Cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
CẤU TRÚC GÂY KHIẾN - KẾT QUẢ
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC


LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS. TS. Hoàng Văn Vân
2. PGS. TS. Nguyễn Hồng Cổn
Hà Nội - 2010

III MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan………………………………………………………………… I
Lời cảm ơn ……………………………………………………………….…… II
Mục lục …………………………………………………………………….…III
Danh mục những chữ viết tắt ………………………………………… … VIII
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ………………………………….…………………… …1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………………….…… … 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án…………………………….….…… … 3

1.5. Tiểu kết ………………………………………………………………….40

Chương 2
KHẢO SÁT CẤU TRÚC GÂY KHIẾN - KẾT QUẢ
TRONG TIẾNG ANH
2.1. Đặc điểm chung của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh…42
2.1.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh . 42
2.1.1.1. Tác thể gây khiến ……………………………………………………43
2.1.1.2. Bị thể……………………………………………………………… 44
2.1.1.3. Tác động gây khiến ………………………………………………… 45
2.1.1.4. Kết quả gây khiến………………………………………………… 47
2.1.1.5. Mối quan hệ giữa tác động gây khiến và kết quả gây khiến ……… 49
2.1.2. Đăc điểm ngữ pháp của cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh 53
2.2. Các kiểu cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh ……… …….56
2.2.1. Cấu trúc gây khiến - kết quả hình thái học ……………………….… 56

V

2.2.1.1. Đặc trưng ngữ pháp của cấu trúc gây khiến - kết quả hình thái học 56
2.2.1.2. Đặc trưng ngữ nghĩa của cấu trúc gây khiến - kết quả hình thái học 58
2.2.2. Cấu trúc gây khiến - kết quả từ vựng tính……………………………. 63
2.2.2.1. Đặc trưng ngữ pháp của cấu trúc gây khiến - kết quả từ vựng tính …64
2.2.2.2. Đặc trưng ngữ nghĩa của cấu trúc gây khiến - kết quả từ vựng tính… 65
2.2.3. Cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp ……………………………… 79
2.2.3.1. Đặc trưng ngữ pháp của cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp …… 80
2.2.3.2. Đặc trưng ngữ nghĩa của cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp…… 86
2.2.3.3 Ý nghĩa của động từ make trong cấu trúc
gây khiến -kết quả cú pháp tiếng Anh …………………………… 103
2.3. Tiểu kết ……………………………………………………………… 109


Chương 4
PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU - CHUYỂN DỊCH CẤU TRÚC
GÂY KHIẾN - KẾT QUẢ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
4.1. Đối chiếu cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh
và tiếng Việt ………………………………………………………… 151
4.1.1. Những điểm tương đồng giữa cấu trúc gây khiến- kết quả
của tiếng Anh và tiếng Việt ………………………………………….152
4.1.1.1 Sự tương đồng về mặt ngữ nghĩa ………………………………… 152
4.1.1.2. Sự tương đồng về mặt ngữ pháp ………………………………… 159
4.1.2. Những nét khác biệt giữa cấu trúc gây khiến- kết quả
tiếng Anh và tiếng Việt ……………………………………………….160
4.1.2.1. Những khác biệt về mặt ngữ pháp của cấu trúc
gây khiến- kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt ………………… 161
4.1.2.2. Những điểm khác biệt về ngữ nghĩa của cấu trúc
gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt ……………… 172

VII

4.2. Khả năng chuyển dịch cấu trúc gây khiến - kết quả
giữa tiếng Anh và tiếng Việt …………………………………………177
4.2.1. Chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt…………………………….177
4.2.2. Chuyển dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh…………………………….181
4.2.3. Cách thức chuyển dịch về mặt cấu trúc……………………………….183
4.2.3.1. Tương đương về cấu trúc ………………………………………… 183
4.2.3.2. Không tương đương về cấu trúc…………………………………… 183
4.3. Một số đề xuất liên quan đến việc dạy, học và dịch cấu trúc
gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt ………………… 185
4.4. Tiểu kết ……………………………………………………………… 185
KẾT LUẬN………………………………………………………………… 187
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

inf
: infinitive verb (động từ nguyên dạng)

Tiếng Việt
D: danh từ
Dn: cụm danh từ
Đ: động từ
BN: bổ ngữ
PDF Merger
Thank you for evaluating AnyBizSoft PDF
Merger! To remove this page, please
register your program!
Go to Purchase Now>>
 Merge multiple PDF files into one
 Select page range of PDF to merge
 Select specific page(s) to merge
 Extract page(s) from different PDF
files and merge into one
AnyBizSoft
1 PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường xuyên phải sử dụng
ngôn ngữ theo nhiều cách khác nhau để diễn đạt những sự việc xảy ra có liên
quan với nhau theo quan hệ nhân quả. Chẳng hạn cùng một nội dung là người
thợ săn đã bắn chết con cáo chúng ta có thể có những cách diễn đạt sau:
(0.1a) Con cáo chết vì người thợ săn đã bắn nó.

(Tôi mở cửa.)
(0.4) I sent John to the drugstore.
(Tôi phái John đến cửa hàng dược phẩm (và John đã đến đó).)
Nội dung của tất cả những câu trên (0.2, 0.3 và 0.4) đều làm cho
người nói tin rằng đã xảy ra việc “John đi” và “cửa mở”, do tác động gây
khiến (làm cho, mở, phái) của chủ thể “tôi”; và hai sự kiện kết quả này chắc
chắn sẽ không xảy ra nếu trước đó “tôi” không tác động đến John và cái cửa.
Cấu trúc gây khiến - kết quả đã được chú ý từ lâu trong ngôn ngữ học
và gần đây đã trở thành chủ đề của nhiều cuộc tranh luận của nhiều nhà
nghiên cứu ngữ pháp. Sở dĩ như vậy bởi vì cấu trúc gây khiến - kết quả liên
quan đến nhiều vấn đề lý thuyết quan trọng của ngữ pháp nói chung và việc
phát triển những lý thuyết ngữ pháp mới nói riêng.
Một trong những vấn đề gây tranh luận hiện nay là cấu trúc gây khiến
- kết quả có tính phổ niệm hay loại hình. Một số tác giả khác (như Evans 1994)
cho rằng cấu trúc gây khiến - kết quả không phải là hiện tượng phổ niệm: có
những ngôn ngữ không có cấu trúc gây khiến - kết quả như tiếng Kayardild
(cf. Evans 1994), trái lại có những ngôn ngữ có nhiều cấu trúc gây khiến - kết
quả mà tiếng Anh là một ví dụ. Một số tác giả khác (chẳng hạn Song 2001)
cho rằng cấu trúc gây khiến - kết quả là hiện tượng có mặt trong hầu hết các
ngôn ngữ nhưng bên cạnh những đặc điểm chung về mặt ngữ nghĩa các cấu
trúc này lại có những điểm khác biệt nhất định về mặt ngữ pháp ở các ngôn
ngữ.
3

Để góp phần làm sáng tỏ thêm các đặc điểm loại hình và phổ niệm
của cấu trúc gây khiến - kết quả, chúng tôi chọn cấu trúc gây khiến - kết quả
trong tiếng Anh và tiếng Việt làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ. Dựa trên
việc phân tích đối chiếu ngữ liệu cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh
và tiếng Việt, luận án sẽ tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt của cấu
trúc này trong hai ngôn ngữ, khảo sát cách thức chuyển dịch cấu trúc gây

tiếng Anh và tiếng Việt luận án sẽ góp phần làm rõ hơn các đặc điểm phổ
niệm và loại hình của cấu trúc gây khiến - kết quả; chỉ ra những điểm tương
đồng và dị biệt trong tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó làm rõ sự khác biệt về
mặt loại hình giữa hai ngôn ngữ, gắn với hai nền văn hoá khác nhau và hai tập
quán sử dụng ngôn ngữ khác nhau. Kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ
đóng góp vào việc mô tả cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Việt nói
riêng và so sánh cấu trúc gây khiến - kết quả của tiếng Việt với các ngôn ngữ
khác nói chung về các mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Về thực tiễn, luận án sẽ góp phần giúp người dạy và học tiếng Anh và
tiếng Việt có cái nhìn đầy đủ và hệ thống hơn về cấu trúc gây khiến - kết quả
của hai ngôn ngữ Anh - Việt, nâng cao khả năng sử dụng kiểu cấu trúc này
trong hoạt động giảng dạy, học tập và giao tiếp, tránh được những lỗi do sự
khác biệt về đặc điểm loại hình ngôn ngữ. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của
luận án còn giúp cho những người làm công tác dịch thuật nắm được cách
thức chuyển dịch cấu trúc gây khiến - kết quả tránh được những lỗi thường
gặp khi dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là phương pháp mô tả và
so sánh đối chiếu.
5

Phương pháp mô tả được dùng chủ yếu để khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa
và ngữ pháp của các cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và tiếng
Việt. Cơ sở mô tả ở đây chính là các mối quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ cú
pháp của cấu trúc gây khiến - kết quả trong câu đơn tiếng Anh và tiếng Việt.
Các phương pháp mô tả chủ yếu được áp dụng để phân tích mô tả cấu trúc
ngữ nghĩa - ngữ pháp là các phương pháp phân tích vai nghĩa, phân tích thành
phần câu và các thủ pháp phân tích quen thuộc như cải biến, tỉnh lược, chêm
xen, v,v
Dựa trên kết quả mô tả, luận án sử dụng phương pháp phân tích đối

niệm của cấu trúc gây khiến - kết quả trong các ngôn ngữ. Luận án cũng đã
tìm hiểu cách thức chuyển dịch cấu trúc gây khiến - kết quả giữa hai ngôn
ngữ, từ đó đưa ra những gợi ý giúp người dùng tránh mắc lỗi sử dụng cấu trúc
gây khiến - kết quả khi học tiếng Anh và tiếng Việt như một ngoại ngữ.
8. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm bốn chương như sau:
Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết của luận án và tình hình nghiên cứu.
Cụ thể, luận án sẽ khảo sát khái niệm cấu trúc, gây khiến, gây khiến không có
kết quả, gây khiến có kết quả, phân biệt một số kiểu gây khiến - kết quả như
gây khiến - kết quả trực tiếp, gây khiến - kết quả gián tiếp, … một số quan
niệm về gây khiến - kết quả, định nghĩa và các tiêu chí nhận diện cấu trúc gây
khiến - kết quả; luận án cũng điểm qua quan niệm về cấu trúc gây khiến - kết
quả theo một vài cách tiếp cận khác nhau.
Chương 2 khảo sát cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh ở hai
bình diện kết học và nghĩa học; trong đó luận án tập trung vào nghiên cứu các
7

đặc điểm ngữ nghĩa, các thành tố nghĩa trong cấu trúc gây khiến - kết quả, và
những phương tiện thể hiện ý nghĩa gây khiến - kết quả trong tiếng Anh trên
các phương diện cú pháp, hình thái và từ vựng, và một số động từ có vai trò
quan trọng trong cấu trúc gây khiến - kết quả của tiếng Anh.
Chương 3 khảo sát cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Việt. Đi
theo cách tiếp cận của chương 2, chương 3 bắt đầu khảo sát cấu trúc gây
khiến - kết quả từ bình diện ngữ nghĩa: khái niệm gây khiến - kết quả; sau đó
chuyển sang khảo sát cấu trúc gây khiến - kết quả theo ba nội dung: cấu trúc
gây khiến - kết quả cú pháp, cấu trúc gây khiến - kết quả từ vựng tính, và một
số động từ có vai trò quan trọng trong cấu trúc gây khiến - kết quả ở tiếng
Việt.
Chương 4 thảo luận những nội dung chính được nghiên cứu ở chương 2

chứng minh rằng sự nhấn mạnh thái quá về loại gây khiến - kết quả hình thái
học đã góp phần vào việc chưa quan tâm đúng mức đến các loại gây khiến -
kết quả khác, đặc biệt là loại cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp trong các
ngôn ngữ trên thế giới. Dựa trên cơ sở dữ liệu của 613 ngôn ngữ ông đã đưa
ra một cách phân loại hình học khác trong đó có 3 loại cấu trúc gây khiến -
kết quả khác nhau là: loại COMPACT, loại AND và loại PURP (cụ thể hơn,
xem mục 1.1.4 dưới đây). Mặc dù nghiên cứu của ông chưa có sức thuyết
phục lớn nhưng công trình của ông cũng đã có đóng góp rất lớn cho việc
nghiên cứu cấu trúc gây khiến - kết quả.
Anna Wierzbicka, trong công trình “The Semantics of Grammar” cũng
đã dành gần 20 trang để viết về cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh
9

và so sánh cấu trúc này trong tiếng Anh với những ngôn ngữ khác như tiếng
Nhật, tiếng Hindi, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Nga.
William Frawly (1992) trong công trình “Linguistic Semantics” (Ngữ
nghĩa học) lại đi sâu về cấu trúc ngữ nghĩa quan hệ của cấu trúc gây khiến -
kết quả. Ông đưa ra cách nhìn lôgíc về cấu trúc gây khiến - kết quả giữa hai
sự kiện; hai đặc tính của gây khiến - kết quả - sự trực tiếp của nguyên nhân và
mức độ tham gia của các thành phần - có ảnh hưởng đến cấu trúc bề mặt của
cấu trúc gây khiến - kết quả; các thành phần trong một sự kiện gây khiến - kết
quả, mối quan hệ giữa các thành phần và sự giải mã của mối quan hệ này.
Trong công trình “Semantic Analysis. A Practical Introduction” (Phân
tích ngữ nghĩa. Dẫn luận thực hành) Goddard bàn về vai trò của từ because
(bởi vì) trong việc giải thích cấu trúc gây khiến - kết quả. Ông còn đưa ra
cách giải thích cho cấu trúc gây khiến - kết quả với những động từ make (làm),
have (bảo), break (vỡ/ làm vỡ), clean (lau) và kill (giết chết).
Rober D. Eagleson (1983) cũng nhắc đến các động từ gây khiến - kết
quả trong công trình“Grammar: its Nature and Terminology” (Ngữ pháp:
Bản chất và Thuật ngữ).

Hình 1. Cấu trúc ngữ nghĩa - từ vựng của killing, nghĩa của kill.
(Holmes, 1999)
Để hiểu đầy đủ hơn quan niệm của các nhà nghiên cứu về cấu trúc gây
khiến - kết quả trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Anh nói riêng,
dưới đây chúng tôi sẽ trình bày bốn hướng tiếp cận khác nhau của các tác giả:
(i) cách tiếp cận theo hướng lôgíc học, (ii) cách tiếp cận theo hướng ngữ
11

nghĩa, (iii) cách tiếp cận theo hướng chức năng, và (iv) cách tiếp cận theo
hướng loại hình.
1.1.1. Cách tiếp cận theo hướng lôgíc học
Cách tiếp cận cấu trúc gây khiến - kết quả theo hướng lôgíc có nguồn
gốc từ triết học. Nhiều nhà triết học đã cho rằng dù quan hệ nhân - quả là gì
thì nó cũng được hình thành từ tư duy của con người. Trong công trình
“Enquiries Concerning the Human Understanding” (Những nghiên cứu liên
quan đến sự hiểu biết của con người), Hume (1902 [1777]) đã khẳng định
rằng nguyên nhân và kết quả chỉ là những sự kiện mà chúng ta thấy là “luôn
luôn gắn kết với nhau”.
Trong công trình có nhan đề “System of Logic” (Hệ thống của lôgíc)
Mill (1960 [1843]) (chương 4) cố gắng giải thích quan hệ nhân - quả
(causation) tính theo “những chuỗi các sự kiện xảy ra đều đặn”. Ông lập luận
rằng để nói là A gây ra B thì chỉ nói là B xảy ra ngay sau A và tất cả những gì
tương tự như A luôn luôn được theo sau bởi những gì tương tự như B.
Từ quan điểm ngữ nghĩa học, những cố gắng để định nghĩa quan hệ
nhân - quả theo ‘những chuỗi các sự kiện xảy ra’ đều đi đến những vấn đề
phức tạp. Trước tiên, trong một số trường hợp B luôn luôn theo sau A mà
không do A gây ra; ví dụ như cái chết luôn theo sau sự ra đời nhưng thật vô lý
khi nói rằng sự ra đời gây ra cái chết. Thứ hai, một sự kiện nguyên nhân có
thể xảy ra cùng lúc với sự kiện kết quả; ví dụ một cái bút chì có thể chuyển
động vì tay người cầm bút đang chuyển động. Thứ ba, sự miêu tả của cả

khác về mối quan hệ nhân quả. Ông đưa ra một lược đồ cho “hệ thống ước
lượng cơ bản” mà ông gọi là “tính động” (force dynamics). Giả thuyết này
được coi như là “một sự khái quát quan niệm ngôn ngữ học truyền thống về
quan hệ nhân quả”. Hệ thống này được dựa trên những ý tưởng về một sự đối
lập giữa hai thực thể biểu lộ một lực nội tại. Một trong những thực thể này là
trung tâm - nội lực/bị thể (the Agonist). Đối lập với bị thể là yếu tố lực thứ hai
- kháng lực/ tác thể (the Antagonist). Vấn đề nổi bật trong bất cứ một chuỗi
lực nào là liệu bị thể sẽ bộc lộ hướng lực của nó hay sẽ bị lấn át bởi một
kháng lực mạnh hơn.
13

Từ quan điểm ký hiệu học, một sơ đồ không bao giờ đứng một mình;
nó luôn phụ thuộc vào một hệ thống những lời chú thích. Talmy miêu tả các
chuỗi động lực bằng những biểu đồ, những yếu tố cơ bản có thể được trình
bày qua 4 nội dung với những ký hiệu được quy ước như sau:
(i). những thể lực; trong đó thể hiện nội lực, thể hiện kháng
lực; (ii). hướng nội lực; trong đó > thể hiện hướng về phía hành động,  thể
hiện hướng về phía tĩnh; (iii). sự cân bằng của các lực; trong đó + thể hiện
thực thể mạnh hơn,  thể hiện thực thể yếu hơn; và (iv). kết quả của sự tương
tác lực; trong đó > thể hiện sự hoạt động,  thể hiện sự không
hoạt động.
Những dạng tính động cơ bản nhất không bao gồm sự thay đổi theo thời
gian có thể được trình bày trong những ví dụ được thể hiện qua các sơ đồ
dưới đây:
(1.1)
The ball kept rolling because of the wind blowing on it.
> (Quả bóng cứ lăn vì gió thổi vào nó (quả bóng).)
(1.2)
The shed kept standing despite the gale wind blowing against it.
(Nhà kho vẫn đứng im mặc dù một cơn gió mạnh đang thổi.)

The ball’s hitting it made the lamp topple from the table.
(Việc quả bóng chạm vào nó làm cho cái đèn đổ ra khỏi bàn.)

(1.6)
The water’s dripping on it made the fire die down.
(Việc nước nhỏ xuống ngọn lửa làm cho nó tắt.)

Sơ đồ 1.2. Những sơ đồ chỉ tính động phức tạp hơn
Sự chuyển đổi thời gian được chỉ ra theo sự quy ước của mũi tên cho sự thay
đổi của kháng lực vào phía trong hay ra khỏi sự tác động, và gạch chéo trên đường
kết quả phân chia trạng thái trước và sau của hành động.
Theo Talmy, những sơ đồ này là một sự chứng minh tuyệt vời về mặt ký
hiệu học, là một sự mô tả nhìn thấy được không thể tự nó truyền tải được một ý
nghĩa.
15

Thực tế, chính Talmy đã chứng minh quan điểm này khi ông giải thích
một cơ sở chung cho bốn kiểu tính động (1.2 a,d, ; 1.3 a,b) mà có thể xem như
“thiết lập nên các loại gây khiến - kết quả nói chung”.
Bốn loại (1.2 a,d; 1.3 a,b) có chung một đặc điểm mà tất cả các loại
khác không có; đó là trạng thái gây khiến hành động của nội lực là cái đối lập
của hướng hành động nội tại của nó.
Theo Cliff Goddard, quan niệm này về quan hệ nhân quả vẫn còn nhiều
vấn đề còn phải nghiên cứu tiếp. Trước tiên, định nghĩa được đưa ra phụ
thuộc vào thuật ngữ “resultant” (kết quả), mà nghĩa của từ này có lẽ đã bao
gồm cả khái niệm “because” (bởi vì). Thứ hai, toàn bộ hệ thống dựa vào một
khái niệm “force” (lực) mơ hồ về nghĩa; “force” là một khái niệm vật lý. ở
đây quan điểm của Talmy về “xu hướng nội tại” (intrinsic tendency) giống
với quan điểm siêu hình cũ mà tất cả những gì chuyển động hay tạo ra một tác
động thì đều đang biểu lộ một năng lực để làm như vậy.

Điều này chỉ ra rằng tác thể Harry đang có ảnh hưởng tích cực đến bị thể
Sam, và kết quả là Sam thực hiện hành động đi chỗ khác.
Nếu CS
u
được thay thế vào vị trí của CS
+
trong sơ đồ trên chúng ta sẽ
có “Harry đã thuyết phục Sam đi.”(Harry persuaded Sam to go away) vì trong
trường hợp này kết quả (Sam có đi hay không) vẫn chưa được thể hiện trong câu.
Cliff Goddard cho rằng hệ thống này của Jackendoff được trình bày
khá chi tiết. Tuy nhiên, nó cũng đã bị lãng quên như hệ thống của Talmy vì
nó khó hiểu và lòng vòng. Rõ ràng là thuật ngữ CS
+
khó hiểu hơn CAUSE mà
nó thay thế. Và điều quan trọng là chức năng CS được giải thích theo từ
“outcome” (kết quả), một thuật ngữ mà bản thân nó đã chứa nghĩa “because”
(bởi vì). Cliff Goddard cũng đưa ra kết luận là Talmy và Jackendoff đã không
thành công trong việc giải thích quan hệ nhân quả từ khía cạnh ngữ nghĩa học.
1.1.3. Cách tiếp cận theo hướng chức năng
Hệ thống ngữ pháp qua đó phương thức phản ánh được thể hiện là hệ
thống chuyển tác (transitivity). Hệ thống chuyển tác, theo Halliday (1994,
2004), phân thế giới kinh nghiệm thành một tập hợp các kiểu quá trình









AFF
SAM
AFF
AWAY
SAM
GO
HARRY
CS
,
,
,
,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status