ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRỊNH MINH HẢI
Khảo sát nhóm động từ chỉ hướng vận động
trong tiếng Hán (so sánh với tiếng Việt) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
1
1
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 3
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3. Mục đích và nội dung nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 6
5. Bố cục của luận văn 7
CHƢƠNG 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
I. Lịch sử vấn đề 8
1. Tình hình nghiên cứu về động từ chỉ hướng trong tiếng Hán 8
2. Tình hình nghiên cứu về động từ chỉ hướng trong tiếng Việt 12
3. Động từ chỉ hướng nhìn từ góc độ ngôn ngữ tri nhận 18
CHƢƠNG 2: MIÊU TẢ CÁC ĐỘNG TỪ CHỈ HƢỚNG TIẾNG HÁN
VỚI VAI TRÒ LÀ ĐỘNG TỪ CHÍNH TRONG CÂU 23
2.1. Đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của động từ chỉ hướng 23
2.1.1. Nghĩa không gian 24
2.1.2. Nghĩa thời gian 41
2.1.3. Nghĩa trạng thái/kết quả 46
2.2. Đặc điểm kết hợp của động từ chỉ hướng 50
2.2.1. Kết hợp với danh từ 51
3.3.2. Là trạng ngữ 111
PHẦN BA: KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 123 3
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Có thể nói rằng nhận thức chung về hướng của các dân tộc trên thế giới
cơ bản là giống nhau. Trong ngôn ngữ của các nước đều có các từ chỉ hướng
của bầu trời và trái đất như Đông, Tây, Nam, Bắc, các từ ngữ biểu thị hướng
ở trạng thái tĩnh như: trên, dưới, trong, ngoài … cũng như các hướng di
chuyển chung trong không gian như ra, vào, lên, xuống, … Tuy nhiên, đi vào
những biểu hiện cụ thể liên quan đến các hoạt động di chuyển trong phạm vi
địa lý của mỗi dân tộc và mỗi khu vực, cũng như cách thức biểu thị hướng
cho các hoạt động di chuyển thì giữa các dân tộc lại có những cách nhìn nhận
và phản ánh khác nhau. Những nhân tố về địa lý, lịch sử, xã hội … có những
ảnh hưởng rất lớn và để lại những dấu ấn khá đậm trong cách sử dụng các từ
chỉ hướng của nhiều dân tộc. Tuy nhiên ngoài những tác động khách quan
của xã hội, bản thân các ngôn ngữ đều có những quy luật riêng trong việc tổ
chức các đơn vị để điều chỉnh cấu trúc nội bộ của mình và phản ánh tư duy
về hướng theo kiểu của dân tộc mình. Luận văn của chúng tôi tập trung vào
nghiên cứu việc sử dụng các động từ chuyển động có hướng, các cách thức
biểu hiện ý nghĩa hướng trong tiếng Hán so sánh với tiếng Việt để thấy được
những đặc thù riêng của mỗi dân tộc trong vấn đề này như thế nào.
Để định hướng trong không gian, các ngôn ngữ trên thế giới dùng rất
hành động như 来(lái)-đến,去(qù)-đi, 上(shàng)-lên, 下(xìa)-xuống,
进(jìn)-vào,出(chu)-ra, 回(húi)-về, 过(guò)-qua/sang, 起(qi)-
lên, 开(kai)-ra, 到 (dào)-đến, 上来(shàng lái), 上去(shàng qù),
下来(xià lái), 下去 (xià qù), 进来 (jìn lái), 进去 (jìn qù), 出来 (chu
lái),出去 (chu qù),回来 (húi lái),回去 (húi qù),过来 (guò lái),过去
(guò qù),起来 (qi lái),到…来 (dào lái),到…去 (dào qù), 来到 (lái 5
5
dào) trong tiếng Hán và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt như: ra,
vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, đi, đến, tới … mới là đối tượng nghiên
cứu. Trong tiếng Việt còn có rất nhiều từ đồng âm với những động từ chỉ
hướng trên nhưng không biểu thị hướng của hành động như “đi” trong ăn
đi , những từ này không nằm trong phần nghiên cứu của tôi. Với phạm vi
nghiên cứu của luận văn, tôi chỉ xin đề cập đến ý nghĩa gốc và ý nghĩa
chuyển dịch của các động từ này cũng như một số cách dùng cố định đặc thù.
3. Mục đích và nội dung nghiên cứu
Luận văn được thực hiện với mục đích khai thác tìm hiểu những động
từ chỉ hướng vận động, phân tích các mối quan hệ giữa các thành tố của kết
cấu để đi đến nhận xét chung. Từ đó tìm hiểu nghĩa của các động từ chỉ
hướng để thấy được những nét đặc trưng văn hoá, tư duy của người Trung
Quốc. Chúng tôi khai thác triệt để những khía cạnh ngữ nghĩa của động từ chỉ
hướng để sử dụng một cách hiệu quả trong giao tiếp, hiểu đúng và biết cách
dùng chính xác trong văn bản viết cũng như trong giao tiếp tiếng Việt, một
ngôn ngữ đang được nhiều người nước ngoài học và sử dụng.
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi tiến hành thống kê, tập hợp tư
liệu từ hai tác phẩm văn học của hai nhà văn nổi tiếng: AQ chính truyện của
Lỗ Tấn, Tường Lạc Đà của Lão Xá và bản dịch tiếng Việt của hai tác phẩm
này. Đây là hai tác phẩm được nhiều độc giả biết đến, đặc biệt là chúng được
AQ chính truyện của Lỗ Tấn, Tường Lạc Đà của Lão Xá và bản dịch tiếng
Việt. Ngoài ra luận văn cũng sử dụng một số tư liệu được lấy từ các giáo
trình, các sách ngữ pháp, từ những công trình nghiên cứu của các tác giả đi
trước ….
Từ hai tác phẩm tiếng Trung và hai bản dịch tiếng Việt nói trên, chúng
tôi đã tiến hành thống kê phân loại ra được 3700 phiếu. Mỗi phiếu là một câu
có chứa ít nhất một động từ chỉ hướng. Trong 3700 phiếu tư liệu, chúng tôi
lấy ra khoảng 330 phiếu điển hình để đưa vào luận văn. Hơn 330 phiếu này là 7
7
330 câu có những đặc điểm mà luận văn đã đề cập đến trong chương hai và
chương ba. Chúng tôi phân loại các câu này thành hai loại lớn như luận văn
đã khảo sát: Động từ chỉ hướng với vai trò là chính tố và phụ tố. Từ hai loại
trên, các động từ chỉ hướng này cũng được chia tiếp thành các loại nhỏ hơn
theo đúng như nội dung luận văn đã tiến hành phân loại khảo sát.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn được chia làm
ba chương chính như sau:
Chương 1: Lịch sử vấn đề và cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài.
Chương 2: Miêu tả các động từ chỉ hướng tiếng Hán với vai trò là động từ
chính trong câu (so sánh với tiếng Việt)
Chương 3: Miêu tả các động từ chỉ hướng tiếng Hán với vai trò là từ phụ
trong câu (so sánh với tiếng Việt)
(guò) - qua/sang, 起 (qi) - lên, 开 (kai) - ra, 到 (dào) - đến,
上来 (shànglái),上去 (shàng qù), 下来 (xià lái), 下去 (xià qù), 进来
(jìn lái), 进去 (jìn qù), 出来(chu lái),出去(chu qù),回来(húi
lái),回去 (húi qù),过来 (guò lái),过去 (guò qù),起来 (qi lái),到…来
(dào lái),到… 去 (dào qù), 来到 (lái dào) trong tiếng Hán là động từ chỉ
hướng, đồng thời coi chúng như một tiểu loại hay một loại phụ của động từ.
Động từ chỉ hướng là một từ loại khá đặc thù trong tiếng Hán vì thế nó gây
được nhiều sự chú ý của các nhà Hán ngữ học. Trong hệ thống từ loại tiếng
Hán từ chỉ hướng là loại động từ có tần số xuất hiện khá cao, ngoài những đặc
điểm cơ bản của động từ, chúng cũng có những cá tính riêng của mình, những 9
9
loại từ này số lượng có hạn. Theo các nghiên cứu của các học giả ngữ pháp
Hán ngữ như Lục Kiệm Minh [39], Lưu Nguyệt Hoa [37] và một số học giả
khác thì động từ chỉ hướng trong tiếng Hán có tổng cộng là 24 từ, đại thể
phân thành các nhóm sau:
- Nhóm 1: 来 (lái), 去 (qù).
- Nhóm 2: 上 (shàng),下 (xìa),进 (jìn),出 (chu),回 (húi),过
(guò),起 (qỉ),开 (kai),到 (dào).
- Nhóm 3: 上来 (shàng lái), 上去 (shàng qù), 下来 (xìa lái), 下去 (xià
qù), 进来 (jin lái), 进去 (jin qù), 出来 (chu lái), 出去 (chu qù), 回来
(húi lái),回去 (húi qù), 过来 (guò lái),过去 (guò qù), 起来 (qi lái).
Theo các nhà Hán ngữ học này thì động từ chỉ hướng trong tiếng Hán
là một loại từ đặc biệt, được sử dụng rộng rãi, ngữ pháp khá phức tạp. Có
động từ chỉ hướng đơn âm tiết như ở nhóm 1, nhóm 2; hoặc song âm tiết như
ở nhóm 3. Nhóm 3 bao gồm các từ được tạo thành từ sự kết hợp của nhóm 1
và nhóm 2.
Khi nghiên cứu về ý nghĩa của bổ ngữ chỉ hướng, rất nhiều học giả đều
trạng thái này.
Theo các nhà Hán ngữ học thì nghĩa của động từ chỉ hướng ở vị trí bổ
ngữ là vô cùng phức tạp, ngoài nghĩa cơ bản (nghĩa chỉ hướng) ra, đều là
nghĩa đã bị hư hoá từ nghĩa gốc, thậm chí mức độ chênh lệch khá nhiều, khó
mà nắm vững được. Bên cạnh đó, tiếng Hán thiếu sự biến hoá hình thái, sử
dụng cùng một hình thức để biểu thị ý nghĩa khác nhau, vì thế rất khó lấy tiêu
chuẩn hình thức đơn giản mà có hiệu quả để phân biệt ý nghĩa của những từ
này. Vì vậy, việc xuất hiện các ý kiến khác nhau trong nghiên cứu về ý nghĩa
của động từ chỉ hướng là điều khó tránh khỏi.
Cũng có nhà nghiên cứu đã phân ra động từ chỉ hướng ở vị trí bổ ngữ
có bổ ngữ chỉ hướng đơn và bổ ngữ chỉ hướng phức, trong đó bổ ngữ chỉ
hướng phức ngoài việc là các bổ ngữ chỉ phương hướng ra còn là các bổ ngữ