7
Tốc độ thể hiện các tin có nội dung phản ánh
khác nhau
62
Biểu đồ 3.8
Tốc độ thể hiện những tin có sắc thái thông tin
khác nhau
63
Biểu đồ 3.9
Cƣờng độ thể hiện bản tin thời sự so với các
chƣơng trình khác
68
Biểu đồ 3.10
Trƣờng độ âm tiết trong bản tin thời sự
76
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa, mục đích của đề tài.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nhiều loại hình báo chí, nhiều
phƣơng tiện truyền thông đại chúng xuất hiện, đáp ứng nhu cầu thông tin liên
tục của con ngƣời. Trong các loại hình báo chí, trên các phƣơng tiện thông tin
ra. Mặc dù, phát thanh có những ƣu thế so với các loại hình báo chí khác, nhƣ:
sự nhanh nhạy, lƣợng thông tin nhiều, ngƣời nghe có thể vừa nghe đài vừa làm
các việc khác…, nhƣng các nhà báo phát thanh vẫn phải không ngừng cải tiến,
sáng tạo trong tổ chức chƣơng trình, sử dụng ngôn ngữ, để thông tin phát thanh
đƣợc nhiều ngƣời đón nhận. Ngôn ngữ phát thanh nói chung và ngôn ngữ các
bản tin thời sự nói riêng không những truyền tải thông tin đến ngƣời nghe
nhanh, chính xác và dễ hiểu nhất, mà còn làm tăng giá trị biểu cảm, tính hấp dẫn
của tin.
Ngôn từ trong bản tin thời sự trên Đài TNVN cũng nhƣ trong các chƣơng
trình khác của Đài, các loại hình báo chí nói chung phải tuân theo chuẩn mực
của tiếng Việt. Nhà báo phải có nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Tuy nhiên, hiện nay, trong nhiều tác phẩm báo chí, các phóng viên, biên tập viên
dùng câu từ chƣa thật chuẩn xác, lạm dụng tiếng nƣớc ngoài, làm mất đi tính
chuẩn mực và trong sáng của tiếng Việt.
Vì những lý do trên, chúng tôi khảo sát ngôn ngữ bản tin thời sự trên Đài
TNVN. Mục đích của chúng tôi là tìm ra những đặc điểm về sử dụng ngôn ngữ
trong bản tin thời sự của Đài TNVN, nhƣ: cấu trúc tin, việc dùng câu từ trong
bản tin và thể hiện bản tin trên sóng….và những đặc điểm này tác động thế nào
đến việc truyền tải thông tin tới ngƣời nghe.
11
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Vấn đề về ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ phát thanh đã đƣợc nhiều tác giả
quan tâm, nghiên cứu. Trên thế giới, nhiều công trình về ngôn ngữ báo chí của
các tác giả, các nhà báo có ảnh hƣởng không nhỏ đối với nền báo chí nƣớc ta,
nhƣ: Vic gi của Loic Hervouet, một ký giả tên tuổi ở Pháp, đƣợc xuất
bản lần đầu tiên từ những năm 70 của thế kỉ trƣớc, hay Cm nang báo chí phát
n tin chi ti của Marray
Masterton và Roger Patching… Các tác giả đã đề xuất những cách “chọn từ”,
“đặt câu” “làm cho độc giả phải quan tâm”. Đặc biệt, trong Cm nang báo chí
mức, xứng đáng với vị thế của nó trong phát thanh.
Các khảo sát về ngôn ngữ phát thanh từ trƣớc tới nay chủ yếu đƣợc tiến
hành dựa trên văn bản viết. Trong khi đó, báo phát thanh là báo nói, ngôn ngữ
phát thanh là ngôn ngữ nói, ngƣời nghe tiếp nhận thông tin từ những âm thanh
nghe đƣợc. Đặc điểm ngôn ngữ phát thanh phải là những đặc điểm của ngôn ngữ
trên sóng phát thanh.
Từ thực tiễn nghiên cứu trên, chúng tôi chọn khảo sát ngôn ngữ bản tin
thời sự trên Đài TNVN – ngôn ngữ một thể loại quan trọng trong báo phát thanh
và chƣa đƣợc khảo cứu một cách riêng biệt.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Chúng tôi nghiên cứu, khảo sát cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô của tin
thời sự trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ
tập trung vào một số đặc điểm thuộc cấu trúc vĩ mô, nhƣ: độ dài tin, cấu trúc tin
và một số đặc điểm thuộc cấu trúc vi mô, nhƣ: sử dụng câu, từ trong tin, tốc độ
thể hiện bản tin, cƣờng độ, nhịp độ, trƣờng độ trong thể hiện bản tin trên sóng.
13
Tƣ liệu khảo sát là 486 văn bản tin và 106 file âm thanh tin đƣợc chọn
ngẫu nhiên từ các bản tin thời sự (bao gồm: bản tin trong nƣớc, bản tin thế giới
trong các chƣơng trình thời sự sáng (6 giờ), trƣa (12 giờ), tối (18 giờ) và các bản
tin thời sự tổng hợp, các bản tin 5 phút đầu giờ) trên hệ Thời sự - Chính trị -
Tổng hợp VOV1 của Đài TNVN từ tháng 7/2011 đến 6/2012.
Trong quá trình xử lý, khảo sát các tƣ liệu âm thanh, chúng tôi dùng phần
mềm biên tập âm thanh hiện đƣợc sử dụng rộng rãi tại Đài TNVN là Adobe
Auditon 1.5. Phần mềm này lƣu lại khá chính xác các thông số cƣờng độ, tốc độ,
nhịp độ… của âm thanh.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp:
- Phƣơng pháp thống kê, phân loại, sơ đồ hóa: Phƣơng pháp này đƣợc vận
dụng trong việc khảo sát và phân loại các kiểu câu, các lớp từ… đƣợc sử dụng
- Chƣơng 3: Khảo sát cấu trúc vi mô tin thời sự trên Đài TNVN.
Trong chƣơng này, chúng tôi khảo sát cách sử dụng từ ngữ, các dùng câu trong
bản tin thời sự trên Đài TNVN. Đặc biệt, chúng tôi đi sâu vào khảo sát việc thể
hiện bản tin thời sự trên sóng Đài TNVN. 15
CHƢƠNG 1: NHỮNG TRI THỨC CẦN YẾU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Khái quát về ngôn ngữ báo chí và đặc trƣng của ngôn ngữ phát thanh
1.1.1. Khái quát chung về ngôn ngữ báo chí
Báo chí là một hiện tƣợng xã hội đa chức năng, nhƣ: chức năng thông tin,
chức năng tƣ tƣởng, chức năng giải trí, chức năng tổ chức – quản lý xã hội, chức
năng chỉ đạo – giám sát xã hội… Trong đó, chức năng thông tin đƣợc xếp ở vị
trí đầu tiên. Báo chí cung cấp cho ngƣời đọc, ngƣời nghe, ngƣời xem thông tin
về các sự kiện kinh tế - xã hội. Các chức năng của báo chí, đặc biệt là tính sự
kiện quy định ngôn ngữ báo chí có những đặc điểm sau:
1.1.1.1. Tính chính xác
Ngôn ngữ báo chí phải bám sát, phản ánh chính xác các sự kiện, không
đƣợc thêm thắt, bịa đặt hay tƣởng tƣợng ra sự kiện, các chi tiết của sự kiện. Nhà
báo chỉ có quyền làm cho sự thật ấy “thật” hơn, bằng cách miêu tả thật chi tiết,
tiếp cận sự kiện ở các góc độ khác nhau, tìm cái mới, cái độc đáo, các chi tiết có
tác động tới ngƣời đọc, ngƣời nghe một cách mạnh mẽ nhất. Không chỉ phản
ánh chính xác sự thật mà ngôn từ của nhà báo cũng phải chính xác, không chứa
dài dòng, nhiều câu chữ khiến ngƣời đọc, ngƣời nghe không còn hứng thú để
theo dõi tiếp, không lĩnh hội đƣợc thông tin chính. Vì thế, phóng viên phải viết
các câu ngắn, nội dung thông tin dễ hiểu. Điều này đòi hỏi các tác phẩm báo chí
phải có nội dung súc tích, ký hiệu ngôn ngữ ngắn, thời gian nhanh thì mới giữ
đƣợc ngƣời đọc.
1.1.1.5. i chúng
Báo chí là phƣơng tiện thông tin đại chúng. Đối tƣợng của báo chí là tất
cả mọi ngƣời trong xã hội, không phụ thuộc vào ngành nghề, lứa tuổi, học vấn,
trình độ, nơi sinh sống… Vì thế, ngôn ngữ báo chí phải là ngôn ngữ dành cho
17
đại chúng, có tính chất phổ cập với tất cả mọi ngƣời. Nhà báo phải sử dụng các
từ ngữ toàn dân, tránh dùng từ địa phƣơng, hạn chế dùng các từ ngữ chuyên
ngành.
1.1.1.6. ng
Các tác phẩm báo chí bị giới hạn trong một khoảng thời gian hay một diện
tích trang báo nhất định. Hiện nay, các sự kiện diễn ra liên tục, thông tin nhiều;
nhu cầu đƣợc biết, đƣợc đọc, đƣợc nghe của công chúng tăng cao. Báo chí vừa
phải đƣa đƣợc nhiều thông tin đến công chúng, vừa đảm bảo các thông tin đó
vẫn đáp ứng đƣợc tính cụ thể, chi tiết. Tính định lƣợng của ngôn ngữ báo chí
cũng liên quan đến tâm lý ngƣời đọc, ngƣời nghe. Họ muốn đọc nhanh, hiểu
nhanh về sự kiện. Vì thế, nhà báo phải chọn lựa chi tiết, sắp xếp, tổ chức ngôn từ
hợp lý để bài báo nằm trong giới hạn thời gian, không gian cho phép mà vẫn đáp
ứng đầy đủ yêu cầu của độc giả, thính giả.
1.1.1.7. Tính bình giá
Không chỉ đƣa thông tin về các sự kiện, các tác phẩm báo chí còn thể hiện
quan điểm, suy nghĩ, cách đánh giá của ngƣời viết, của tòa soạn, của Đài phát
thanh, truyền hình. Mỗi tờ báo đều là “cơ quan ngôn luận” của một tổ chức nào
đó. Phóng viên của một tờ báo phải phản ánh sự kiện theo quan điểm của tổ
chức mà báo đó là “cơ quan ngôn luận”. Tính bình giá có thể đƣợc biểu hiện
ngôn ngữ nói của phát thanh làm cho quá trình giao tiếp sống động hơn, khoảng
cách giữa ngƣời phát đi thông tin (PV, BTV, PTV) và ngƣời nhận thông tin
(thính giả) gần nhau hơn. Điều này làm cho quá trình giao tiếp giữa nhà báo và
bạn nghe đài đạt hiệu quả cao hơn.
19
Đặc điểm này của ngôn ngữ phát thanh đặt ra yêu cầu đối với phóng viên
là phải viết dễ hiểu, viết nhƣ mình đang nói, vit cho tai nghe ch không phi
vit cho mt nhìn, vi nói ch không phi vi c [17, tr.44]
Th hai, ngôn ng phát thanh là ngôn ng c thoc bit
Ngôn ngữ phát thanh là ngôn ngữ của một ngƣời nói với hàng triệu ngƣời
nghe. Trừ một số thể loại nhƣ phỏng vấn, tọa đàm, ngôn ngữ có tính chất đối
thoại, có sự trao đổi giữa phóng viên và ngƣời đƣợc phỏng vấn, còn lại, trong
các thể loại phát thanh nhƣ phóng sự, bình luận, phản ánh, tin…, ta chỉ thấy âm
thanh, giọng nói của PTV, BTV, PV. Tuy vậy, bất cứ ngƣời nghe đài nào cũng
có cảm giác BTV, PTV, PV đang nói với mình. Điều này đòi hỏi PV, BTV phải
có sự lựa chọn, sử dụng ngôn từ sao cho ngƣời nghe cảm thấy phóng viên đang
trò chuyện với mình. Đó là tình huống giao tiếp “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”.
Th ba, ngôn ng phát thanh không có kh c minh ha bng
hình nh.
Trong cuộc trò chuyện, giao tiếp giữa PV, BTV, PTV và thính giả, các
yếu tố phi ngôn ngữ nhƣ: nét mặt, hình ảnh, cử chỉ, ánh mắt… đều bị triệt tiêu.
Phƣơng tiện biểu hiện thông tin duy nhất là âm thanh. Âm thanh bao gồm: ngôn
ngữ, giọng nói của BTV, PTV, PV; các băng tƣ liệu và âm nhạc. Trong các tác
phẩm phát thanh hay, các âm thanh này kết hợp nhuần nhuyễn, thống nhất, khắc
họa hình ảnh, giúp ngƣời nghe hình dung một cách rõ ràng nhất về sự việc.
Vì ngôn ngữ phát thanh không đƣợc minh họa bằng hình ảnh nên đòi hỏi
phóng viên phải sử dụng ngôn từ có sức gợi, có khả năng kích thích sự tò mò, sự
sáng tạo của ngƣời nghe; đòi hỏi phát thanh viên phải thể hiện tác phẩm bằng
một giọng lên bổng xuống trầm, nhấn nhá phù hợp, làm thế nào để ngƣời nghe
21
học hiện nay. Theo quan điểm này, Hồ Lê phát biểu: n là chnh th ca
mt sn phm vi dit trn vn mt ý kin v mt vn hoc mt h
thng v. Ngôn bn là chnh th ca mt sn phm dit trn
vn ý kin v mt v hoc h thng v (Dẫn theo [19, tr.30]).
Tác giả Cook (1989) định nghĩa n là mt chui ngôn ng lý gii
c mt hình thc, bên ngoài ng cnh, còn din ngôn là nhng chui ngôn
ng c nhn bit là trc hp nht li và có m [4, tr.200].
Ông phân biệt văn bản và diễn ngôn dựa trên sự đối lập giữa chức năng và hình
thức. Diễn ngôn tính đến ngữ cảnh, mục đích giao tiếp của ngƣời sử dụng ngôn
ngữ; còn văn bản chỉ là tính đến bề mặt câu chữ.
Theo Brown & Yule thì n là s th hin ngôn t ca mt hành
ng giao tiđồng thời n là s th hin ca din ngôn. Có thể hiểu,
diễn ngôn là một hành động giao tiếp, một sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh.
Nhƣ vậy, các tác giả hoặc coi văn bản là dạng viết của ngôn ngữ còn diễn
ngôn là dạng nói của ngôn ngữ, hoặc cho rằng, mỗi sản phẩm ngôn ngữ đều có
cái thuộc về văn bản và cái thuộc về diễn ngôn, hoặc tìm cách dung hợp hai cách
nhìn này.
Ở đây, chúng tôi theo quan niệm diễn ngôn không phải chỉ là một đoạn
hay một chuỗi câu mà là toàn bộ quá trình giao tiếp có mục đích, có quan hệ
chặt chẽ với các yếu tố dụng học, ngữ cảnh tình huống. Quá trình giao tiếp này
có thể đƣợc ghi nhận lại bằng văn bản. Chúng tôi chấp nhận khái niệm diễn
ngôn của tác giả Nguyễn Hòa: Diễn ngôn là s kin hay quá trình giao tip hoàn
chnh, thng nht có m i h c s dng trong các hoàn
cnh giao tip xã hi c th [19, tr.33].
Là một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh, thống nhất, diễn ngôn có tính chủ đề,
các chủ đề bộ phận trong diễn ngôn phải có mối liên hệ thống nhất và nhằm làm
22
Diễn ngôn tin bao giờ cũng có một nội dung, chủ đề nhất định. Đó là các
sự kiện có tính thời sự, hoặc một đặc tính, một nét mới của sự kiện, sự việc. Các
đoạn văn, các đoạn âm thanh trong diễn ngôn tin có mối liên hệ mật thiết với
nhau, cả trên phƣơng diện hình thức và nội dung. Về hình thức, chúng đƣợc liên
kết với nhau bằng các hình thức liên kết thông thƣờng trong tiếng Việt, nhƣ:
phép nối, phép thế, phép lặp… Về nội dung, chủ đề của các đoạn này đều nhằm
làm rõ, phát triển cho chủ đề chính của tin. Nó có thể đƣa ra các thông tin nền
của sự kiện, các bằng chứng mình họa cho sự kiện, nêu kết quả, hậu quả kéo
theo của sự kiện hoặc đƣa ra một đánh giá, bình luận của ngƣời khác về sự kiện.
1.3. Thể loại tin trên báo chí và bản tin thời sự trên Đài Tiếng nói
Việt Nam
1.3.1. Đặc trưng của thể loại tin
Tin tức là nền tảng của hoạt động báo chí. Tin là thể loại quan trọng bậc
nhất của báo chí. Công chúng quan tâm đến thông tin trên báo chí, trƣớc hết là
quan tâm đến tin. Một tờ báo, một đài phát thanh hay truyền hình ít tin sẽ không
thể đáp ứng nhu cầu của độc giả, của ngƣời nghe - ngƣời xem, sẽ bị coi là
“nghèo thông tin”. Vậy, điều gì tạo nên sự hấp dẫn của tin? Cái gì làm cho thể
loại tin khác với các thể loại báo chí khác?
Hiện nay có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn định nghĩa về tin. Báo chí
Mỹ quan niệm Tin là nht. Theo tác giả ngƣời Đức
Hans Benirschke, Tin là mt thông tin m trng hoi
vi nhing chi sng ca h hon là ch
gây hp dy h s thông cm. (Dẫn theo [29, tr.43]).
24
Tác giả Trần Quang cũng đƣa ra định nghĩa về thể loại tin trên báo chí:
Tin tc là mt thông báo khách quan v mt s kin thi s mà theo nhà báo thì
i cho công chúng, hoc gây s hc dit theo
mt quy cách nhnh [24, tr.43].
Nhà báo Đức Dũng thì cho rằng i t nhu cu ca cuc sng. Tin
phản ánh, phóng sự, bình luận…
Về hình thức, tin có dung lƣợng, độ dài ngắn hơn các thể loại báo chí
khác. Dung lƣợng ngắn cũng là yếu tố đảm bảo tính thời sự của tin. Ngôn ngữ
tin ngắn gọn, súc tích; từ ngữ dễ hiểu, mang tính đại chúng.
1.3.2. Bản tin phát thanh
Các chƣơng trình tin tức là “xƣơng sống” của chƣơng trình phát thanh
trong ngày. Các bản tin xuất hiện trên sóng phát thanh với mật độ dầy đặc. Các
bản tin này có dung lƣợng, độ dài, có nội dung khác nhau. Song, có thể thấy một
điểm chung là: Mức độ đề cập, dung lƣợng chi tiết trong một tin phát thanh
thƣờng có quy mô nhỏ hơn tin trên báo in. Độc giả báo in đọc tin vào sáng nay
và sáng mai, tức là 24 giờ sau mới tiếp tục theo dõi tin đó; nhƣng, với thính giả
phát thanh, họ có thể tiếp nhận thông tin vào mỗi đầu giờ, vào các bản tin dày
đặc trên radio. Tin phát thanh có thời lƣợng ngắn. Có ý kiến cho rằng, tin phát
thanh không nên dài quá 1 phút, kể cả tin có tiếng động.
Căn cứ vào tính chất của thông tin phát thanh, có thể phân chia các bản tin
thành:
- Bản tin tổng hợp
- Bản tin chuyên đề
- Bản tin đặc biệt
- Bản tin bất thƣờng
26
Bản tin tổng hợp thƣờng bao gồm những thông tin đa dạng về các sự kiện
vừa diễn ra, đang diễn ra hoặc sắp diễn ra. Đây là chƣơng trình phát thanh phổ
biến nhất, là mối quan tâm của số đông công chúng, vì nó giới thiệu với thính
giả một phạm vi tin tức rộng lớn trên thế giới và trong nƣớc.
Bản tin chuyên đề cung cấp thông tin trong từng lĩnh vực cụ thể, nhƣ:
kinh tế, tài chính, văn hóa, thể thao… Các bản tin này thu hút sự chú ý của
những ngƣời quan tâm đến các lĩnh vực ấy trong đời sống.
Bản tin đặc biệt đề cập đến những sự kiện lớn, nhƣ: các cuộc thi đấu thể
đƣợc phát sóng.
Tin tức liên tục đƣợc cập nhật đến ngƣời nghe đài thông qua các bản tin 5
phút đầu giờ (7 giờ, 8 giờ, 10 giờ, 11 giờ…). Các bản tin này ngắn, nhƣng xuất
hiện liên tục, cung cấp kịp thời cho ngƣời nghe diễn biến của các sự kiện đang
diễn ra.
Bản tin thời sự cuối ngày dài 10 phút, phát sóng vào lúc 23 giờ 50 phút,
khép lại chƣơng trình thời sự của một ngày. Các thông tin đƣa ra trong bản tin
cuối ngày này mang tính tổng kết, thông báo kết quả các sự kiện nhiều hơn là
đƣa diễn biến sự kiện nhƣ các bản tin 5 phút, 15 phút trong ngày.
Nhƣ vậy, các bản tin thời sự xuất hiện từ những phút đầu tiên của chƣơng
trình phát thanh trong ngày và cũng kết thúc chƣơng trình của Hệ Thời sự -
Chính trị - Tổng hợp (VOV1) của một ngày. Chƣa kể, các bản tin xuất hiện dày
đặc trong chƣơng trình của cả ngày. Điều này một lần nữa đã khẳng định, các
bản tin thời sự hay tin tức là “xƣơng sống” trong chƣơng trình phát thanh trên
Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay. Và, chính điều này đã tạo nên sự hấp dẫn, lôi
cuốn ngƣời nghe.